Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
PHẦN HAI.
MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở VẬT NUÔI
Chương V.
MỘT SỐ BỆNH NỘI, NGOẠI KHOA THƯỜNG GẶP
Nội dung chính của chương 5:
Trong chương này giới thiệu các nội dung chính như sau:
-Các bệnh nội khoa thường gặp ở các đối tượng vật nuôi
-Nguyên nhân chính của bệnh
-Triệu chứng, bệnh lý của bệnh
-Các phương pháp phòng trừ bệnh
BỆNH TIÊU CHẢY
Tiêu chảy là một bệnh- (hội chứng) thường gặp đối với các đối tượng vật nuôi, nhất là đối
với gia súc non. Tiêu chảy bao gồm các hiện tượng bài tiết phân quá nhanh, phân lỏng và
nhiều lần trong một khoảng thời gian (ngày).
Nguyên nhân: ỉa chảy cấp tính do nhiễm khuẩn Shygella, Salmonella, E.coli do ngộ
độc các hóa chất, do độc tố động thực vật.
Do khí hậu thây đổi đột ngột, chuồng trại ẩm thấp.
Do con non không được bú sữa đầu.
Do thây đổi thức ăn đột ngột.
Về cơ chế ỉa chảy:
-Tăng cường nhu động ruột, làm cho phân đi quá nhanh từ ruột non đến ruột già, nên
phân không đủ thời gian để hút nước và cô đặc lại
-Các tuyến tiêu hóa tăng tiết: Do một số trường hợp bệnh lý mà lượng chất tiết vào
lòng ống tiêu hóa quá nhiều, mà ruột không thể tái hấp thu được. Ngược lại nếu giảm tiết thi
sẻ làm giảm việc cung cấp các enzym tiêu hóa.
-Thức ăn không được tiêu hóa hoàn toàn: thức ăn đi qua ruột quá nhanh không đủ
thời gian để các enzym tham gia phân giải.
-Do thức ăn thiếu chất xơ
Ở người, do ít vận động, chế độ ăn thịt, sữa nhiều ít rau, do rối loạn chức năng vùng hậu
môn- trực tràng: thí dụ thói quen nhịn đi ỉa khi buồn đi lâu ngày có thể đưa đến táo bón. Khối
u vùng xương chậu, các tổn thương sinh dục mãn tính.
* Điều trị
Trong chế độ ăn uống, cần chú ý bổ sung thêm nhiều thức ăn thô xơ. Bổ sung thêm thức ăn
có nhiều chất béo để tăng quá trình tiết mật, tăng hocmon gây nhu động ruột. Cho gia súc
uống nhiều nước.
Có thể dùng thuốc nhầy như : aga, các dẫn xuất của metylxenluloza, những chất làm trơn như
dầu parafin, những thuốc lợi mật như socbitol.
Nếu táo bón kèm theo viêm đại tràng (trực tràng) thì dừng nay các thuốc nhuận tràng, gây
kích thích niêm mạc ruột.
VIÊM DẠ DÀY
Nguyên nhân: Do thay đổi thức ăn đột ngột, thời tiết thay đổi, thức năn nhiễm nấm mốc.
Biến chứng một số bệnh truyền nhiễm khác như dịch tã, phó thương hàn, bệnh nhiễm giun
sán
Do quá trình điều trị kháng sinh lâu dài.
Các bệnh về miệng răng.
Thức ăn nhiểm cát bụi, thức ăn quá nóng quá lạnh,.
Rối loạn vận động ruột.
Thức ăn thiwus khoáng và vi tamin
Triệu chứng: Con vật lơ ăn nằm ủ rủ có những cơ đau bụng, con vật hay ngoái đầu về phía
bụng, con vật gầy sút nhanh. Phân không đống viên, nhảo có màu tối.
Trường hợp viêm cấp có thể số cao, con vật buồn nôn.
Điều trị:
Loại bỏ các nguyên nhân trên.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
62
tăng, dấu hiệu suy hô hấp nặng, con vật có thể chết nhanh do ngạt thở.
Phòng trị:
Thở oxy, nên để oxy chạy qua một lọ có thể tích cồn và một thể tích nước để chống bọt.
Tiêm Valim chống suy hô hấp.
Có thể dùng mcphin trong phù phổi cấp chống suy tim.
Dùng các thuốc lợi niệu, như furosemit.
Chích máu
Chống suy tim dùng izuprel trong dung dịch glucos
Dùng kháng sinh dự phòng viêm bội nhiễm như penicilin. Ampicilin, methixilin.
BỆNH VIÊM PHỔI
Là một bệnh rất thường gặp đối với các loại vật nuôi, nhất là đối với gia súc non đang theo
mẹ. Bệnh có thể chia làm 3 laọi: Viêm phổi thùy, viêm phế quản phổi và viêm phổi do các
nguyên nhân khác.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
63
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Viêm phổi thùy
Nguyên nhân:
-Do nhiễm các loại phế cầu khuẩn
-Thời tiết lạnh vào mùa đông, chuồng trại gia súc không được che chắn.
-Cơ thể suy nhược sau một thời gian bệnh nào đó
-Suy dinh dưỡng
Triệu chứng:
-Con vật run rẩy, sau đó sốt cao, niêm mạc mắt xuất huyết, con vật ho mạnh, ho từng
cơn có đờm và máu có màu rỉ sắt.
Khó thở thở nhanh. Niêm mạc mũi khô.
Điều trị:
Về mùa đông cần che chắn chuồng trại tránh gió lùa, nhất là đối với lợn con cần có
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
64
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
-Ngoài phổi, vi khuẩn di chuyển đi nơi khác gây apxe hoặc viêm mủ, viêm mủ màng
ngoài.
-Toàn thân: co vật lơ lăn ủ rủ sốt cao, suy nhược cơ thể.
Điều trị:
-Chống vi khuẩn, dùng kháng sinh liều cao như penicilin, gentamycin
thuốc trợ sức
- Chgia súc ăn uống đầy đủ nhiều chất dinh dưỡng, cho gia súc nằm hoặc đứng ở tư
thế đầu thấp. BỆNH THIẾU MÁU
Lá chứng bệnh trong đó số lượng hồng cầu giảm hoặc nồng độ hemoglobin máu ngoại biên
giảm.
Là một bệnh thường gặp ở gia súc non, nhất là lợn con từ khi sơ sinh đến 14 ngày tuổi.
Nguyên nhân:
-Mất máu, do chảy máu cấp tính, do cắt rốnmáu không đông, trâu bò húc nhau, trượt
ngx tạo vết thương chảy máu.
-Thiếu máu do hồng cầu bị phá hủy nhiều, do biến chứng của một số bệnh kí sinh
trùng, như bệnh kí sinh trùng đường máu, bệnh sán lá gan.
-Thiếu máu do thiếu một số nội chất cần thiết, như cung cấp thức ăn không đầy đủ, do
rối loạn tiêu hóa, đặc biệt là lợn con do thiếu sắt, B
12
, thiếu axit folic.
-Thiếu máu do rối loạn quá trình tạo hồng cầu, do các bệnh thiếu máu ác tính, do suy
thận mãn, phù viêm do nhiễm độc, bệnh về di truyền ở tủy xương.
Triệu chứng:
-Đối với lợn con thực hiện qui trình tiêm sắt sau khi sinh
-Bổ sung chất dinh dưỡng, cho lợn mẹ cũng như trong giai đoạn tập ăn cho lợn con.
-Nếu thiếu máu do các bệnh như, bệnh lepto, bệnh kí sinh trùng đường máu thì cần
tiến hành điều trị các bệnh đó.
-Thuốc dùng điều trị cho bệnh thiếu máu như: axit folic, Vitamin B
12
-Cần thiết phải truyền máu.
RỐI LOẠN NƯỚC VÀ ĐIỆN GIẢI
1. Khái niệm chung
Nhu cầu nước hàng ngày cho cơ thể là vô cùng quan trọng. Nếu thiếu nước sẻ xảy ra hàng
loặt phản ứng trì trệ, cơ thể bị trúng độc.
Nhu cầu nước hàng ngày tối thiểu đối với các loại vật nuôi khác nhau thì khác nhau, nó
không tỷ lệ thuận với khối lượng cơ thể. Lượng nước nhu cầu cho cơ thể tỷ lệ ngịch với diện
tích bề mặt trao đổi của cơ thể. Hay nói cách khác vật nuôi có khối lượng càng nhỏ thì nhu
cầu cung cấp nước càng cao hơn so với cơ thể (Tính trên một đơ vị kg trọng lượng hay đơn
vị bề mặt da cơ thể).
Nhu cầu nước hàng ngày cho cơ thể để giúp quá trình đào thải, như nước tiểu, mồ hôi và hô
hấp.
Nhu cầu trao đổi nước tong và ngoài tế bào, phụ thuộc vào lượng Na ngoài tế bào.
Điện giải:
Thành phần điện giải ngoài, trong màng tế bào
Cation MEq/L Anion MEq/L
Na
+
K
+
Ca
++
66
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Thành phần điện giải trong nước tiểu
Na niệu: Bình thượng lượng Na vào cơ thể bao nhiêu thì ra nước tiểu bấy nhiêu ( ở người
trưởng thành cơ thể hấp thu và thải trung bình 6g CLNa/24 giờ tương đương với 100mEq Na
Na niệu giảm khi thải dưới 50mEq)
2. Rối loạn nước, điện giải
2.1. Rối loạn nước các khu vực:
-Ngoài tế bào: mất nước thì protein,hematocrit tăng, ứ nước thì prtein giảm,
hematocrit giảm. Mất nước Na huyết tương tăng, ngược lại ứ nước Na huyết tương giảm.
Nếu protein, hematocrit huyết tương tăng có nghĩa là hội chứng phối hợp mất nước ngoài tế
bào và trong màng tế bào.
Mất nước ngoài tế bào: do mất nước song song trong trường hợp nôn, ỉa chảy, hôn mê, đái
tháo đường dẫn tới da nhăn nheo, độ đàn hồi của da kém, huyết áp hạ hematocrit
tăng,protein máu tăng.
-Tăng nước trong tế bào:
Do áp lực thẩm thấu của huyết tương. Do cơ thể thiếu muối, ứ nước khi cơ thể vô niệu, cơ
thể kém ăn gầy có cơ co giật.
-Mất nước toàn bộ:
Cả môi trường trong và ngoài màng tế bào bị mất nước. Trong trường hợp này gia súc gặp ở
những bệnh viêm mạn tính trong giai
đoạn cuối.
Hình 2. Bệnh phân trắng ở lợn con
Cơ thể con vật ủ rủ, nằm co quắp,
niêm mạc nhăn nheo, độ đàn hồi da
giảm ( ở người lên cơ sốt, ure máu
tăng, có triệu chứng thần kinh, đặc biệt
là khát nước, có thể phù ngoại biên,
trong máu prtein , hematocrit tăng.
2.2. Rối loạn điện giải:
Điều chỉnh khi có hạ điện giải:
_ Na, phải cung cấp nước tốt hơn hết là truyền dung dịch sinh lý được tính theo công
thức sua đây:
Trong máu lợn , bò (người lượng Na có 140mEq/L), nếu cơ thể đo được lượng Na là
120mEq/l thì lượng muối cần bổ sung là :
Na =(A-B) x P x 20/100
Na : là lượng mEq cần; A lượng mEq bình thường; B: lượng mEq hiện tại
P : trọng lượng cơ thể(kg). 20/100 là lượng nước ngoài tế bào cơ thể.
Trong dung dịch muối 9/
00
1 lít có khoảng 154 mEq Na
+
, thì lượng dung dịch sinh lý cần
truyền là: N = X/154.
K
+
, lượng K
+
bình thườngtrong cơ thể là 4,8mEq/L, tương tự như lượng Na thì số
luợng K
+
cần thiết cũng được tính theo công thức là:
K =(A-B) x P x 20/100
Đối với K định lượng nhiều khi không chính xác . Ví dụ, một khi có sự phá vở của tế bào K
thoát ra ngoài, định lượng ta thấy K sẻ tăng lên nhuưng thực chất đó là giảm K của cơ thể.
- Điều chỉnh điện giải khi tăng điện giải.
Trường hợp tăng điện giải ít gặp, song trong thực tế không phải là không gặp.
-Giảm đưa các chất điện giả vào chỉ truyền nước mà không có chất điện giải.
Trong thực tế thừa K là vô cùng nguy hiểm dể dẫn tới trụy tim mạch
Nguyên nhân:
Những điều kiện dể bị cảm nóng là:
-Khí hậu nhiệt đới ẩm ướt
-Không có gió
-Trời oi bức trước khi có cơn giông
-Trời nắng hạ ngr về chiều, trời nhiều mây, ít tia tử ngoại, và nhiều tia hồng ngoại.
-Gia súc làm việc ở cánh đồng mà suốt ngày đã bị hun nóng.
-Không đủ nước uống cho gia súc
Triệu chứng:
Triệu chứng xuất hiện mỗi lúc một nặng nếu không kịp can thiệp con vật sẻ bị chết:
-Vả mồ hôi nhiều, con vật quay cuồng như có triệu chứng nhức đầu khó chịu.
-Con vật nôn mửa
-Sốt cao, niêm mạc mắt mủi nhợt nhạt
-Dẩy dụa hôn mê
Can thiệp:
-Cho con vật vào chổ thoáng mát, nếu ở trong chuồng thì cho ra khỏi chuồng tơi nơi
có gió lùa, cho uống nước lạnh.
-Thực hiện các biện pháp như say nắng.
NGỘ ĐỘC CẤP
Là một trong những trạng thái bệnh thường gặp đối với các đối tượng vật nuôi. Nhất là hiện
nay chăn nuôi theo kiểu mô hình công nghiệp và bán công nghiệp, sử dụng thức ăn công
nghiệp không được bảo quản tốt. Thức ăn dể bị nấm móc. Ở nông thôn do sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật bừa bải, chai lọ không thu gom, nguồn nước nhiễm chất đọc do sau khi phun
thuốc người nông dân xuống kênh mương súc rữa bình bơm
Triệu chứng:
Triệu chứng điển hình của ngộ độc thuốc trừ sâu (bảo vệ thực vật):
-Con vật đau bụng, chân đá vào bụng, đầu ngoái lại phía bụng, nôn mữa tăng tiết
nước bọt,vã mồ hôi, nhịp tim chậm, đồng tử mắt co (hội chứng muscarin)
Hiện nay thú y người ta còn sử dụng phương pháp gây tê tủy sống.
Gây tê tủy sống, dung dịch Xylocain, novocain, procain
Một số biến chứng khi gây mê gây tê:
Khi con vật có thể ngừng thở trụy tim mạch, phải tiến hành hô hấp nhân tạo, có thể bóp oxy.
Trường hợp tụt huyết áp trụy tim mạch, nhanh chống truyền tỉnh mạch dung dịch ngọt ưu
trương, clorua canxi Có thể tiêm thêm ephedrin
Khi bị co thắt thanh quản cần tiêm atropin
Vết thương
Vết thương hay còn gọi là tổn thương cơ học hở. Là các tổn thương da niêm mạc, và có thể
sâu hơn vào tới các tổ chưc bên trong, gây đau đớn chảy máu và có thể rối loạn chức năng cơ
quan bộ phận.
Các dạng vết thương:
Phụ thuộc vào tính chất của vật gây vết thương, tính chất của vết thương mà mỗi một vết
thương có đặc điểm riêng của nó.
-Vết đâm
-Vết thương do cắt
-Vết thương do chặt
-Vết thương do xước
-Vết thương do móc
-Vết thương do cắn
-Vết thương do bỏng
-Vết thương do nọc độc
Các triệu chứng điển hình của vết thương:
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
70
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Mỗi một loại vết thương đều có những triệu chứng lâm sàng riêng biệt nhưng cũng có một số
triệu chứng lâm sàng chung.
- Đau: cảm giác đau đớn xuất hiện khi bị vết thương xuất hiện do các ngoại vật tác
động lên. Cảm giác đau sau đó dần dần được giảm. Hiện tượng viêm được tăng lên tại khu
cần vô trừng vết thương tốt.
ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG
Điều trị vết thương là việc làm không thể thiếu được của cán bộ thú y. Nhưng tùy theo từng
mức độ vết thương mà tiến hành điều trị. Điều trị nhằm mục đích vết thương chống lành, con
vật nhanh chống hồi phục. Điều trị vết thương vào pha I và pha hai có nhiều phương pháp
nhưng tóm lại có một số phương pháp sau:
-Phương pháp điều trị bệnh lý
-Điều trị vô trùng cơ học
-Phương pháp vô trùng vật lý
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
71
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
-Phương pháp vô trùng băng hóa học
- Phương pháp sinh học
Hoại tử và hoại thư
Hoại tử:
Hoại tử là chết cục bộ của một tổ chức mô cơ nào đó hay mộ cơ quan bộ phận, mất đi cức
năng của sự sóng. Hoại tử thường gặp ở nhiều dạng bệnh khác nhau, như: bỏng lạnh cước
chân, viêm mủ, vết thương, gảy xương
Khi tế bào bị toái hóa không có khả năng hồi phục trở lại người ta gọi là hoại tử.
Quảtình hoại tử thường xảy ra không đột ngột mà từ từ, phụ thuộc vào sự biến đổi sinh học
trong tổ chức mô bào, cơ quan bị hoại tử đó- quá trình này được gọi là quá trình sinh hoại tử
(Necrobiosis).
Trong một số điều kiện sinh lý hoại tử cũng thường xảy ra đó là sự chết của một số tế bào có
đời sống ngắn, được thay một tế bào đồng loại. Ví dụ như niêm mạc ruột, niêm mạc tử cung,
tế bào máu
Ngoài những trường hợp bệnh lý thường xẩy ra ở trên kết quả dẫn tới hoại tử đó là hoại tử
bệnh lý từ một số bệnh truyền nhiễm như bệnh sẩy thai do virut ở ngựa, bệnh dịch tả, bệnh
72
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Tiêm truyền dịch, có thể bổ sung thêm dung dịch điện giải, vi tamin nâng cao thể trạng cơ
thể, Tiêm kháng sinh Penicilin, cần thiết làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh thích hợp để
điều trị.
Trong y học, trước đây người ta có thể dùng huyết thanh chống hoại thư. Nhưng hiện nay ít
dùng vì có thể có tác dụng hiện tượng quá mẫn.
Bệnh lồng ruột
Là một bệnh thường gặp ở gia súc, trong tất cả các loại vật nuôi thường gặp nhất là ngựa.
Ở người thường gặp ở trẻ đang thời gian bú sữa từ 3-9 tháng
Lâm sàng:
Bình thường con vật đang ăn uống bổn lồng lộn lên nằm dảy dụa, các cơ đau bụng cứ cachs
nhau 10-15 phút.
Nôn mữa (Đối với ngựa không có phản xạ nôn mữa)
Ỉa ra máu
Nắn bụng có khối lồng
Xử trí:
Thông thường nếu phát hiện sớm có thể tháo thụt bằng nước nống,hoặc bằng hơi thường có
kết quả. Đối với những động vật quí hiếm như chó mèo có thể tiến hành mổ để đưa ruột lại ví
trí bình thường. Có trường hợp mổ không tháo được lồng ruột rất dể bị hoại tử.
SỐC
Sốc là trạng thái bệnh lý gây nên bởi lưu lượng máu tuần hoàn bị giảm kéo dài làm tổn
thương các cơ quan phủ tạng, sốc có thể gây chết.
Sốc gây thiếu oxy trầm trọng ở mô bào tổ chức, do rối loạn tuần hoàn trong các mao mạch,
co thắt cac cơ trơn trước và sau mao mạch, dẫn đến đông máu rải rác trong lồng mao mạch,
gây nên các tổn thương không hồi phục ở các cơ quan phủ tạng như gan, thận, ruột tụy,
Nguyên nhân:
lâm sàng
-Tiến hành điều trị liên tục không được ngắt quảng, điều trị khi nào hết cá dấu hiệu
của sốc
-Truyền dịch vào tỉnh mạch (dung dịch sinh lý)
*Điều trị sốc:
-Truyền dịch là việc làm đầu tiên khi phát hiện sốc, nếu không bắt mạch dịch tiêm
vào màng bụng trong trường hợp này không hiêuh quả, vì sốc đã rối loạn tuần hoàn mao
mạch, nên việc hấp thụ qua màng bụng là khó.
-Để chống hiện tượng toan hóa cần truyền thêm huyết thanh có pha thêm 14%
bicacbonatNa.
-Sử dụng các thuốc co giản mạch như Izoprenalin
-Không nên dùng Noradrelalin vào giai đoạn đầu vì các mạch đã bị co thắt.
-Chú ý dùng thuốc trên có thể gây vô niệu do vậy biệnpháp truyền dịch là bắt buộc.
-Dùng các thuốc Heparin, trong trường hợp nhồi máu cơ tim,Hemisucinat
hydrrcotizon;
-Trong sốc có nhiễm khuẩn Gram (-) nên có thể dùng kháng sinh Gentamycin +
cephalosprezin.
ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG DO HÓA CHẤT
Phốt pho trắng
Phôtpho trắng được sử dụng nhiều trong vủ khí, như lựu đạn, bom mìn,đạn cối
Nước ta trải qua một cuộc chiến tranh dài. Chiến tranh kết thúc đã hơn 30 năm song hậu quả
của nó còn để lại nguy hiểm khôn lường. Nguy hiểm đó không những nguy hại đến tính
mạng con người, mà còn ảnh hưởng tới các đối tượng vật nuoi khi chăn dắt trên đồng cỏ bải
chăn. Nhất là địa bàn các tỉnh Trung bộ, như Quảng Trị, Đà nẳng, Quảng Nam, Quảng
Ngải
Những vết thương mảnh đạn gây nên do sức phá, do mảnh đạn do photpho gặp khí trời tiếp
tục cháy làm cho vết thương càng nặng nề hơn.
Các loại axit photphoric ngấm vào cơ thể làm hủy hoại tế bào gan (liều gây tử vong đối với
như điều trị bỏng. Nhưng cần phải khâu liền
các vết bị bỏng.
-Hơi độc kích thích phổi: Khi hít
phải hơi độc gây viêm khí quản khí quản,và
viêm phổi. Như hơi độc, Phophogen. Điều
trị hơi độc này ngay lập tức ngăn không cho
con vật tiếp xúc tiếp với khí độc, đưa ra nơi
thoáng mát, nhanh chống cho thở oxy, và
tiêm kháng sinh để điều trị viêm nhiễm.
Hơi độc làm suy nhược:
Có nhiều loại hơ độc không làm cho con vật
và người chết nhưng gây suy nhược cơ tthể,
nhất là tê liệt, co cứng, hạ huyết áp, có các triệu chứng thần kinh. rối loạn thị giác Như :
amoniac, khí sunphua, khí cácbonic
Hình 3. Bệnh thiếu kẽm
Tất cả các loại khí này đề làm cho huyết áp giảm do vậy, cách điều trị đầu tiên dùng các
thuốc nâng huyết áp, thuốc an thần.
TRÀN MÁU KHỚP
Tràn máu khớp là một hiện tượng thường gặp ở trâu bò, chó mèo. Các khớp động như vai,
chân. Các mặt khớp kẹt vào với nhau, khó tắch ra, nên không xảy ra tràn máu khớp đơn
thuần mà thường gặp tràn máu khớp là do gảy xương thấu khớp, bong gân nặng.
Triệu chứng:
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
75
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
-Khớp bị sưng to toàn bộ, các đường kẻ khớp phẳng đi không nhìn thấy nữa.
-Ở khớp khuỷu chân sau, thấy dấu hiệu rõ là tiếng chạm xương, chứng tỏ trong khớp
có chất dịch, và ở đây do chấn thương nên tràn máu khớp
-Trên hướng đi của dây chằng
Đau mạnh khi ta kéo dây căng dây chằng (ví dụ nghi bong gân ở cổ chân, ta cầm chân con
vật xoay cổ chân vào trong hoạc ngoài để kéo căng dây chằng) sẻ phát hiện thấy con vật đau
dử dội.
-Trường hợp bong gân nhẹ ta thấy: đau ít, sưng chung quanh khớp và cơ năng của
khớp không bị hạn chế.
-Nếu trường hợp bong gân nặng, ta thấy: đau nhiều,chung quanh khớp sưng rất nặng
nhanh, sưng to vì thường có máu tràn trong khớp. Cơ năng giảm nhiều. Và ta thử cử động
khớp thì con vật không có khả năng, chân đó giơ cao không để xuống đất mạnh. Điều này
chứng tỏ dây chằng bị đứt, khớp không vữn nữa.
Điều trị:
*Bong gân nhẹ
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
76
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
-Không cần cố định vì khớp vẫn vững. Cần ngâm vùng đau vào nước ấm ngày 2-3
lần.
-Cho tập vận động hnẹ để máu lưu thông, tránh rối loạn dinh dưỡng. Bông gân nhẹ ở
cổ chân có thể cho bó bột
*Bong gân nặng
-Phong bế Novocain vào dây chằng
-Cố định khớp
-Bó bột và cố định hạn chế đén mức tối đa con vật đi lại, tốt hơn hết cho con vật nằm
tư thế thoải mái.
-Nếu sau 2 tuần tháo bột mà khớp vẫn không vững thì cần phải phẩu thuật mổ khớp
để khâu lại dây chằng.
Hiện nay trong thực tế có nhiều trường hợp thường gặp là bong gân mạn tính, thường do lúc
đầu chẩn đoán không chính xác, điều trị không kịp thời nên rối loạn dinh dưỡng khớp dẫn tới
teo gân cơ, nề xương mất hết chất vôi.
Trong trường hợp này cần phong bế novocain khi nhiệt độ vùng khớp tăng, nếu đau ít thì có
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Với các bệnh tích khi mổ khám:
- Hạch lâm ba xuất huyết hoặc phù nề
- Biến đổi hoặc thoái hóa cơ quan nhu mô như
gan, tim và thận.
- Nghẻn mạch xuất huyết lấm chấm ở thận, bề
mặt tim, màng niêm mạc và huyết tương, mô liên
kết.
- Lách sưng to, thiếu máu do chức năng của tủy
xương bị rối loạn.
Abscess là sự tập trung mủ tại một chỗ, tách biệt
với các tổ chức xung quanh bằng một vỏ cấu tạo
sợi.
Các vi khuẩn thường bắt gặp trong ổ Abscess ở
gan là xạ khuẩn gây mủ Actinomyces pyogenes,
liên cầu khuẩn Streptococcus spp, tụ cầu khuẩn
Staphylococcus spp
Cần phân biệt các ổ áp xe cũ và ổ áp xe trong giai đoạn đang phát triển. Ổ cũ đã bị canxi hóa
hoặc đã hồi phục.
Ở gia súc các vị trí thường gặp là tử cung sau khi đẻ, dây rốn hoặc hệ thống võng mạch trong
bệnh viêm màng bụng và viêm dạ tổ ong.
Gầy mòn (Emaciation)
Gầy mòn là tình trạng thường thấy đặc trứng ở vật nuôi. Gầy được đặc trưng bởi việc mất lấp
mỡ và giảm lượng thịt do giảm ăn, bị đói và bệnh suy mòn (cahexia) và là kết quả của một số
bệnh khác ở dạng mãn tính.
Các dấu hiệu gầy ta có thể thấy rõ như sau:
- Da nhăn váng khô
- Lông thô và cứng
- Xương nhô ra và hai mắt trũng sâu.
ngoài theo phản xạ ợ hơi. một khi lượng khí sinh ra quá lớn được tích lại ở phần trên của dạ
cỏ, làm căng thành dạ cỏ. Áp suất trong dạ cỏ tăng lên rất mạnh, chèn ép các cơ quan khác ở
xoang ngực, nhất là hoạt động của tim, phổi và ức chế luôn quá trình nhu động của ruột.
Bệnh tiến triển một cách nhanh chóng ở thể quá cấp tính.
Triệu chứng lâm sàng:
Con vật bồn chồn bỏ ăn, đuôi cong đầu nhìn về phía bụng. Chân cào mạnh xuống đất và
bụng. Nhịp thở nhanh 60 - 80 lần/phút. Niêm mạc xanh tím. Nhịp tim tăng, động tác nhai lại
mất hẳn, nhu động các dạ như lá sách tổ ong và dạ múi khế bị liệt.
Hong trái căng tròn, dùng tay ấn vào rất khó. Con vật nằm đi phân và tiểu tiện.
Chẩn đoán:
Điều tra tiền sử về thức ăn, triệu chứng lâm sàng điển hình là hong cang gõ vào kêu như
tiếng trống.
Tiên lượng tốt nếu chẩn đoán sớm và có biện pháp can thiệp kịp thời.
Điều trị:
- Cần phải nhanh chống đưa lượng khí ở dạ cỏ ra ngoài, chườm lạnh ở hong trái.
- Cần tiến hành chọc trocal.
- Cho gia súc uống các chất để trung hòa lượng khí: như 2-3 lít sữa tươi, cho uống than hoạt
tính, sikaden, antiformol tiêm thuốc trợ tim.
Phòng bệnh: chú ý thức ăn ủ chua của trâu bò.
Sáng sớm không nên đưa bò ra bãi chăn sớm.
BỘI THỰC DẠ CỎ - PARESIS RUMINIS AD INGESTIS
Thức chứa trong dạ cỏ quá mức, hay là dẫn tới việc liệt dạ cỏ.
Nguyên nhân do trâu bò ăn phải một lượng khá lớn thức ăn giàu chất dinh dưỡng, bột ngũ
cốc, ngô, mạch cám
Bệnh lý và triệu chứng lâm sàng:
Gia súc ăn phải một lượng lớn thức ăn khó tiêu, dẫn tới căng thành dạ cỏ, nhu động cả dạ cỏ
BENH NGỘ ĐOC AFLATOXIN
1. Triệu chứng: Thời gian phát bệnh sau khi dùng thức ăn có Aflatoxin tối thiểu 6 tuan. Lợn
biểu hiện đau bụng nôn mửa và ỉa chảy
3. Bệnh do nấm gây ra
3. Bệnh tích: Da và niêm mạc vàng, gan sưng to và nhợt nhạt, thận sưng. Xoang bụng tích
nước và phù ở màng treo ruột
4 Phòng trị: Bảo quản tốt thức ăn, loại bỏ thức ăn bị mốc. Giải độc bằng Glucoza cho uống
hay tiêm, chích Canxi Gluconat 10% BỆNH KHÓ TIÊU ĐỐI VỚI GIA SÚC NON
Là một bệnh câp s tính thường xảy ra đối với gia súc non, biểu hiện rối loạn đường têu hóa,
rối loạn trao đổi chất. Bệnh thường gặp ở bê nghé, lợn con ít gặp ở dê, cừu con.
Nguyên nhân bệnh:
- Thức ăn con mẹ trong thời kỳ mang thai không đảm bảo chất lượng, nhất là thời kỳ chữa
cuối.
Đối với bò sữa trong thời kỳ chữa cho ăn thức ăn ủ chua không đảm bảo. Với lợn cho ăn bột
kém phẩm chất.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
80
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Không cho gia súc non bú sữa đầu đúng thời gian.
Khí hậu thời tiết thay đổi, nóng lạnh thay đổi đột ngột.
Bệnh lý và các triệu chứng lâm sàng
Rối loạn về dinh dưỡng đối với gia súc non, chủ yếu tập trung vào giai đoạn bú sữa đầu. Từ
đó gây nên những rôố loạn cơ bản, như rối loạn nhu động ruột, một khi điều kiện khí hậu
thay đổi đột ngột. Và cũng chính đó thay đổi sự cân bằng và phát triển bất bình thường của
dưỡng. Cần thiết kiểm tra vi sinh vật để cho kết quả chắc chắn hơn.
Điều trị:
Nhanh chóng khôi phục lại các chức năng sinh lý của con vật. Biện pháp điều trị cần phải
tiến hành đồng bộ. Điều trị bệnh sử dụng các loại hóa được ngăn chặn căn bệnh và điều trị
theo triệu chứng lâm sàng.
Cho gia súc nhịn đối 6-12 giờ (tách mẹ không cho bú). Nhưng nhất thiết phải bổ sung cho
con dung dịch muối sinh lý. Có thể tiêm dưới da dung dịch Ringer.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
81
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Thành phần dung dịch Ringer
Các chất Số lượng các chất trong dung
dịch 1
Số lượng các chất trong
dung dịch 2
Nước cất (ml) 1000 1000
ChloruaNa (g) NaCl
NaHCO
3
(g)
8,5 8,5
CaCl
2
(g) 12 13
KCl (g) - -
Glucoz (g) - -
Coffeinbenzoit Na (g) 0,2 50
82
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Cho gia súc non bú sữa đầu đúng lúc, và vệ sinh bầu vú.
Mùa đông nên cho gia súc uống nước sạch ấm.
BỆNH VIÊM DẠ DÀY RUỘT GIA SÚC NON
Bệnh viêm dạ dày ruột đối với gia súc non là một trong những bệnh thường gặp làm cho gia
súc non chậm lớn và tỷ lệ tử vong cao.
Quá trình viêm không những xảy ra ở màng niêm mạc, mà còn ảnh hưởng sâu vào thành dạ
dày và ruột non. Viêm xảy ra ở thể cất, xuất huyết, làm cho con vật ỉa chảy nặng. Bệnh gặp ở
gia súc non vào giai đoạn tập ăn.
Nguyên nhân bệnh:
- Thức ăn khô gây khát nước nhiều
- Trong thời kỳ bú sữa lượng sữa mẹ cung cấp thiếu.
- Gia súc mẹ bị bệnh viêm vú.
- Máng ăn uống nhiễm bẩn.
- Kế phát của bệnh khó tiêu, bệnh khó tiêu không được điều trị kịp thời.
Quá trình bệnh lý và triệu chứng lâm sàng
Màng niêm mạc ruột bị tấn công bởi các chất độc tố, do sản phẩm của quá trình tiêu hóa và
bị rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột. Từ đó dẫn tới rối loạn quá trình tiết các chất dịch tiêu
hóa, rối loạn nhu động ruột, dẫn tới rối loạn quá trình tiêu hóa và quá trình viêm xảy ra.
Các độc tố sinh ra vào máu đến một số cơ quan khác gây các biến chứng nặng. Như rối loạn
tiết mật, rối loạn tiết của tuyến tụy, rối loạn tuần hoàn và có các dấu hiệu của triệu chứng
thần kinh.
Triệu chứng lâm sàng
Bệnh tiến triển ở thể cấp và thể mãn tính
CHỨNG VIÊM
Định nghĩa:
Thuật ngữ viêm đã có từ lâu trong y học và thú y, nó biểu thị cho một bệnh bất kỳ nào đó,
với sự tăng nhiệt độ cục bộ.
Viêm là một phản ứng tổ chức hệ mạch của cơ thể vô cùng phức tạp, trả lời lại các kích thích
của các tác nhân gây bệnh, biểu hiện sự thay đổi trao đổi chất cục bộ, thể hiện sự teo của tổ
chức (Alteration), hoặc là sự tăng sinh của tổ chức (prolyferation), cùng với sự rối loạn tuần
hoàn máu cục bộ (Ecsudation and emicration)
hiện tượng viêm thường gặp rất phổ biến ở các bệnh khác nhau. Và được coi như một quá
trình bệnh lý, rối loạn về cấu trúc và chức năng của mô bào tổ chức.
Nguyên nhân của viêm:
Có nhiều nguyên nhân dẫn tơi viêm, như động tác cơ học, lý học, hóa học, sinh vật học. quá
trình của phản ứng viêm phụ thuộc vào vị trí tác động của nguyên nhân, cường độ tác động,
và cuối cùng phụ thuộc vào sức đề kháng của tổ chức mô bào của cơ thể.
Triệu chứng của viêm:
Có bốn triệu chứng điển hình đó là: Sưng, nóng đỏ đau.
Quá trình trao đổi chất ở khu vực viêm:
Trung tâm ổ viêm có sự tổn thương của tổ chức, cường độ trao đổi chất giảm, quá trình yếm
khí phân giải gluco tăng do vậy hàm lượng axit lactic tạo ra tăng. Quá trình oxy hóa không
hoàn toàn nên tạo ra một loạt các sản phẩm trung gian có hại cho mô bào tổ chức. sự cung
cấp oxy cho mô bào giảm CO
2
tăng, hệ số hô hấp thấp.
Lipít, protein phân hủy không hoàn toàn nên tạo ra một lượng lượng lớn thể keton, albumoz,
pepton Tất cả các sản phẩm đó gây nên ở khu vực viêm acidoz (H-hyperion), pH giảm tới
thượng bì ở lưỡi bị loét ra, giảm cân,
chậm lớn
3. Bệnh tích: Trên mặt da bị tróc vẩy,
xù si, da cứng khô. Bệnh có ảnh
hưởng tới tới dịch hoàn và sinh sản
của buồng trứng
4. Phòng trị: Bổ sung Premix Vitamin
và khoáng trong khẩu phần 0.2-
0.3g/kg thể trọng. Dùng Vitacancium
trong có chứa kẽm vi lượng
5g/con/ngày trong 1 tuần
BỆNH THIẾU SẮT
1. Bệnh do thiếu Sắt
2. Triệu trứng: Sốt cao, bỏ ăn, ỉa chảy
hay táo bón. Mắt đỏ, có dử. Mõm, vành
tai, vùng bụng và chân có đốm xuất
huyết hay tím bầm
3. Bệnh tích: Lấm tấm xuất huyết
ngoài da, ở thận, bàng quang và hạch
lâm ba
4. Phòng trị: Tiêm vaccine dịch tả định
kỳ cho lợn. Kịp thời loại thải lợn mắc bệnh và tiêu độc bằng nớc vôi 20%, Crezil 2% Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
85