Một số loại bệnh ký sinh trùng thường gặp ở vật nuôi - Pdf 13

Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Chương VI.
MỘT SỐ BỆNH KÍ SINH TRÙNG

Nội dung chính của chương:
Trong chương này bao gồm những nội dung chính sau:
- Giới thiệu một số bệnh thường gặp ở vật nuôi do các loài giun sán gây nên
-Giới thiệu một số bệnh thường gặp ở vật nuôi do các loài nguyên sinh động vật gây
nên
-Giới thiệu một số bệnh thường gặp ở vật nuôi do ngành chân đốt sán gây nên
-Nắm rõ vòng đời phát triển của từng loại bệnh (kí chủ cuối cùng, ký chủ trung gian,
ký chủ bổ sung).
-Con đường lây truyền bệnh
-Các triệu chứng của bệnh
-Biện pháp phòng trị bệnh

I. CÁC BỆNH VỀ SÁN LÁ

BỆNH SÁN LÁ GAN - FASCIOLOSIS

Bệnh sán lá gan là một bệnh ký sinh trùng thường gặp ở loài nhai lại, do Fasciola hepatica và
Fasciola gigantica thuộc họ Fasciolidae gây ra. Đây là bệnh phổ biến thường gặp ở dê cừu,
trâu bò, thỉnh thoảng gặp ở lợn, ngựa hươu, nai, đôi khi còn gặp ở người.
Sán lá trưởng thành ký sinh ở trong gan trong ống dẫn mật, đôi khi còn gặp ở phổi, tim. Sán
trưởng thành đẻ trứng, xuống ruột theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi như nhiệt độ
ánh sáng, trứng nở thành ấu trùng (Miracidium), sau 40 giờ bơi lội trong nước, gặp ký chủ
trung gian (ốc nước ngọt). Vào cơ thể ốc chúng phát triển thành mao ấu (Sporocis), sau 35 -
40 ngày mao ấu phát triển thành lôi ấu (Redia), rồi phát triển thành cercaria. Cercaria thành
thục ra khỏi miệng ốc ra ngoài, bơi lội bám vào cây cỏ thủy sinh, đứt đuôi và tiết ra một chất
dịch tạo màng cứng phát triển thành Adolescaria. Hoàn thành vòng đời từ trứng tới
Adolescaria mất khoảng thời gian từ 35 - 36 ngày.

Chẩn đoán:
Dựa vào triệu chứng lâm sàng không được chính xác. Mà cần chẩn đoán theo phương pháp
của bệnh ký sinh trùng. Theo dõi phân gia súc tìm trứng sán, bằng phương pháp gạn rữa
nhiều lần.

Điều trị và phòng bệnh:
Từ trước tới nay bệnh sán lá gan đã được điều trị bằng nhiều loại thuốc, như
tetracloruacacbon, Dectil-B, Fasciolin filixan, Hextol Hiện nay nhiều công ty thuốc thú y
đã cho sản xuất nhiều loại thuốc tẩy sán lá gan với nhiều tên thương phẩm khác nhau, nhưng
chúng đều có kết quả tốt. Đối với gia súc gầy yếu thì dùng thuốc chia làm hai lần của một
liều. Gia súc mang thai tẩy sán lá gan thường có những biến chứng bất lợi. Trong công tác
tẩy sán lá gan cần bổ sung vitamin, tăng cường thức ăn.
Phòng ngừa:
Định kỳ tẩy sán là biện pháp phòng ngừa thích hợp nhất. Nó nhằm ngăn chặn sự xuất hiện
các triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan, giảm mức độ cảm nhiễm sán, giảm số lượng
trứng sán ra môi trường bên ngoài.
Các biện pháp phòng bệnh cần được tiến hành như sau:
- Ủ phân theo phương pháp sinh học
- Xử lý các cơ quan nội tạng có nhiễm sán.
- Diệt ốc ký chủ trung gian.
- Phương pháp vật lý là đấu tranh có hiệu quả là cải tạo đất ở, nơi nước trủng và bãi cỏ, tháo
nước cho ốc chết.
- Biện pháp sinh vật học - nhiều cơ sở người ta dùng ngan, vịt ngỗng để diệt ốc. Hiện nay
nhiều tác giả còn đề nghị dùng côn trùng để diệt ốc.
Giữ cho gia súc không bị nhiễm bởi nang ấu. Vấn đề này người ta khuyến cáo nên cho gia
súc uống nước sạch sẽ, khi chăn thả không nên chăn ở những nơi ẩm thấp. Cắt cỏ ở những
nơi có nước nên cắt cao, và phơi khô trước khi cho gia súc ăn.


Đặc điểm dịch tễ.
Bệnh sán lá phân bố rộng rãi khắp nước ta, tỷ lệ
nhiễm sán ở vùng núi thấp hơn đồng bằng. Ở
những nơi cho lợn ăn rong bèo ở dưới nước,
không áp dụng các tiến bộ kỹ thuật để phòng bệnh thì tỷ lệ nhiễm lên tới 95%.

Sán lá ruột
Bệnh sán lá ruột lợn tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi lợn. Lợn con chưa cai sữa thì không
cảm nhiễm bệnh. Lợn ngoại tỷ lệ cảm nhiễm cao hơn so với giống lợn nội.

Cơ chế bệnh và triệu chứng bệnh
Tác dụng gây bệnh của sán lá ruột lợn đối với gia súc yếu hơn so với người.
Tác dụng chủ yếu là sán dùng giác bám bám vào thành ruột, gây viêm loét, rối loạn tiêu hóa.
Mặt khác sán tiết ra chất độc làm cho lợn gầy ốm yếu, sức đề kháng giảm.
Khi lợn mắc bệnh thường thấy ăn uống kém, chậm lớn xù lông, nhọn đít, ỉa chảy

Chẩn đoán bệnh:
Dựa vào dịch tễ, nhưng tốt nhất là sử dụng phương pháp soi phân tìm trứng (bằng phương
pháp dội rữa nhiều lần).

Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
94
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản

Điều trị và phòng bệnh
Dùng các thuốc tẩy sán.
Biện pháp phòng bệnh cho lợn là hiệu quả nhất. Ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học,
diệt ký chủ trung gian bằng mọi cách.


triển thành mao ấu rồi lôi ấu và cuối cùng trở thành vĩ ấu.
Vĩ ấu rời khỏi ốc và vào ấu trùng của chuồn chuồnphát triển thành nang ấu, chúng cư trú ở
đó. Một khi gà vịt ăn phải ấu trùng chuồn chuồn. Vào cơ thể xâm nhập vào máu, di hành khi
tới ống dẫn trứng và tử cung phát triển thành sán trưởng thành. Hoàn thành vòng đời của nó
khoảng 40-45 ngày.
Cơ chế sinh bệnh và triệu chứng lâm sàng
Sán lá trưởng thành kí sinh ở đường sinh dục gà, bám vào niêm mạc, là xơ niêm mạc gây
xuất huyết, rối loạn quá trình tạo trứng của gà. Gây nên hiện tượng gà đẻ không đều trứng dị
dạng không có võ, hoặc không có lòng đỏ.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
95
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản

Phòng và trị
+Cần định kỳ tẩy giun sán cho gà vịt
+Tránh không cho gà uống nước bẩn
+Không nên xây chuồng gà gần ao, hồ
+Không nên thả gà vào lúc sáng sớm hay trời mưa.

II. MỘT SỐ BỆNH GIUN TRÒN

BỆNH GIUN ĐŨA CỦA GIA SÚC (BÊ NGHÉ, LỢN, GÀ)

Ascaris - Giun đũa lợn
Parascaris equirirum - giun đũa ngựa
Neoascaris vitulorum - giun đũa bê nghé
Ascaris galli - giun đũa gà
Toxocaris cannis - giun đũa chó
Bệnh giun đũa của các loại vật nuôi là do loài giun tròn thuộc bộ phụ Ascaridata gây ra. Nó
là loại giun tròn to, con đực nhỏ hơn con cái. Giun đũa thường ký sinh ở ruột non các loại vật

viêm loét ruột. Đặc biệt trong thời kỳ trưởng thành giun đũa con di hành đến các cơ quan
khác, như túi mật gây tắc mật, lên mũi và có thể lên xoang trán, gây những biến chứng khó
lường được.
Triệu chứng lâm sàng:
Bệnh giun đũa xảy ra ở dưới dạng mãn tính. Cũng như các bệnh ký sinh trùng khác bệnh phụ
thuộc vào cường độ cảm nhiễm, sức đề kháng của con vật mà triệu chứng bệnh nó được thể
hiện.
Rối loạn tiêu hóa
Ỉa chảy, phân lỏng, có niêm mạc ruột, có khi xuất huyết.
Da xù xì, lông dựng và thô
Mức độ cảm nhiễm nặng con vật xuất hiện triệu chứng thần kinh (hưng phấn co giật, bại
liệt).
Ở giai đoạn ấu trùng di hành lên phổi gây ho và có triệu chứng của viêm phổi. Thân nhiệt
tăng, tần số hô hấp tăng.

Chẩn đoán bệnh:
Biện pháp chẩn đoán bệnh giun đũa khi gia súc còn sống là sử dụng phương pháp soi phân
tìm trứng. Hai phương pháp đó là: Fleubor và Darling.
Trong thời gian gần đây ở một số nước có khoa học kỹ thuật phát triển họ đã áp dụng phương
pháp dị ứng để chẩn đoán bệnh giun đũa.
Chẩn đoán sau khi con vật chết thì phương pháp mổ khám toàn diện theo phương pháp
Skrjabin, hoặc phương pháp Bacrman để tìm ấu trùng của giun đũa.
Phòng và trị bệnh
Hiện nay trong thú y cũng như trong y học có rất nhiều loại thuốc dùng để trị giun đũa. Các
thuốc chứa một hàm lượng Silicofluorat để có tác dụng diệt giun đũa rát tốt.
Các loại cây củ thực vật như: keo đậu, hạt bí, đều có tác dụng tẩy giun rất hiệu nghiệm.
Hiện nay thường dùng: Piperazin, Santonin

Biện pháp phòng bệnh:
- Chẩn đoán định kỳ và có kế hoạch tẩy giun định kỳ.

ngày.
- Tính chất dich tể của bệnh
+Bệnh giun phổi thường mắc ở lợn
con, lợn lớn tỷ lệ mắc thấp
+ Bệnh xẩy ra có tính chất riêng biệt
theo vùng phụ thuộc vào mức độ nhiễm của
giun đất.
+Bệnh xẩy ra những nơi có tập quán
chăn nuôi lợn thả rong, nền chuồng bằng đất.
+Bệnh thường mắc vào mùa mưa, vì
mùa mưa điều kiện thuận lợi cho giun đất phát
triển.
Cơ chế bệnh và triệu chứng
Cơ chế bệnh tác động bởi giun phổi là tác
động cơ học và tác động chất độc tố của giun.
Trong khí quản và phổi giun kích thích gây nên phản xạ ho dử dội nhất là vào buổi sáng sớm
hoặc những lúc thời tiết thay đổi.
Chúng kí sinh ở phổi, làm cho diện tích hô hấp của phổi giảm, lợn chậm lớn còi cọc.
Khi tác động ở phổi, dẫn đến viêm phổi, trường hợp nhiễm với cường độ cao lợn có thể bị
chết.
Phòng trị bệnh
+Cần nuôi tách riêng lợ con với lợn lớn.
+Trại chăn nuôi và sân chơi của lợn phải thường xuyên quét dọn thu gom phân, ủ
phân theo phương pháp sinh học.
+Nền chuồng phải láng xi măng
+Không nên nuôi lợn thả rong
+Định kỳ tẩy giun cho lợn. Nhất là sau khi cai sữa cần tẩy cho lợn con
+ Các loại thuốc tẩy giun như: Dixtrazin photphat, levamyzol, dung dịch lugol.
+ Cần bổ sung thêm các loại vi tamin vào thức ăn cho lợn con.
+Bổ sung khoáng đầy đủ, không để cho lợn thiếu khoáng gặm nền chuồng

+Cướp chất dinh dưỡng của cơ thể ký chủ
+tác động cơ học,giun bao chui sâu vào ruột đẻ trứng gây viêm ruột, làm cho lớp vi
nhung mao bị tổn thương, quá trình tiêu hóa và hấp thu ở ruộtbị rối loạn.
+Tác động độc tố của giun bao gây tiêu hủy hồng cầu, dẫn tới cơ thể thiếu máu, rối
loạn hoạt động của nhiều cơ qua, ảnh hưởng đén thần kinh.
+Ấu trùng giun bao ký sinh ở cơ, gây viêm cơ, xơ cơ, cơ thể mệt mõi thoái hóa cơ,
ảnh hưởng đến cơ quan vận động.
+Đối với gia súc triệu chứng không được rõ ràng
Chẩn đoán
Bệnh giun bao là một bệnh khá nguy hiểm cho con người và động vật. Muốn giải quyết vấn
đề này cần phải chẩn đoán bệnh chính xác.
Hiện nay có nhiều phương pháp chẩn đoán nhưng thường dược sử dụng đó là phương pháp
chẩn đoán bằng phản ứng dị ứng. Ngoài ra còn được tiến hành bằng phản ứng kết tủa giữa
giun bao với huyết thanh.
Đối với động vật chẩn đoán bằng phương pháp mổ khám cơ là chính xác nhất.
Trong giai đoạn ấu trùng ở người có thể chản đoán bằng phương pháp chụp X quang.
Phòng và trị
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
99
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc hiệu để trị giun bao ở giai đoạn ấu trùng và giai đoạn trưởng
thành.
Có thể dùng laọi thuốc Thiabendazol, Methyridin, đây là hai loại thuốc ức chế sự phát triển
của giun bao.
Các biện pháp phòng bệnh là:
+Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh thú y, trong công tác kiểm soát giết mỗ.
+Tuyên truyền vận động mọi người dân không nên ăn thịt tái sóng
+Có biện pháp diệt chuột ở những khu vực giết mổ gia súc.
+Phát hiện và điều tra nguồn dịch.


thương từ ruột tới nơi cấu trùng ký sinh. Khi ấu trùng đã ký sinh ở các tổ chức cơ thì biểu
hiện về lâm sàng không thể hiện rõ.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
100
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Ở người bị gạo thì thường ký sinh ở não, nên biểu hiện rất rõ triệu chứng thần kinh, nhức đầu
có khi lên cơn sốt điên rồ. Nếu ký sinh ở mắt có thể mù mắt, ở tim hoặc các tổ chức khác
hoạt động cơ quan đó bị rối loạn.
Bệnh gạo không gây tác hại lớn cho gia súc mắc bệnh song đối với con người thì đây là một
trong những bệnh vô cùng nguy hiểm. Người không chỉ mắc bệnh sán dây trưởng thành mà
còn mắc bệnh ấu trùng của sán dây. Người là ký chủ trung gian và là ký chủ cuối cùng của
sán dây.

Chẩn đoán bệnh
Chẩn đoán bệnh lợn gạo, bò gạo khi gia súc còn sống khó thực hiện được. Hiện nay người ta
thường sử dụng phương pháp dị ứng để chẩn đoán, hay phương pháp huyết thanh học, chụp
X quang, siêu âm (Chẩn đoán bằng hình ảnh). Nhưng đối với thú y thì công việc đó mới chỉ
áp dụng trong phòng thí nghiệm, hay nói cách khác vẫn còn trên lý thuyết đối với điều kiện
chăn nuôi và thú y của nước ta.
Việc chẩn đoán hay kiểm soát giết mổ đối với bệnh gạo lợn hay bò là vô cùng cần thiết, và
cho kết quả chắc chắn nhất.

Biện pháp phòng ngừa
Đây là một bệnh liên quan giữa thú y và y học, vì vậy việc kết hợp thú y và y tế trong công
tác phòng bệnh là vô cùng cần thiết.
Các biện pháp vệ sinh thú y là:
Xây dựng và tăng cường công tác kiểm soát giết mổ
Nghiêm cấm việc giết và bán thịt gia súc bị bệnh mà không có ý kiến của cán bộ thú y.
Cấm thả rông lợn và các loại vật nuôi khác trong khu vực chăn nuôi.
Khi phát hiện được gạo lợn hay bò thì qui định 40cm


SÁN TRƯỞNG THÀNH KÝ CHỦ ẤU TRÙNG
Taenia pisiformis Chó Cysticercus fisifonis
(Taenia. Serrata)
Taenia Multiceps Chó Multiceps
Echinococus Chó, mèo Echinococcus
polymorphys
Granumosus Chó, mèo, người Cryptocystistrichodetis
Diphylidium
Caninum Người Plerocercoides
Chó người mèo Spazganum mansoni
Diphyllobothcium
Diphyllobothrium Người Cysticercus cellulosae
Mansoni Người Cysticercus bovis

Taenia solium
Taeniarhy chus
Taginatus BỆNH SÁN DÂY CỦA GÀ- RAILIETINOSIS

Chúng thường ký sinh ở ruột gà. Đây là bệnh thường gặp nhất đối với gà trưởng thành.
Chu trình phát triển của sán dây gà
Chu trình phát triển của sán dây gà cần ký chủ trung gian.
Trứng sán dây được theo phân ra ngoài, trứng vung vải vào trong đất. Gặp kiến ăn phải trứng
sán, trong cơ thể kiến trứng sán phát triển thành ấu trùngqua các giai đoạn khác nhau. Khi gà
ăn phải kiến có ấu trùng, vào ruột phát triển thành sán trưởng thành.
Hoàn thành vòng đời của sán khoảng 60 ngày.


ương, Phân viện thú y Nha Trang, bộ môn thú Y khoa KHVN trường Đại học Nông lâm Huế,
thì tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào vùng.
Đối với trâu bò tỷ lệ nhiễm bệnh ký sinh trùng đường máu ở miền núi lên tới 60 - 70%; trung
du 45 - 50%; Vùng đồng bằng ven biển tỷ lệ nhiễm thấp hơn.

CÁC BỆNH ROI TRÙNG - TRIPANOASOMOSIS

Trong thiên nhiên có rất nhiều loại trùng roi, chúng sống ký sinh ở nhiều loại động vật khác
nhau như: gia cầm, trâu bò, lợn, cá
Mỗi loại ký sinh ở một vị trí nhất định, nhưng thường chúng ký sinh trong máu (ngoài hồng
cầu), có loại sống ở cơ quan sinh sản.
Trùng roi thường có roi, như là cơ quan vận động, chúng sinh sản phân chia theo chiều dọc.
Chúng truyền bệnh thông qua các loại tiết túc hút máu. Tiết túc cũng có thể là ký chủ trung
gian.
Các loài gây bệnh cho vật nuôi gồm có:
Tripanosoma evansi - ký sinh ở máu trâu bò và ngựa.
T.Equiperdium - ký sinh ở cơ quan sinh sản ngựa, la, thừa.
T.Foetus - ký sinh ở cơ quan sinh sản của bò gây bệnh sẩy thai.
BỆNH TIÊM MAO TRÙNG Ở TRÂU BÒ
Bệnh này do loại tiêm mao trùng Tripanosoma evansi gây ra. Tên bệnh theo từng địa phương
có tên gọi khác nhau:
Ở nước ta có tên gọi là bệnh ngả nước, hay là gọi bệnh trùng roi. Ở liên xô (cũ) gọi là bệnh
Suauru; Ở Ân Độ người ta cũng gọi là bệnh ngã nước Surra của gia súc
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
103
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Loại này thường ký sinh trong huyết tương của một số loài vật nuôi như: ngựa, lạc đà và đại

+ Phản ứng Eli
- Phản ứng formol
- Tiêm truyền động vật thí nghiệm
Điều trị và phòng bệnh:
Điều trị dùng thuốc đặc hiệu: Naganol; naganil.
Nâng cao sức khỏe vật nuôi: Chlorua canxi, Benzoat natri cafein, glucoz; Ngoài ra có thể
dùng Norasenol.
Phòng bệnh: Tiêu diệt côn trùng hút máu
Kiểm tra sức khỏe đàn trâu bò thông qua các chỉ tiêu huyết học.
Có thể dùng Naganil tiêm phòng cho trâu bò vào vụ Đông Xuân.
Nâng cao chế độ chăm sóc nuôi dưỡng vật nuôi.
.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
104
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
BỆNH CẦU TRÙNG - COCCIDIIDOSIS
(Microgametocyt)

Giai đoạn ngoài thiên nhiên
Noãn nang trứng (Zygot ôcyst)
Trong cơ thể gia súc:
Tử bào tử (sporozoit)
Cấu trùng non
(Trôphzoit)

Cấu trùng trưởng thành
(Sehizont)
Liệt thực thể
(merozoit)

Đại phôi tử

Tiểu phôi tử bào

Đại phôi tử
(Macrogametocyt)

Tiểu phôi tử bào
(Microgametocyt)

Giai đoạn ngoài thiên nhiên
Noãn nang trứng (Zygot ôcyst)

Túi bào tử

Bào tử thể (sporoit)

non (trophozoit) sau đó thành cầu trùng trưởng thành. Và bắt đầu sinh sản vô tính. Nhân phân
chia rồi nguyên sinh chất phân chia tạo thành liệt thực thể (Merozoit), Merozoit phá vỡ tể
bào và tiếp tục xâm nhập vào tế bào khác. Sau vài lần sinh sản vô tính chuyển sang sinh sản
hữu tính.

Sinh sản hữu tính
Sau vài lần sinh sản vô tính một số Merozoit tạo thành đại phối tử (Macrogametocyst) và tiểu
phối tử (Collicrogametoxyt). Tiểu phối tử có lông xung quanh di động và chui vào đại phối
tử. Giao hợp trở thành hợp tử Xygot.
Sơ đồ phát triển có thể tóm tắt như sau:

Giai đoạn phát triển ngoài thiên nhiên
Sau khi đã thành ôcyst nó được thải theo phân ra môi trường bên ngoài, nhờ có các điều kiện
thích hợp như nhiệt độ ánh sáng, độ ẩm, oxy thích hợp chúng tiếp xúc sinh sản bào tử theo
kiểu phân chia hai thành bốn, mỗi bào tử lại tiếp tục phân chia thành hai hoặc bốn tử bào tử.

Tính chất dịch tể của bệnh cầu trùng:
Cầu trùng là bệnh lây lan qua thcs ăn nước uống, do nhiễm các loại noãn nang.
Bệnh xảy ra mạnh vào mùa xuân, bệnh thường xảy ra đối với gia súc non nhốt chung với gia
súc trưởng thành, chuồng trại chật hẹp ẩm ướt. Chế độ thức ăn thiếu thống nhất là các loại
vitamin, khoáng.
Bệnh cầu trùng thường xảy ra với nhiều loại vật nuôi khác nhau, nhưng trong thú y cần quan
tâm nhất là cầu trùng gà và bệnh cầu trùng của thỏ.

Cơ chế phát bệnh và triệu chứng cầu trùng ở gà
Cầu trùng phá vỡ tế bào thượng bì, làm vở các mạch quản nhỏ gây xuất huyết, số lượng ôcyst
càng nhiều, thì các tổ chức biểu mô càng bị phá vỡ trầm trọng.
Triệu chứng bệnh nặng nhẹ phụ thuộc vào cường độ nhiễm cầu trùng trên một cơ thể gà.
Ví dụ khi gà nhiễm 1000 noãn nang thì có triệu chứng nhẹ.
3000 Noãn thì có triệu chứng nặng, 5000 noãn nang thì dẫn tới chết.

Chúng kí sinh ở người, động vật và gây bệnh cho các đối tượng đó.
Những loài chân đốt liên quan đến thú y đó là:
-Lớp giáp xác-Crustucae
-Lớp hình nhện-Arachnodae
Bao gồm các họ liên quan và gây bệnh là: họ ve cứng (Ixodidae) ghẻ (Sarcoptidae)
mạt (Gâmsidae) mò (Trombođiae).
-Lớp côn trùng- Insecta
Tác hại gây bệnh của ngàh chân đốt là:
- Tác động cơ giới trực tiếp lên cơ thể, như chích cắn
-Tác dụng tiết độc tố
-Tác dụng tiết chất độc
-Tác dụng gây bệnh trực tiếp như ghẻ, dòi
-Tác dụng môi giới truyền bệnh, ký chủ trung gian
Các biện pháp phòng trừ chung
Ve và các loại chân đốt khác tác động hút máu, truyền bệnh, nên việc phòng trừ diệt chúng là
một việc làm vô cùng quan trong trong chăn nuôi. Đặc biệt là chăn nuôi trâu bò, dê cừu.
-Diệt ve bét trên cơ thể gia súc
Có thể diệt bằng tay hoặc sử dụng các thuốc hóa học, như phương pháp tắm, phun xoa,
nhưng hiệu quả cao nhất là phương phpá ẩm ướt. Các thuốc thường dùng đó là phormol,
Polychlorypen, asenatNa, Asustol.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
107
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Có thể dùng các loại cây thuốc nam như: Cây ruốc cá 3 phần + nước 100phần + xà phòng 4
phần, vò nát và xoa khắp cơ thể con vật.
_Các phương pháp tắm đó là:
+Tắm cho gia súc trong bể cố điịnh hoặc lưu động
+Kích thước bể 7m x 0,6m x1,8m
+Phun hoặc xoa trên cơ thể con vật
+Khí dung

thức ăn cho nó hoặc côn trùng.
Hoặc dùng kiến ăn ve trên mặt đất, chim sáo ăn ve trên mình gia súc

BỆNH GHẺ CỦA ĐỘNG VẬT

Bệnh ghẻ là một bệnh khá nguy hiểm đối với các loài vật nuôi nhất là động vật nuôi lấy long.
Bệnh ghẻ không là cho gia súc chết ngay, nhưng chúng gây những trạng thái cho con vật khó
chịu. Cũng là môi giới dẫn đường cho một số bệnh nhiễm trùng và truyền nhiễm khác.
Đặc điểm hình thái và tính chất ký sinh của các loại ghẻ khác nhau trên các con vật khác
nhau thì khác nhau.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
108
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Tác hại chính của nó là làm cho con vật ngứa ngáy, gầy yếu giảm sức đề kháng, nhiễm trùng
và chết.
Ở nước ta bệnh ghẻ khá phổ biến, vì điều kiện môi trường để chúng phát triển là khá thuận
lợi.
Mỗi một loài vật đều có một loài ghẻ riêng, nhưng cũng có loài ghẻ gây bệnh chung cho
nhiều loài vật và con người.
Ví dụ:
-Sarcoptes scapbiei var súis, ký sinh ở lợn
-Sarcoptes scapbiei var boviskí sinh ở bò
-Sarcoptes scapbiei var equi kí sinh ở ngựa
-Sarcoptes scapbiei var oviskí sinh ở cừu
-Sarcoptes scapbiei var canis kí sinh ở chó
Ghẻ kí sinh sâu trong lớp biểu
bì và dinh dưởng của chúng là
bặch huyết.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
109
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
-Người và động vật có thể nhiễm ghẻ lẫn nhau, do người tiếp xúc chăm sóc gia súc
mà tay chân không rữa vệ sinh.
-ở môi trường bên ngoài cái ghẻ có thể sống được 3 tuần.

Cơ chế phát bệnh và triệu chứng
-Khi ghẻ kysinh ở da làm cho sự điều tiết nhiệt độ và chức năng của da bị rối loạn,
nhiều lúc có triệu chứng thần kinh.
-Vào thời kỳ cái ghẻ đào hang đẻ trứng, gây cho cơ thể ngứa ngáy, khó chịu. Có khả
năng gây viêm nhiẽm da, tạo thành những ôe apxe.
-Triệu chứng đầutiên của bệnh ghẻ xuất hiện sau hai tuần khi nhiễm.
-Trên da bắt đầu xuất hiện những mun, nổi mẫn, nhất là ban đêm làm cho con vật
không ngủ được
-Gia súc gầy ốm yếu rất nhanh
Các biện pháp phòng trị ghẻ
Phòng trị ghẻ thường sử dụng các biệ pháp liên hòan và liên tục mới đem lại hiệu quả, như
thực hiệncac khâu sau: vệ sinh tẩy uế chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, sân chơi bải cỏ, vệ sinh
nuôi dưỡng, thức ăn nước uống
Chuẩn bị gia súc trước khi điều trị:
-Long da con vật phải được tám chải hết bùn
-Khi điều trị, đối với dê thỏ không được tắm vì chúng không chịu được nước.
-Nhiệt độ dung dịch thuốc tắm phải nâng lên 45-50
0
C để dể dàng tiêu diệt được ghẻ.
-Đối với đại gia súc có sừng rất mẫn cảm với thuốc có chất thủy ngân và

14. I.P.Plochin, (1971), Chẩn đoán lâm sàng học, NXB Bông lúa, Moskva (Tiếng Nga)
15.I.E. Mozgov, (1974), Dược lý hoc, NXB Bông lúa, Moskva (Tiếng Nga)
16.F.P. Trynus, (1976), Sổ tay tra cứu dược, NXB Bông lúa, Moskva (Tiếng Nga)
17. Lương Thị Tố Thu, (1979), Giáo trình bệnh ký sinh trùng

MỤC LỤC
MỘT SỐ BỆNH KÍ SINH TRÙNG 92
BỆNH SÁN LÁ GAN - FASCIOLOSIS 92
BỆNH SÁN LÁ RUỘT LỢN - FASCIOLOPOSIS 94
BỆNH SÁN LÁ TUYẾN TỤY 95
(DIROCOELIDOSIS) 95
BỆNH SÁN LÁ SINH SẢN GIA CẦM 95
BỆNH GIUN ĐŨA CỦA GIA SÚC (BÊ NGHÉ, LỢN, GÀ) 96
BỆNH GIUN PHỔI LỢN-METASTRONGYLOSIS 98
BỆNH GIUN BAO NGƯỜI VÀ GIA SÚC- TRICHINELOSIS 99
BỆNH GẠO BÒ, LỢN 100
BẢNG BỆNH SÁN DÂY VÀ KÝ CHỦ CỦA NÓ 102
BỆNH SÁN DÂY CỦA GÀ- RAILIETINOSIS 102
BỆNH KÝ SINH TRÙNG ĐƯỜNG MÁU 103
CÁC BỆNH ROI TRÙNG - TRIPANOASOMOSIS 103
BỆNH TIÊM MAO TRÙNG Ở TRÂU BÒ 103
BỆNH CẦU TRÙNG - COCCIDIIDOSIS 105
1.Đại cương chung 107
BỆNH GHẺ CỦA ĐỘNG VẬT 108
Tài liệu tham khảo: 110

Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
111


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status