TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: LỰA CHỌN SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƢỜNG XUẤT KHẨU
CỦA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hoài
Lớp : Anh 7
Khóa : 45
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Vũ Huyền Phƣơng
Hà Nội, 05/2010
1
1.3. Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan 15
1.4. Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh (Cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp) 15
1.5. Cơ chế tác động, điều chỉnh chiến lược của Nhà nước 16
1.6. Cơ hội 17
2. Nhu cầu trên thị trường thế giới 18
III. Các chính sách lựa chọn sản phẩm và thị trƣờng xuất khẩu 18
1. Chính sách lựa chọn sản phẩm xuất khẩu 19
1.1. Chính sách vĩ mô 19
1.1.1. Đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu 19
1.1.2. Xây dựng mặt hàng xuất khẩu chủ lực 20
1.2. Chính sách vi mô 21
1.2.1. Chính sách mở rộng trực tiếp 21
1.2.2. Chính sách thích nghi sản phẩm 21
1.2.3. Chính sách chủng loại sản phẩm 22
2. Chính sách lựa chọn thị trường xuất khẩu 23
2.1. Chính sách vĩ mô 23
2.2. Chính sách vi mô 23
CHƢƠNG 2: THỰC TRANG VIỆC LỰA CHỌN SẢN PHẨM VÀ THỊ
TRƢỜNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 25
I. Cơ sở lựa chọn sản phẩm và thị trƣờng xuất khẩu của Việt Nam 25
1. Điều kiện tự nhiên 25
2. Nguồn tài nguyên 26
3. Nguồn nhân lực 28
4. Cơ chế chính sách điều chỉnh việc lựa chọn sản phẩm và thị trường
xuất khẩu của Đảng và Nhà nước ta 29
5. Nhu cầu của thị trường thế giới 30
3
3.1 Thành tựu đạt được 69
3.2 Một số hạn chế 70
CHƢƠNG 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆC LỰA CHỌN
SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƢỜNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 71
I. Định hƣớng lựa chọn sản phẩm và thị trƣờng xuất khẩu 71
1. Quan điểm mục tiêu 71
2. Định hướng lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam
đến hết năm 2010, tầm nhìn tới 2020 72
2.1 Về mặt hàng xuất khẩu 72
2.1.1 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 73
2.1.2 Định hướng cho từng ngành hàng, từng nhóm hàng cụ thể 73
2.2. Về thị trường xuất khẩu 77
2.2.1 Cơ cấu thị trường 78
2.2.2. Định hướng cho từng thị trường cụ thể 78
II. Một số giải pháp cho sự lựa chọn sản phẩm và thị trƣờng xuất khẩu
của Việt Nam 83
1. Những kiến nghị đối với nhà nước 83
1.1. Hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách 83
1.2. Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ hỗ trợ cho xuất khẩu bao
gồm cung cấp thông tin, kết quả xử lý và phân tích thông tin và các loại
hình dịch vụ khác 85
1.3. Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế
86
1.4. Hoàn thiện và đổi mới các chính sách đầu tư khuyến khích xuất
khẩu 87
1.4.1. Khuyến khích đầu tư về vốn: 87
1.4.2. Cải thiện môi trường đầu tư : 88
năm 2008 – 2009 49
Bảng 9: Tỷ trọng của các thị trường xuất khẩu thời kỳ 1991-2000 55
Bảng 10: Cơ cấu thị trường xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006
Bảng 11: Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc 2000 – 2009 63
Bảng12: Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường
Trung Quốc năm 2009 64
Bảng 13: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ (2000 –
2009) 66
Bảng 14: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ
năm 2009 68 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tên viết
tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
AFTA
AJCEP
AKFTA
ASEAN
APEC
CEPT
EU
Gross Domestic Product
The Generalized Systems
Preferential
Human Development Index
International Organization for
Standardization
Most Favoured Nation
Newly Industrialized Country
National Treatment
Official development assistance
(Viết tắt Tiếng Nga)
(Viết tắt Tiếng Nga)
Trade Related Investment
Measures
World Trade Organization
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
Hiệp định Đối tác kinh tế toàn
diện ASEAN - Nhật Bản
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
– Hàn Quốc
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam
Á
Diễn đàn Hợp tác kinh
tế châu Á - Thái Bình Dương
Hiệp định thuế quan có hiệu lực
chung
Liên minh Châu Âu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tổng sản phẩm quốc nội
Việt Nam ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi lớn để phát huy tối đa những tiềm
năng, thế mạnh của mình, phát triển kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa – hiện đại
hóa. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải đối diện với những áp lực cạnh tranh khốc liệt
từ các quốc gia khác, cũng như những rào cản vô hình, hữu hình và sự bất bình
đẳng trong quan hệ ngoại thương đặc biệt là với các nước kinh tế phát triển.
Để tham gia rộng rãi vào phân công lao động quốc tế, mở rộng sự giao lưu
giữa các thị trường trong nước và quốc tế, Việt Nam cần dựa chủ yếu vào các nguồn
lực trong nước, kết hợp với xu thế phát triển của thế giới, trên cơ sở đó, mở rộng qui
mô và tăng xuất khẩu. Điều cơ bản là làm thế nào khai thác được tối đa nguồn lực
bên trong và những lợi thế so sánh có được trong phân công lao động quốc tế để
đẩy mạnh xuất khẩu. Đó chính là việc xác định sản phẩm chủ lực và cơ cấu hàng
hóa xuất khẩu hợp lý trong điều kiện phát triển cụ thể của đất nước và bối cảnh kinh
tế quốc tế trong từng thời kì, bên cạnh đó xác định đối tác, thị trường trọng điểm và
cơ cấu thị trường phù hợp. Những vấn đề này có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát
triển kinh tế quốc gia và quan hệ kinh tế quốc tế. 2
Trong quá trình tìm tòi tài liệu cho khoá luận này, em đã quyết định chọn đề tài:
“Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam – Thực trạng và giải
pháp” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là phân tích, làm rõ thực trạng lựa chọn sản
phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian vừa qua dựa trên những
lợi thế cạnh tranh của đất nước kết hợp với xu thế phát triển của thế giới; trên cơ sở
đó đưa ra một số giải pháp và định hướng cho việc lựa chọn sản phẩm và thị trường
xuất khẩu, góp phần đưa hoạt động xuất khẩu của Việt Nam phát triển mạnh và hiệu
quả hơn nữa, xứng đáng với vai trò đầu tàu của nền kinh tế quốc dân trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ phía các thầy cô để hoàn thiện
hơn đề tài này.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng
dẫn của em, Thạc sĩ Vũ Huyền Phương đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo giúp em
hoàn thành khóa luận này.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hoài4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LỰA
CHỌN SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƢỜNG XUẤT KHẨU
I. Vai trò của việc lựa chọn sản phẩm và thị trƣờng xuất khẩu
1. Một số nhận định chung về nền kinh tế trong nƣớc và thế giới trong những
năm gần đây
Trong những năm gần đây, tình hình thế giới và khu vực đang có những diễn
biến hết sức phức tạp, có thể nói là có những thay đổi mang tính chất bước ngoặt.
Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã và đang gây những ảnh
hưởng nặng nề đến thương mại thế giới cũng như có những tác động sâu sắc đến
mọi quốc gia. Siêu cường Mỹ đang dần suy yếu, trong khi đó Trung Quốc đang nỗ
lực để đi nhanh hơn nữa trên con đường trở thành siêu cường. Tuy nhiên, nhìn
chung tình hình kinh tế thế giới trong những năm vừa qua, chúng ta thấy một số
chiều hướng chính sau:
1.1. Khoa học công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất nòng cốt và
trực tiếp của xã hội
Với cuộc cách mạng về khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm
vi toàn thế giới như hiện nay, trên nhiều lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là kinh tế tri thức,
khoa học công nghệ đã trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”, trong đó tri thức và
thông tin trở thành yếu tố quan trọng và nguồn tài nguyên đặc biệt, có giá trị cao.
hợp tác giữa các nước ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng trở nên gay gắt.
1.2. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là xu thế chung của thế giới, đã và sẽ
tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, lôi cuốn hầu hết các nước và mở rộng trên hầu khắp
các lĩnh vực giao lưu kinh tế
Toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế lớn của kinh tế thế giới và quan hệ kinh
tế quốc tế từ vài thập niên trở lại đây. Nó là một xu thế khách quan, có những tác
động sâu sắc và toàn diện tới các nước và toàn bộ quan hệ quốc tế. Với việc xóa bỏ
các rào cản đối với sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và
nhân công giữa các nước, toàn cầu hóa đã giúp hình thành những thị trường khu vực
chung và tiến tới hình thành một thị trường thống nhất trên toàn cầu. 6
Toàn cầu hóa kinh tế tạo điều kiện cho các quốc gia tận dụng được lợi thế so
sánh của mình, tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững hơn, nguồn lực được phân
bổ một cách hiệu quả hơn.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế là con
đường đi phù hợp với xu thế toàn cầu hóa của tất cả các nước, cho phép các nước
tận dụng được các cơ hội và điều kiện thuận lợi mà quá trình toàn cầu hóa tạo ra để
phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, toàn cầu hóa cũng gây ra nhiều
khó khăn, thách thức lớn cho tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển, đó chính
là sức ép cạnh tranh và sức ép chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian ngắn.
Trong xu thế chung đó, Việt Nam cũng đã có những bước phát triển hội nhập
rất mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới. Việc Việt Nam trở thành thành viên chính
thức của khối ASEAN năm 1995, APEC năm 1998 và gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới WTO năm 2006, cũng như hàng loạt các sự kiện về tự do hóa thương
mại khác đã tạo ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế nước ta nói chung cũng như hoạt
động xuất nhập khẩu nói riêng. Điều đó đã tạo ra nhiều cơ hội lớn hơn cho hàng hóa
Việt Nam thâm nhập thị trường nước ngoài, tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có rất
nhiều những thách thức mà chúng ta phải vượt qua.
Bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính ở Mỹ cuối năm 2007, cuộc khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu này được đánh giá là trầm trọng nhất kể từ
tám mươi năm qua. Cuộc khủng hoảng này đã và đang có những tác động mạnh mẽ,
lâu dài đến tình hình kinh tế, chính trị thế giới. Viện quốc gia nghiên cứu kinh tế và
xã hội (NIESR - National Institute Economic Review) của Anh cho rằng với giao
dịch buôn bán toàn cầu dự kiến giảm 8,2% trong năm 2009, kinh tế toàn cầu có thể
phải chứng kiến sự sụt giảm tồi tệ nhất trong hơn 60 năm qua (Nguyễn Thị Bình,
2009). Xu hướng sụt giảm kinh tế ở Mỹ, khu vực châu Âu và Nhật Bản có thể kéo
dài, thời gian có thể đến hàng năm. Chưa có dấu hiệu nào cho thấy kinh tế thế giới sẽ
sớm trở lại với tăng trưởng, và khi trở lại, tốc độ tăng trưởng của kinh tế toàn cầu chắc
chắn trong một thời gian không ngắn sẽ thấp hơn so với trước khi khủng hoảng xảy ra.
Với cuộc khủng hoảng lần này, quá trình cơ cấu lại nền kinh tế toàn cầu có thể
sẽ phải diễn ra. Ðó có thể là quá trình cơ cấu lại nền sản xuất theo hướng tiết kiệm
năng lượng và thân thiện với môi trường do đi đôi với khủng hoảng kinh tế là khủng
hoảng năng lượng và khủng hoảng khí hậu, môi trường. Ðó là quá trình cơ cấu lại 8
hệ thống tài chính tiền tệ song song với quá trình cơ cấu lại cơ chế quản lý, giám sát
trong từng quốc gia và trên toàn cầu. Ðó là việc điều chỉnh lại mối tương quan giữa
chính sách hướng mạnh ra xuất khẩu và chính sách coi trọng thị trường nội địa bởi
do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng vừa qua, những nước gắn quá sâu với xuất
khẩu đều chịu tác động mạnh.
Cuộc khủng hoảng cũng sẽ dẫn đến những điều chỉnh về cán cân quyền lực
trên bàn cờ chính trị thế giới: Mỹ sẽ phải tính đến việc giảm bớt sự bành trướng về
chính trị, điều chỉnh quan hệ đối ngoại theo hướng tăng tính đa phương, giảm đối
đầu trực tiếp hơn; vai trò của Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi sẽ gia tăng.
Cuộc đấu tranh về lợi ích giữa các nước lớn sẽ dẫn đến một số điều chỉnh lợi ích
nhất định tại các thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế. Tuy nhiên, do sự ràng buộc về
lợi ích, các nước lớn vẫn sẽ thỏa hiệp để tiếp tục duy trì cục diện chung với vai trò
năng phát triển dài hạn.
Kinh nghiệm của Nhật Bản và các nền kinh tế mới cho thấy, những thành tựu
kinh tế nói chung và ngoại thương nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hoá có sự
đóng góp quan trọng của chính sách lựa chọn sản phẩm chủ lực và thị trường ưu
tiên. Nhờ chính sách này mà các nguồn tài nguyên, vật lực đã được tập trung cao
cho các sản phẩm có lợi thế so sánh, phát triển sản xuất các sản phẩm có ưu thế về
quy mô, khai thác được tiềm năng tăng trưởng cao và hiệu quả.
2.2. Vai trò của việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu
Trong bối cảnh biến động nền kinh tế thế giới như vậy, các nước đang trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế không còn con đường nào khác
là phải lựa chọn chiến lược xuất khẩu phù hợp. Điều đó có nghĩa là, cần xác định
sản phẩm và thị trường xuất khẩu sao cho có thể phát huy tối đa lợi thế của mình.
Thực chất của chiến lược này là phát huy lợi thế của sản xuất trong nước, đặt nền
kinh tế quốc gia trong quan hệ cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới. Để
đẩy nhanh phát triển ngoại thương, chúng ta cần phải thực hiện phương châm đa
dạng hóa sản phẩm và đa phương hóa thị trường, đi cùng với việc đó là phát triển
sản phẩm chủ lực và thị trường trọng điểm. Chính vì vậy, vấn đề lựa chọn sản phẩm
và thị trường xuất khẩu được coi là vấn đề cốt lõi. Lựa chọn đúng sản phẩm và thị
trường xuất khẩu nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh, tận dụng lợi thế
cạnh tranh trong xuất khẩu và thu được hiệu quả cao, từ đó thúc đẩy ngoại thương
phát triển, góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. 10
Cùng với sự ra đời và phát triển của kinh tế đối ngoại, xuất khẩu đã luôn được
thừa nhận là hoạt động rất cơ bản và hết sức quan trọng, là phương tiện thúc đẩy
nền kinh tế quốc gia phát triển nói chung, phương tiện chính để tăng thu nhập ngoại
tệ cho tài chính và nhu cầu nhập khẩu hàng hóa thiết bị phục vụ sản xuất tiêu dùng
nói riêng, góp phần thanh toán dần nợ nước ngoài. Việc lựa chọn sản phẩm xuất
khẩu phù hợp sẽ tạo ra các mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao và ngày càng chiếm tỷ
nước nghèo lại chú trọng vào nhập khẩu hàng tiêu dùng. Trong giai đoạn chuyển
tiếp giữa thay thế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu, điều tra lựa chọn thị
trường một cách hợp lý có tính chất quyết định trong việc đảm bảo mục tiêu phát
triển sản xuất, thực hiện công nghiệp hóa, tăng trưởng và phát triển kinh tế trong
điều kiện tiềm lực còn yếu kém ở các nước phát triển. Trong thời kì này, về căn bản
các nước đang phát triển thường lựa chọn thị trường có dung lượng lớn, sức tiêu thụ
cao, nhằm tranh thủ các lợi thế cạnh tranh về chi phí nguyên vật liệu và công lao
động rẻ. Sự tăng trưởng kinh tế ngày càng cao ở rất nhiều nước trong vài thập kỉ
qua kể từ khi thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu, một phần là nhờ vào yếu tố
biết phân tích và lựa chọn hợp lý này.
Vào những năm 60, chiến lược của Nhật Bản trong thời kì này là mở rộng xuất
khẩu sang các thị trường Châu Á nhằm độc chiếm các thị trường này. Chính chiến
lược thị trường hợp lý đó cùng việc thi hành các chính sách ngoại thương khác đã
tạo ra sự bùng nổ xuất khẩu. Kể từ cuối những năm 70 trở đi, các sản phẩm của
Nhật Bản không còn phụ thuộc phần lớn vào các thị trường Châu Á nữa do các thị
trường này chỉ chấp nhận những sản phẩm chế tạo có hàm lượng giá trị không cao.
Chính vì lý do đó, cộng với sự cạnh tranh về thị trường của các quốc gia đang phát
triển ngày càng gia tăng, chiến lược lựa chọn thị trường của Nhật Bản đã chuyển
sang các nước phát triển đặc biệt là Mỹ và Tây Âu. Với sự lựa chọn thị trường và
sản phẩm cho thị trường đó hợp lý, Nhật Bản đã tạo ra những ảnh hưởng có tính
chất quyết định đối với sản xuất trong nước cũng như chiến lược đầu tư ra nước
ngoài. (Nguyễn Trần Quế, 1998).
Thị trường thế giới luôn là yếu tố động và hết sức nhạy cảm. Chính nó sẽ quyết
định chính sách sản phẩm. Chiến lược thị trường và sản phẩm hợp lý chính là điều
kiện tiên quyết để có được một chính sách ngoại thương hiệu quả trong xu hướng
mở cửa nền kinh tế trên toàn cầu. 12
II. Cơ sở cho việc lựa chọn sản phẩm và thị trƣờng xuất khẩu
(Giáo trình Kinh tế Ngoại Thương, 2006)
Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của 4
nhóm yếu tố. Mối liên kết của 4 nhóm này tạo thành một mô hình kim cương. Các
yếu tố đó bao gồm:
- Điều kiện các yếu tố sản xuất
- Điều kiện về cầu
- Các ngành công nghiệp hỗ trợ có liên quan
- Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành
Bốn yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh
tranh quốc gia. Ngoài ra còn có hai yếu tố khác là chính sách của Chính phủ và cơ
hội. Đây là hai yếu tố có thể tác động đến 4 yếu tố cơ bản kể trên.
Dựa trên việc phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia theo mô hình kim cương
của M.Porter, cơ sở để lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của một quốc gia
sẽ dựa trên lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó, được thế hiện ở các yếu tố sau:
1.1. Nguồn lực đầu vào
Lợi thế cạnh tranh quốc gia thể hiện ở điều kiện các yếu tố sản xuất chính là
nguồn lực đầu vào. Đây là ưu thế giữa các quốc gia về lao động, vốn, tài nguyên
thiên nhiên, đất đai và công nghệ. Các quốc gia tận dụng ưu thế này để tạo ra sản
Chiến lược, cơ cấu và môi trường
cạnh tranh ngành
1.2. Điều kiện nhu cầu trong nước
Như trên đã nói, lợi thế cạnh tranh của quốc gia là yếu tố bao trùm lợi thế cạnh
tranh của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ
làm nên lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Nhu cầu trong nước chính là yếu tố ảnh
hưởng đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Bản chất của nhu cầu trong nước sẽ
xác định cách thức doanh nghiệp nhận thức, lý giải và phản ứng trước nhu cầu của
người mua. Người mua đòi hỏi cao sẽ tạo áp lực giúp doanh nghiệp đáp ứng được
tiêu chuẩn cao về chất lượng, đặc tính kĩ thuật và dịch vụ, từ đó nâng cao lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiệp. Không những thế, nhu cầu trong nước tăng nghĩa là 15
quy mô thị trường được mở rộng, điều này sẽ có tác dụng tạo ra lợi thế cạnh tranh
trong những ngành có hiệu quả kinh tế nhờ quy mô. Như vậy có thể nói sự gia tăng
nhu cầu trong nước không chỉ tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn cả
cho sản phẩm và ngành, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia, là cơ sở để lựa
chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu.
1.3. Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan
Đối với mỗi doanh nghiệp, các ngành sản xuất hỗ trợ là những ngành sản xuất
cung ứng đầu vào cho chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi
quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong nhiều ngành hỗ trợ và nhiều ngành liên quan sẽ
tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, cung cấp trong thời gian ngắn với chi
phí thấp, duy trì quan hệ hợp tác liên tục, giúp doanh nghiệp nhận thức được các
phương pháp và cơ hội mới để áp dụng công nghệ mới Như vậy các ngành công
nghiệp hỗ trợ và liên quan cũng tác động đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp,
và từ đó cũng tạo cơ sở để doanh nghiệp có thể xây dựng mặt hàng và tìm kiếm thị
trường xuất khẩu.
1.4. Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh (Cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp)
Việc đưa ra chiến lược, cơ cấu để cạnh tranh của các doanh nghiệp không chỉ
các nhân tố tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia dựa trên các mặt sau:
- Thứ nhất là định hướng phát triển thông qua chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chính sách phát triển kinh tế.
- Thứ hai là tạo môi trường pháp lý và kinh tế cho các chủ thể kinh tế hoạt
động và cạnh tranh lành mạnh.
- Thứ ba là điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng thông
qua các công cụ ngân sách, thuế khóa, tín dụng…
- Thứ tư là kiếm soát các hoạt động kinh tế theo đúng pháp luật và chính
sách đề ra.
Mặt khác, Nhà nước cũng là cơ quan trực tiếp định hướng cho việc lựa chọn
sản phẩm và thị trường xuất khẩu thông qua việc nghiên cứu thị trường nước ngoài
và chiến lược phát triển kinh tế của các viện nghiên cứu, các cơ quan quản lý để
định hướng các sản phẩm và thị trường xuất khẩu phù hợp với nguồn lực của đất 17
nước trong giai đoạn phát triển và bối cảnh quốc tế, đồng thời xây dựng các hệ
thống chính sách, biện pháp phục vụ sản phẩm xuất khẩu và mở rộng thị trường
ngoài nước.
Đến lượt mình, các doanh nghiệp sẽ thực hiện cụ thể và chi tiết, hiện thực hóa
sự lựa chọn sản phẩm và thị trường. Sự ganh đua, cạnh tranh, tìm tòi, sáng tạo để
phát triển và thâm nhập thị trường sẽ đem lại lợi nhuận cho công ty và nâng cao
năng lực xuất khẩu của đất nước.
Tuy nhiên, sự định hướng của chính phủ chỉ mang tính hướng dẫn, vạch đường
chỉ lối, hỗ trợ cho các doanh nghiệp, giảm bớt rủi ro trong kinh doanh chứ không
mang tính bắt buộc, mệnh lệnh. Sản xuất cái gì, cho ai và số lượng bao nhiêu là
những vấn để của doanh nghiệp. Định hướng của nhà nước là chỉ để giúp đỡ, hỗ trợ
doanh nghiệp trong quá trình giải quyết các vấn đề đó.
1.6. Cơ hội
Cơ hội cũng được xem là một yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đặc biệt