CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ODA
I. Khái niệm, đặc điểm và phân loại ODA.
1. Khái niệm.
ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development
Assistance, có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ
phát triển chính thức.
Năm 1972, OECD, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đã đưa ra
khái niệm ODA là “một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích
chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển.
Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ
không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”.
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ
các nước phát triển sang các nước đang và chậm phát triển. Liên hiệp quốc,
trong một phiên họp toàn thể của Đại hội đồng vào năm 1961 đã kêu gọi các
nước phát triển dành 1% GNP của mình để hỗ trợ sự nghiệp phát triển bền
vững về kinh tế và xã hội của các nước đang phát triển. Theo Quy chế quản lý
và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị
định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính Phủ thì ODA được định
nghĩa như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) được hiểu là
hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính Phủ nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ
chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”.
Một cách khái quát, chúng ta có thể hiểu ODA bao gồm các khoản viện trợ
không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ,
các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ
thống Liên hợp quốc (United Nations -UN), các tổ chức tài chính quốc tế
dành cho các nước đang và chậm phát triển.
ODA có các hình thức sau:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán: Thường là tài trợ trực tiếp (chuyển giao
tiền tệ) nhưng đôi khi lại là hiện vật (hỗ trợ hàng hóa) như hỗ trợ nhập khẩu
bằng hàng hoặc vận chuyển hàng hóa vào trong nước qua hình thức hỗ trợ cán
Vốn ODA còn được thể hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng cho các nước
đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển. Có hai điều kiện cơ bản nhất
để các nước đang và chậm phát triển nhận được ODA là:
- Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu
người thấp. Nước có GPD bình quân đầu người cang thấp thì thường tỷ lệ
viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp
và thời hạn ưu đãi càng lớn. Khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất
định qua ngưỡng đói nghèo thì sự ưu đãi này sẽ giảm đi.
- Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải
phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ
giữa bên cấp và bên nhận ODA.
Thông thường, các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưu
tiên của riêng mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả
năng kỹ thuật và tư vấn (về công nghệ, knih nghiệm quản lý…). Đồng thời,
đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng
giai đoạn cụ thể. Vì vậy, nắm được hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước,
các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết.
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại
trong những điều kiện nhất định một phần Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) từ
các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Như vậy, nguồn gốc thực
chất của ODA chính là một phần tổng sản phẩm quốc dân cảu các nước giàu
đưcọ chuyển sang các nước nghèo. Do vậy ,ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội
và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ
phía nước tiếp nhận ODA.
2.2. ODA mang tính ràng buộc.
ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần, hoặc không ràng
buộc) nước nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra, mỗi nước cung cấp viện trợ
cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt
chẽ đối với nước nhận. Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật (hoàn
lại và không hoàn lại) đều được thực hiện bằng đồng Yên Nhật Bản.
hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các loại nguồn vốn để
tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
3. Phân loại ODA
3.1. Theo nguồn vốn cung cấp:
- ODA song phương: Nước này viện trợ, tài trợ cho nước khác.
- ODA đa phương: Nhiều nước hình thành một quỹ (hoặc tổ chức) để
viện trợ, tài trợ cho một nước.
3.2. Theo tính chất:
- Viện trợ không hoàn lại: Các khoản cho không, không phải trả lại.
- Viện trợ có hoàn lại: Các khoản vay ưu đãi (tín dụng với điều kiện “mềm”).
- Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện
theo hình thức tín dụng (có thể là ưu đãi hoặc thương mại).
3.3 Theo mục đích:
- Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường. Đây là những khoản cho vay ưu đãi.
- Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức,
công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu
tiền đầu tư, phát triển thể chế và nguồn nhân lực…loại hỗ trợ này chủ yếu là
viện trợ không hoàn lại.
3.4 Theo điều kiện:
- ODA không ràng buộc nước nhận: Việc sử dụng nguồn tài trợ không
bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.
- ODA ràng buộc nước nhận:
+ Bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hóa, trang thiết
bị hay dịch vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước
tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc các công ty
của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).
+ Bởi mục đích sử dụng: Chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định
hoặc một số dự án cụ thể.
- ODA có thể ràng buộc một phần: Một phần chi ở nước viện trợ, phần
ODA cho Việt Nam nên chúng ta sẽ phân tích vai trò này thông qua loại hình
hợp tác kỹ thuật của Nhật Bản.
Hợp tác kỹ thuật là một bộ phận quan trọng trong ODA của Nhật Bản
và được chính phủ Nhật Bản đặc biệt coi trọng. Hợp tác kỹ thuật bao gồm
hang loạt các hoạt động rộng rãi từ việc xuất bản và cung cấp sách, tài liệu kỹ
thuật bằng nhiều thứ tiếng. Các chương trình hợp tác kỹ thuật do chính phủ
Nhật Bản thực hiện được tiến hành dưới các hình thức: nhận người sang học
tập ở Nhật Bản; gửi các chuyên gia Nhật và cung cấp trang thiết bị, vật liệu,
cử các nhân viên tình nguyện từ tổ chức những người tình nguyện hợp tác Hải
ngoại Nhật Bản.
Việc huấn luyện, đào tạo, là một phần của hợp tác kỹ thuật do chính
phủ Nhật Bản đảm nhận. Dạng hợp tác này nhằm đào tạo cán bộ chuyên môn
để đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của các nước có người được
huấn luyện, đào tạo. Bởi vì việc đào tạo được thực hiện ở Nhật Bản, các học
viên có cơ hội tìm hiểu văn hóa, xã hội và nền kinh tế Nhật Bản. Nhờ đó, họ
trở lại đất nước mình cùng với những tri thức, kỹ năng thu được qua quá trình
đào tạo và sự hiểu biết rộng về Nhật Bản.
Nhật Bản còn thực hiện một chương trình đào tạo gọi là chương trình
đào tạo nước thứ ba. Chương trình đào tạo ở nước thứ ba cơ bản giống với
hợp tác kỹ thuật theo kiểu dự án. Việc quản lý do nước thứ ba tiến hành dựa
trên việc ký một văn bản để nghiên cứu và phát triển…Còn Nhật Bản cung
cấp viện trợ hoặc cử chuyên gia, chịu phí tổn về đào tạo và các phương tiện
khác. Hệ thống này nhằm thúc đẩy hợp tác kỹ thuật giữa các nước đang phát
triển và chuyển giao đầy đủ công nghệ.
Việc cử chuyên gia là một hình thức hợp tác kỹ thuật đã có lịch sử lâu
dài. Việc này được tiến hành theo các ký kết quốc tế giữa Nhật Bản với các
nước đang phát triển hoặc theo yêu cầu của các tổ chức đa phương. Việc cử
các chuyên gia được tiến hành theo nhiều cách khác nhau. Trong mỗi trường
hợp, mục đích chính là chuyển giao hiểu biết, công nghệ sang các nước đang
phát triển thông qua định hướng, điều tra và nghiên cứu, góp ý…Việc cải tiến
Thế giới đã thừa nhận sự cần thiết của loại hình viện trợ này đối với các
nước đang phát triển và Nhật Bản cũng chú trọng tới loại hình này.Nhật Bản
tích cực tham gia hỗ trợ cho các cuộc cải cách này.
4. ODA góp phần tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện để mở
rộng đầu tư phát triển trong nước.
Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào
một nước, trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lời của vốn đầu tư tại nước
đó. Họ cảnh giác với những nguy cơ làm tăng các phí tổn của đầu tư.
Một cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh,
phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng
lượng (điện, nhiên liệu) không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư
vì rằng những phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng những tiện nghi hạ
tầng sẽ lên cao, chưa kể đến thiệt hại như hoạt động của nhà máy, xí nghiệp
phải dừng vì mất điện, công trình xây dựng bỏ dở vì không có nước.
Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do làm cho các nhà đầu tư e
ngại, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự thiếu thốn
các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tư gia tăng, dẫn
tới hiệu quả đầu tư giảm sút.
Như vậy, đầu tư của Chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây
dựng mới các cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần
thiết, nhằm làm cho môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn. Nhưng vốn đầu
tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn, trong nhiều trường hợp, các
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam cần phải dựa vào nguồn vốn ODA
để bổ sung cho vốn đầu tư hạn hẹp từ ngân sách Nhà nước. Một khi môi
trường đầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI. Nguồn vốn
ODA của Mỹ, Nhật và một số nước khác chủ yếu được đầu tư để phát triển cơ
sở hạ tầng của các nước Đông Á. Nhờ cơ sở hạ tầng phát triển mà các nước
này có điều kiện thuận lợi trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Mặt khác, việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ
tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công
Mỗi nguồn vốn đều có những đặc điểm và thế mạnh riêng, không
thể thay thế cho nhau. Vốn ODA cũng như vốn nước ngoài là quan trọng
nhưng không thể thay được tính chất quyết định của nguồn vốn trong
nước. Vốn ODA chỉ là chất xúc tác giúp chúng ta khai thác các tiềm năng
sẵn có để phát triển, tức là chỉ gián tiếp tác động đến phát triển sức mạnh
kinh tế của quốc gia.
Thế mạnh của mỗi nguồn vốn chỉ phát huy được khi có sự phối hợp với
các nguồn vốn khác, nhằm tạo nên một sức mạnh tổng hợp thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội. Vì vậy, cần phối hợp sử dụng vốn ODA với vốn FDI, vốn
đầu tư tư nhân và hộ gia đình, vốn của các doanh nghiệp nhà nước và các nguồn
vốn ngân sách khác.
Trong nguyên tắc cơ bản về quản lý và sử dụng vốn ODA của Nghị
định 17/NĐ-CP cũng nêu ra: ODA là một nguồn vốn quan trọng của Ngân
sách Nhà nước. Một phần nguồn vốn này được tiêu dùng thường xuyên như
viện trợ khẩn cấp về lương thực , thuốc men Còn đại bộ phận được sử dụng
cho đầu tư phát triển. Vốn ODA thường được đầu tư và các lĩnh vực, các địa
bàn mà vốn tư nhân, vốn FDI không đầu tư vào.
Vốn ODA cũng được dùng để cho các doanh nghiệp, các hộ gia đình,
tư nhân vay lại để kết hợp với các nguồn vốn khác phát huy tác dụng. Chẳng
hạn chư các dự án thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn, thuộc các ngành
được ưu đãi đầu tư như trồng cây lâu năm trên đất chưa sử dụng, đồi núi trọc,
nghiên cứu khoa học công nghệ
Quan điểm 3: Sử dụng vốn ODA để phát triển hạ tầng kinh tế xã
hội có trọng tâm, trọng điểm.
Một mục tiêu chung nhất của các nhà tài trợ là sử dụng ODA để tạo
môi trường, tạo điều kiện ban đầu cho nước nhận tài trợ khai thác các nguồn
lực khác nhau trong nước. Đại bộ phận ODA được sử dụng để đầu tư phát
triển hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường thể chế.
Phát triển theo trung tâm và lan tỏa dần là vấn đề có tính quy luật trong
phát triển kinh tế theo không gian. Chính vì vậy, tập trung vốn ODA xây
ngoài (ODA) hoặc Chính phủ bảo lãnh vay, gánh nặng nợ nần sẽ do ngân
sách nhà nước gánh chịu.
Tất cả các khoản nợ này cuối cùng cũng phải trả cả gốc và lãi theo
những lịch trình khác nhau (vay ngắn hạn một hai năm, trung hạn 5-10 năm
và dài hạn 10-20 năm), chính vì vậy quá trình vay trả nợ nước ngoài không
được quản lý chặt chẽ thì có thể gây mất cân đối cho các cân thanh toán quốc
tế của đất nước, làm ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô.
Nợ chính phủ hiện đang chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số nợ quốc gia.
Kinh nghiệm quốc tế đã cho chúng ta nhiều bài học quý giá về việc lựa chọn
phương thức và mức độ vay vốn nước ngoài. Tuy nhiên, mỗi nước đều có
những điều kiện phát triển đặc thù, hơn nữa tình hình thế giới lại không
ngừng biến đổi. Vì vậy, Việt Nam cần phải có một chính sách về vốn và nợ
nước ngoài riêng của mình. Có thể phác hoạ một số nét chủ yếu của chính
sách đó như sau:
- Thứ nhất, chính sách đó phải là một yếu tố cấu trúc của chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội tổng thể. Để chính sách này thực sự là một chính
sách có hiệu quả thì điều trước tiên cần đạt được là phải lựa chọn một chiến
lược, mô hình phát triển tổng thể đúng đắn. Mô hình và chiến lược đó không
thể chỉ dừng lại ở những nét đại cương mà phải chứa đựng các luận cứ cụ thể
và có cơ sở khoa học thực tiễn vững vàng. Chỉ trên cơ sở đó, việc tìm kiếm và
áp dụng các giải pháp về vốn và nợ nước ngoài mới có khả năng trở thành
những giải pháp khả thi.
- Thứ hai, để tránh bùng nổ hiểm họa ẩn chứa trong nợ nước ngoài,
phương châm tích cực nhất vẫn là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Để đạt được
mục tiêu đó, cần phải có quan điểm xử lý nợ rõ ràng ngay từ khâu vay vốn và
thực hiện các dự án đầu tư. Vốn vay phải được đầu tư vào các lĩnh vực phù
hợp với quá trình công nghiệp hoá của đất nước. Đồng thời, cần phải có các
quy chế rõ ràng đòi hỏi dự án vay vốn chỉ được chấp thuận khi nó luận chứng
đầy đủ khả năng trả nợ.
- Thứ ba, tạo lập và duy trì một môi trường vĩ mô lành mạnh và ổn định
- Tổng giá trị ký kết hiệp định của các nhà tài trợ trong năm 2005 đạt
khoảng gần 3 tỷ USD và tổng số giải ngân là hơn 1.7 tỷ USD.
- Tổng số vốn cam kết hỗ trợ phát triển chính thức mà các nhà tài trợ
dành cho Việt Nam trong năm 2007 đã đạt con số 4.44 tỷ USD, cao hơn 700
triệu USD so với mức cam kết năm 2006. ADB trở thành nhà tài trợ lớn nhất,
tiếp theo là Nhật Bản, WB, EU.
2. Tình hình huy động ODA trong giai đoạn 1993-2010
2.1 Giai đoạn 1993-2006
ODA là nguồn vốn quan trọng của ngân sách Nhà nước, được sử dụng
để hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ưu tiên.
Ngày 9/11/1993, Hội nghị quốc tế các nhà tài trợ dành cho Việt Nam
đã khai mạc tại Paris, đây là sự kiện đánh dấu sự hội nhập của Việt Nam với
cộng đồng tài trợ quốc tế. Thông qua 14 Hội nghị CG (Hội nghị Nhóm tư vấn
các nhà tài trợ dành cho Việt Nam), các nhà tài trợ đã cam kết ODA cho nước
ta với tổng lượng đạt 37,011 tỷ USD. Mức cam kết năm sau cao hơn năm
trước và đạt đỉnh điểm trong năm 2006 (4,4 tỷ USD). Trong thời kỳ 1993-
2006, tổng giá trị ODA cam kết là 37,011 tỷ USD; tổng vốn ODA ký kết đạt
khoảng 27,810 tỷ USD, tương đương 75% tổng vốn ODA cam kết; tổng vốn
ODA giải ngân đạt xấp xỉ 17,684 tỷ USD, tương đương 63,54% tổng vốn
ODA ký kết.
ODA được cung cấp theo dự án hoặc chương trình dưới hình thức viện
trợ không hoàn lại và vay ưu đãi. Khoảng 15 - 20% số vốn ODA cam kết nói
trên là viện trợ không hoàn lại, hầu hết là các dự án hỗ trợ kỹ thuật, còn lại
một phần nhỏ là các dự án đầu tư xây dựng quy mô nhỏ và phi dự án (viện trợ
hàng hóa). Các khoản vay ưu đãi tập trung cho các dự án đầu tư xây dựng,
trong đó có các dự án cấp quốc gia với giá trị hàng trăm triệu đô la Mỹ. Ngoài
ra, còn có các khoản vay theo chương trình gắn với việc thực hiện khung
chính sách, như khoản vay thể chế tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo của
IMF, chương trình tín dụng hỗ trợ giảm nghèo của WB.
Bảng 1: Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 1993-2006
tỷ USD và cho thấy xu thế gia tăng liên tục nguồn vốn ODA cam kết trong
suốt thời gian qua.
Trên cơ sở số vốn ODA cam kết của các nhà tài trợ đa phương và song
phương, Chính phủ Việt Nam đã ký kết với các nhà tài trợ các Điều ước quốc
tế về ODA (như hiệp định, nghị định thư, dự án, chương trình). Tính từ năm
1993 đến 9/2006, tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODA đã được ký kết
ước đạt khoảng 31,6 tỷ USD. Trong đó, vốn vay là 25,65 tỷ USD với 559 hiệp
định; viện trợ không hoàn lại khoảng 6 tỷ USD.
Phần lớn các hiệp định vay đều có lãi suất rất ưu đãi, thời hạn vay và ân
hạn dài. 48,8% số hiệp định vay đã ký có lãi suất dưới 1%/năm, thời hạn vay
trên 30 năm, trong đó có 10 năm ân hạn; 33,9% hiệp định vay đã ký có lãi
suất từ 1 – 2,5%/năm; khoảng 17,3% hiệp định vay đã ký có điều kiện vay
kém ưu đãi hơn.
Trong năm 2006, nguồn vốn ODA được hợp thức hoá thông qua việc ký
kết các hiệp định với các nhà tài trợ đạt 2.824,58 tiệu USD, trong đó ODA
vốn vay là 2.423,64 triệu USD và ODA viện trợ không hoàn lại 400,94 triệu
USD. Nguồn vốn ODA được ký kết tiếp tục tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên
như: Công nghiệp- Năng lượng (30,78%); Giao thông vận tải-Bưu chính viễn
thông (20,51%); Nông nghiệp và phát triển nông thôn (14,31%); Tài chính
ngân hàng (13,19%).
2.2. Tình hình huy động ODA giai đoạn 2006- đến nay.
Trong 3 năm 2006-2008, tình hình vận động và thu hút ODA có sự bứt
phá mạnh mẽ. Với đặc trưng là Hội nghị CG cho Việt Nam thường tổ chức
vào cuối năm, do vậy Hội nghị CG năm nay đưa ra cam kết ODA cho năm
sau. Cam kết ODA tại Hội nghị CG năm 2007: 5,43 tỷ USD và năm 2008:
5,0146 tỷ USD. Riêng ODA cho năm 2009 có khoản cam kết mới trị giá 83,2
tỷ yên (tương đương 900 triệu USD) của Chính phủ Nhật Bản khi nối lại viện
trợ cho Việt Nam vào ngày 23 tháng 2 năm 2009. Như vậy, nếu bao gồm cả
khoản cam kết mới trị giá 83,2 tỷ yên (tương đương 900 triệu USD) của
Chính phủ Nhật Bản khi nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam vào đầu tháng
nghèo kết hợp với việc khuyến khích thực hiện các chính sách phát triển cũng
đã được ký trong năm 2008, trong đó đáng chú ý là Chương trình khoản vay
thể thức giảm nghèo (PRSC7) do WB và một số nhà tài trợ khác đồng tài trợ.
Thu hút ODA năm 2009: cao kỷ lục. Tính đến ngày 17/11, tổng vốn
viện trợ phát triển chính thức đã ký kết đạt trên 5,4 tỷ USD, trong đó, vốn vay
đạt gần 5,23 tỷ USD; viện trợ không hoàn lại đạt hơn 173 triệu USD. Nếu so
với kết quả đạt được của cùng kỳ năm 2008, vốn ODA ký kết đến thời điểm
này đã cao hơn 36,62%. Các nhà tài trợ có giá trị hiệp định ODA đã ký lớn là
WB, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)và Nhật Bản. Điểm đáng chú ý
trong con số ODA năm 2009 là những nhà tài trợ lớn đều dành cho Việt Nam
số vốn ký kết cao hơn so với cam kết trước đó. Thay đổi lớn nhất trong số này
là số vốn ODA ký kết của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Thay cho
cam kết gần 1,57 tỷ USD vốn ODA trong năm 2009, ADB đã phê duyệt tổng
cộng 2,15 tỷ USD vốn ODA cho Việt Nam. Nhật Bản cũng đã ký kết tổng
cộng trên 2,11 tỷ USD vốn viện trợ phát triển chính thức cho Việt Nam, thay
vì cam kết 0,9 tỷ USD mà Chính phủ nước này công bố sau khi nối lại ODA
vào tháng 2/2009.
Xét về cơ cấu vốn ODA ký kết, chiếm tỷ trọng cao nhất (chiếm 30,9%)
là lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ với 1,67 tỷ USD vốn
ODA ký kết. Tiếp đến là lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, thủy sản
kết hợp phát triển nông nghiệp và nông thôn, xóa đói giảm nghèo với gần
1,37 tỷ USD (chiếm 24,7%). Sau đó là giao thông vận tải với 899 triệu USD,
chiếm tỷ trọng 16,7%; năng lượng với 818 triệu USD, chiếm 15,2%; cấp thoát
nước và phát triển đô thị với gần 679 triệu USD, chiếm 12,6%.
Việc hiện thực hóa 5,914 tỷ USD số vốn ODA đã cam kết tại Hội nghị
thường niên Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) năm 2008, (bao
gồm khoản cam kết mới trị giá 83,2 tỷ Yên (tương đương 900 triệu USD) của
Chính phủ Nhật Bản khi nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam vào tháng
2/2009), đã hoàn thành với trên 5,446 tỷ USD được ký kết với các nhà tài trợ
trong 11 tháng năm 2009. Những chương trình, dự án có giá trị lớn được ký
tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.
Căn cứ vào chính sách ưu tiên sử dụng ODA của Chính phủ, Việt Nam đã
định hướng nguồn vốn này ưu tiên cho các lĩnh vực như giao thông vận tải;
phát triển năng lượng điện; phát triển nông nghiệp và nông thôn bao gồm cả
thủy lợi, thủy sản, lâm nghiệp; cấp thoát nước và bảo vệ môi trường; y tế,
giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ
* Vốn ODA đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt của cơ sở hạ tầng kinh tế.
Cũng giống như các nước đang phát triển khác, Việt Nam thường được
nhận nhiều ODA nhằm mục tiêu cải thiện cơ sở hạ tầng, đặc biệt trong lĩnh
vực giao thông vận tải, truyền thông và năng lượng.
Hơn 4,5 tỷ USD vốn ODA với 101 dự án do Trung ương quản lý đã và
đang được thực hiện để phát triển ngành giao thông vận tải, chủ yếu tập trung
cho đường bộ, đường biển và giao thông nông thôn.
Vốn ODA đã được sử dụng để khôi phục, nâng cấp và xây dựng mới 3.676
km đường quốc lộ; khôi phục và cải tạo khoảng 1.000 km đường tỉnh lộ;
Quốc lộ 5, quốc lộ 1A (đoạn Hà Nội-Vinh; đoạn TP. Hồ Chí Minh-Cần Thơ,
TP. Hồ Chí Minh-Nha Trang); làm mới và khôi phục 188 cầu, chủ yếu trên
các Quốc lộ 1, Quốc lộ 10, Quốc lộ 18 với tổng chiều dài 33,7 km; cải tạo và
nâng cấp 10.000 km đường nông thôn và khoảng 31 km cầu nông thôn quy
mô nhỏ; Cầu Mỹ Thuận; xây dựng mới 111 cầu nông thôn với tổng chiều dài
7,62 km (khẩu độ bình quân khoảng 25 – 100 m).
Vốn ODA đã đầu tư nâng cấp giai đoạn 1 cho cảng Hải Phòng để có thể
bốc xếp được 250.000 TEV/năm; nâng cấp cảng Sài Gòn có công suất bốc
xếp từ 6,8 triệu tấn/năm lên 8,5 triệu tấn/năm; xây dựng mới cảng nước sâu
Cái Lân; cải tạo cảng Tiên Sa, Đà Nẵng.
Nguồn vốn ODA đầu tư cho việc phát triển ngành điện với tổng cam kết
cho đến năm 2003 là 3,7 tỷ USD, hiện chiếm 40,3% trong tổng vốn đầu tư với
7 nhà máy điện lớn (Phú Mỹ 1, Phú Mỹ 2, Hàm Thuận - Đa Mi, Sông Hinh,
Đa Nhim, Phả Lại 2, Trà Nóc) có công suất thiết kế chiếm 40% tổng công
suất của các nhà máy điện ở Việt Nam xây dựng trong kế hoạch 5 năm 1996 –
và chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc đều được cải thiện hàng năm.
ODA không chỉ bổ sung nguồn lực cho các chương trình xã hội mà điều
quan trọng là đã góp phần thay đổi nhận thức và hành vi của người dân trong
các lĩnh vực xã hội đòi hỏi có sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp dân cư,
như phòng chống đại dịch HIV/AIDS, phòng chống ma túy
* ODA đã có tác dụng tích cực trong tăng cường năng lực, phát triển thể
chế trên nhiều lĩnh vực, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng pháp luật, cải
cách hành chính
Nhiều cơ quan đã được tăng cường năng lực với một lượng lớn các cán bộ được
đào tạo và tái đào tạo về khoa học, công nghệ và kinh tế. ODA cũng mang lại
những kinh nghiệm quốc tế có giá trị đối với sự nghiệp phát triển của nhiều lĩnh
vực kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường, quản lý nhà nước,
pháp luật.
Với sự hỗ trợ kỹ thuật của ODA, một số bộ luật quan trọng đã được chuẩn bị
đúng hạn và được Chính phủ trình Quốc hộ thông qua góp phần đáp ứng yêu cầu
cải cách thể chế trong tiến trình của Việt Nam gia nhập WTO như Luật Đầu tư,
Luật Đấu thầu, Luật Phòng chống tham nhũng ;