MỤC LỤC
Chương 1 cơ sở lý luận 4
1.1 Khái quát chung về sản phẩm 4
1.1.1 Khái niệm sản phẩm
1.1.2 Phân loại sản phẩm
1.1.3 Các thuộc tính của sản phẩm
1.2.Khái quát về chất lượng sản phẩm 5
1.2.1. Khái niệm về chất lượng.
1.2.2. Sự hình thành chất lượng sản phẩm
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
1.2.3.1. Nhóm yếu tố bên ngoài (vĩ mô)
1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
1.2.4.1. Trình độ chất lượng
1.2.4.2. Chất lượng toàn phần
1.2.4.4. Tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng
1.2.4.5. Các chỉ tiêu sản phẩm sai hỏng
1.3. Khái quát chung về quản lý chất lượng sản phẩm 11
1.3.1. Khái niệm về quản lý chất lượng
1.3.2. Các thuật ngữ cơ bản trong khái niệm quản lý chất lượng
1.3.3. Các phương pháp quản lý chất lượng
1.3.3.1. Phương pháp kiểm tra chất lượng
1.3.3.2. Phương pháp kiểm soát chất lượng toàn diện
1.3.3.3. Phương pháp quản lý chất lượng toàn diện (TQM- Total Quality
Managenment
1.4.Các công cụ cơ bản trong quản lý chất lượng 15
1.4.1. Phiếu kiểm tra chất lượng
1.4.2. Biểu đồ Pareto.
1.4.3. Biểu đồ nhân quả (Sơ đồ Ishikawa)
1.4.4. Biểu đồ kiểm soát
1.4.5. Sơ đồ lưu trình
1
rất khó đứng vững trên thị trường.
Đối với ngành Vật liệu xây dựng, nền tảng của công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, thì vấn đề của nâng cao chất lượng sản phẩm lại cựu kì quan
trọng. Để thực hiện được mục tiêu của Đảng đề ra:” Đến năm 2020 ra sức phấn
đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp thì ngành Vật liệu xây
dựng trong nước phải dủ năng lực sản xuất để cung cấp về số lượng và chất
lượng cho thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên hiện nay tình trạng thiết
bị của ngành Vật liệu xây dựng đã quá cũ kỹ, công nghiệp lạc hậu so với thế
giới hàng chục năm do đó chất lượng sản phẩm của ngành khó có thể đáp ứng
một cách đầy đủ cho thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế.
Thực tế cho thấy đây chính là thách thức lớn nhất đối với ngành vật liệu
xây dựng Việt Nam nói chung và công ty Cổ phần Xây dựng Miền đông. Để
thích ứng kịp thời với tình hình này Công ty đã và đang thực hiện chiến lược
sản phẩm kinh doanh và năng động đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao chất
lượng sản phẩm và năng lực sản xuất của mình để dần chiếm lĩnh thị trường,
phấn đấu trở thành một trung tâm Vật liệu xây dựng của Việt Nam trong những
năm đầu thế kỷ XXI.
Xuất phát từ thực tế trên, Em đã chọn đề tài: “ Phân tích Quản trị chất
lượng sản phẩm tại công ty Cổ phần Xây dựng Miền đông”.Làm báo cáo thực
tập với mong muốn đóng góp một phần nhỏ những suy nghĩ của mình vào việc
nâng cao chất lượng sản phẩm tại Công ty.
3
Chương 1
Cơ sở lý luận
1.1 Khái quát chung về sản phẩm:
1.1.1 Khái niệm sản phẩm.
Theo ISO 9000:2000 trong phần thuật ngữ thì sản phẩm được định nghĩa là
“kết quả của các hoạt động hay các quá trình”. Như vậy, sản phẩm được tạo ra
từ tất cả mọi hoạt động bao gồm cả những hoạt động sản xuất ra vật phẩm vật
chất cụ thể và các dịch vụ.
thuật, độ an toàn, dung sai)
Nhóm các thuộc tính kinh tế - kỹ thuật: Nhóm thuộc tính này quyết định
trình độ, những chi phí cần thiết để chế tạo sản xuất, tiêu dùng và thải bỏ một
sản phẩm.
Nhóm thuộc tính thụ cảm: Đối với nhóm thuộc tính này rất khó lượng hoá,
nhưng chính chúng lại có khả năng làm cho sản phẩm hấp dẫn người tiêu dùng.
Đó là những thuộc tính mà thông qua việc sử dụng và tiếp xúc với sản phẩm
người ta mới nhận biết được chúng như sự thích thú, sang trọng, mỹ quan …
Nhóm thuộc tính này có khả năng làm tăng giá trị của sản phẩm.
1.2.Khái quát về chất lượng sản phẩm.
1.2.1. Khái niệm về chất lượng.
Chất lượng là một khái niệm vừa trừu tượng vừa cụ thể rất khó để định
nghĩa đúng và đầy đủ về chất lượng bởi dưới cái nhìn của các nhà doanh
nghiệp, người quản lý, chuyên gia, người công nhân, người buôn bán thì chất
lượng lại được hiểu ở góc độ của họ.
Trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000, phần thuật ngữ ISO 9000 đã đưa ra định
nghĩa chất lượng:”Chất lượng là mức độ thoả mãn của một tập hợp các thuộc
tính đối với các yêu cầu”. Yêu cầu có nghĩa là những nhu cầu hay mong đợi
được nêu ra hay tiềm ẩn.
5
Theo tử điển tiếng Việt phổ thông: Chất lượng là tổng thể những tính chất,
thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt
với sự vật (sự việc) khác.
Theo chuyên gia K Ishikawa: Chất lượng là khả năng thoả mãn nhu cầu
của thị trường với chi phí thấp nhất.
Quan niệm của nhà sản xuất: Chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của
một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã được
xác định trước.
Quan niệm của người bán hàng: Chất lượng là hàng bán hết, có khách hàng
thường xuyên.
1.2.2. Sự hình thành chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm của một sản phẩm bất kỳ nào đó cũng được hình
thành qua nhiều quá trình và theo một trật tự nhất định. Rất nhiều chu trình
hình thành nên chất lượng sản phẩm được nêu ra song đều thống nhất là quá
trình hình thành chất lượng sản phẩm xuất phát từ thị trường trở về với thị
trường trong một chu trình khép kín.
Hình 1.2.2: Chu trình hình thành chất lượng sản phẩm.
Trong đó:
(1). Nghiên cứu thị trường: Nhu cầu số lượng, yêu cầu về chất lượng.
(2). Thiết kế sản phẩm: Khi xác định được nhu cầu sẽ tiến hành thiết kế
xây dựng các quy định, quy trình kỹ thuật.
(3). Triển khai: Dây truyền công nghệ, đầu tư, sản xuất thử, dự toán chi
phí…
(4). Sản xuất: Chế tạo sản phẩm.
(5) (6) (7). Kiểm tra: Kiểm tra chất lượng sản phẩm, tìm biện pháp đảm
bảo chất lượng quy định, chuẩn bị xuất xưởng.
(8). Tổ chức: Dự trữ, bảo quản, vận chuyển…
7
1
12
2
11
10
9
8
7
6
5
4
3
lượng sản phẩm.
Tiến bộ khoa học - công nghệ tạo phương tiện điều tra, nghiên cứu khoa
học chính xác hơn, xác định đúng đắn nhu cầu và biến đổi nhu cầu thành đặc
điểm sản phẩm chính xác hơn nhờ trang bị những phương tiện đo lường, dự
báo, thí nghiệm, thiết kế tốt hơn, hiện đại hơn.
Nhờ tiến bộ khoa học - công nghệ làm xuất hiện các nguồn nguyên liệu
mới tốt hơn, rẻ hơn nguồn nguyên liệu sẵn có.
8
Khoa học quản lý phát triển hình thành những phương pháp quản lý tiên
tiến hiện đại góp phần nắm bắt nhanh hơn, chính xác hơn nhu cầu khách hàng
và giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng mức thoả
mãn khách hàng.
* Cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của các quốc gia:
Môi trường pháp lý với những chính sách và cơ chế quản lý kinh tế có tác
động trực tiếp và to lớn đến việc tạo ra và nâng cao chất lượng sản phẩm của
các doanh nghiệp.
Một cơ chế phù hợp sẽ kích thích các doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư, cải
tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
* Các yêu cầu về văn hoá, xã hội:
Những yêu cầu về văn hoá, đạo đức, xã hội và tập tục truyền thống, thói
quen tiêu dùng có ảnh hưởng trực tiếp tới các thuộc tính chất lượng của sản
phẩm, đồng thời có ảnh hưởng gián tiếp thông qua các qui định bắt buộc mỗi
sản phẩm phải thoả mãn những đòi hỏi phù hợp với truyền thống, văn hoá, đạo
đức, xã hội của các cộng đồng. 1.2.3.2. Nhóm yếu tố bên trong (vi mô).
Bốn yếu tố trong tổ chức được biểu thị bằng qui tắc 4M là:
Men: Con người, lực lượng lao động (yếu tố quan trọng nhất).
Methods or Measure: Phương pháp quản lý, đo lường.
Machines: Khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị.
Materials: Vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống cung cấp.
1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm.
: Chi phí sử dụng sản phẩm.
1.2.4.2. Chất lượng toàn phần - Q
T
: Là tỷ số giữa hiệu ích khi sử dụng sản
phẩm và chi phí để sử dụng sản phẩm đó. (Dùng để đánh giá trong khâu sử
dụng)
Q
T
=
H
s
G
nc
Trong đó: H
s
: Hiệu ích khi sử dụng sản phẩm.
G
nc
: Chi phí để sử dụng sản phẩm đó.
1.2.4.3
. Hiệu
suất
sử dụng
sản phẩm
- η (η ->
1 : Càng
tốt).
T
C
1.2.4.4. Tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng.
quality).
Ý tưởng chiến lược của quản lý chất lượng là: Không sai lỗi (ZD - Zezo
Defect).
Phương châm: Làm đúng ngay từ đầu (Do right the first time), không có
tồn kho (non stock production), hoặc phương pháp cung ứng đúng hạn, kịp
thời, đúng nhu cầu.
1.3.2. Các thuật ngữ cơ bản trong khái niệm quản lý chất lượng.
Chính sách chất lượng (QP - Quality policy): Là ý đồ và định hướng chung
về chất lượng của một doanh nghiệp, do cấp lãnh đạo cao nhất chính thức đề ra
và phải được toàn thể thành viên trong tổ chức biết và không ngừng được hoàn
thiện.
Mục tiêu chất lượng (QO - Quality objectives): Đó là sự thể hiện bằng văn
bản các chỉ tiêu, các quyết tâm cụ thể (định lượng và định tính) của tổ chức do
11
Đóng gói, bảo quản
Tổ chức
sản xuất
kinh
doanh
Khách hàng
Bán và lắp đặt
Thử nghiệm, kiểm tra
Sản xuất thử và
dây chuyền
Cung ứng vật tư
Nghiên cứu đổi
mới sản phẩm
Dịch vụ sau
bán hàng
ban lãnh đạo thiết lập, nhằm thực thi các chính sách chất lượng theo từng giai
12
1.3.3.1. Phương pháp kiểm tra chất lượng.
Phương pháp này được hình thành từ lâu và chủ yếu là tập trung vào khâu
cuối cùng (sản phẩm sau khi sản xuất). Căn cứ vào các yêu cầu kỹ thuật, các
tiêu chuẩn đã được thiết kế hay các quy ước của hợp đồng mà bộ phận kiểm tra
chất lượng tiến hành kiểm tra nhằm ngăn chặn các sản phẩm hư hỏng và phân
loại sản phẩm theo các mức chất lượng. Do vậy, khi muốn nâng cao chất lượng
sản phẩm người ta cho rằng chỉ cần nâng cao các tiêu chuẩn kỹ thuật bằng cách
tăng cường công tác kiểm tra. Tuy nhiên với cách kiểm tra này không khai thác
được tiềm năng sáng tạo của từng cá nhân trong đơn vị để cải tiến, nâng cao
chất lượng sản phẩm. Hơn nữa việc kiểm tra gây nhiều tốn kém trong khi đó
loại bỏ được phế phẩm ít. Mặc dù vậy phương pháp này cũng có một số tác
dụng nhất định nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính thực tế (đối tượng)
so với qui định.
1.3.3.2. Phương pháp kiểm soát chất lượng toàn diện.
Thuật ngữ kiểm soát chất lượng toàn diện do Feigenbaum đưa ra trong lần
xuất bản cuốn sách Total Quality Control (TQC) của ông năm 1951. Trong lần
tái bản lần thứ ba năm 1983, Ông định nghĩa TQC như sau: Kiểm soát chất
lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hoá các nỗ lực phát
triển và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tổ chức sao
cho các hoạt động Marketing, kỹ thuật và dịch vụ có thể tiến hành một cách
kinh tế nhất, thoả mãn hoàn toàn khách hàng.
Kiểm soát chất lượng toàn diện huy động nỗ lực của mọi đơn vị trong công
ty vào các quá trình có liên quan tới duy trì và cải tiến chất lượng. Điều này sẽ
giúp tiết kiệm tối đa trong sản xuất, dịch vụ, đồng thời thoả mãn nhu cầu khách
hàng.
Như vậy, giữa kiểm tra và kiểm soát chất lượng có khác nhau. Kiểm tra là
sự so sánh, đối chiếu giữa chất lượng thực tế của sản phẩm với những yêu cầu
kỹ thuật, từ đó loại bỏ các phế phẩm. Kiểm soát là hoạt động bao quát hơn,
toàn diện hơn. Nó bao gồm toàn bộ các hoạt động Marketing, thiết kế, sản xuất,
Check (Kiểm tra kết quả thực hiện công việc): Mục tiêu là để phát hiện sai
lệch và điều chỉnh kịp thời trong quá trình thực hiện. Trong công tác quản lý
chất lượng việc kiểm tra được tiến hành nhờ phương pháp thống kê. Huấn
14
luyện và đào tạo cán bộ (tin vào lòng người và không cần phải kiểm tra thái
quá).
Act (Điều chỉnh): Khắc phục những sai lệch trên cơ sở phòng ngừa (phân
tích, phát hiện, loại bỏ nguyên nhân và có biện pháp chống tái diễn).
Vòng tròn Deming là công cụ quản lý chất lượng giúp cho các doanh
nghiệp không ngừng cải tiến, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả. Mỗi chức năng
của vòng tròn Deming PDCA có mục tiêu riêng song chúng có tác động qua lại
với nhau và vận động theo hướng nhận thức là phải quan tâm đến chất lượng là
trước hết. Quá trình thực hiện vòng tròn PDCA người ta đưa ra vòng tròn
PDCA cải tiến.
Hình 1.3.3.3: Vòng tròn Deming nhằm cải tiến chất lượng.
1.4.Các công cụ cơ bản trong quản lý chất lượng.
Trong quản lý chất lượng người ta thường dùng kỹ thuật SQC (Statistical
Quality Control - Kiểm soát chất lượng bằng thống kê) tức là áp dụng các
phương pháp thống kê để thu thập, trình bày, phân tích các dữ liệu một cách
đúng đắn, chính xác và kịp thời nhằm theo dõi, kiểm soát, cải tiến quá trình
hoạt động của một quá trình, một tổ chức bằng cách giảm tính biến động của
nó.
1.4.1. Phiếu kiểm tra chất lượng.
15
Vòng tròn Deming cải tiến
A
C
D
P
Vòng tròn Deming
- Sắp xếp dữ liệu trong bảng theo thứ tự từ lớn đến bé.
- Tính tỷ lệ % của từng dạng sai sót.
- Xác định tỷ lệ % sai số tích luỹ.
- Vẽ đồ thị cột theo tỷ lệ % của các dạng sai sót vừa tính ở trên. Thứ tự vẽ
dạng sai sót có tỷ lệ lớn nhất trước và theo thứ tự nhỏ nhất.
- Vẽ đường tích luỹ theo số % tích luỹ đã tính.
- Viết tiêu đề nội dung và ghi tóm tắt các dạng đặc trưng của sai sót lên đồ
thị.
16
Hình 1.4.2: Biểu đồ Pareto.
1.4.3. Biểu đồ nhân quả (Sơ đồ Ishikawa).
Khái niệm: Là một sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa kết quả và nguyên
nhân gây ra kết quả đó. Kết quả là những chỉ tiêu chất lượng cần theo dõi, đánh
giá, còn nguyên nhân là những yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu chất lượng đó.
Mục đích của sơ đồ nhân quả: là tìm kiếm, xác định các nguyên nhân gây
ra những trục trặc về chất lượng sản phẩm, dịch vụ hoặc quá trình. Từ đó đề
xuất những biện pháp khắc phục nguyên nhân nhằm cải tiến và hoàn thiện chất
lượng của đối tượng quản lý.
Cách xây dựng:
- Xác định đặc tính chất lượng cụ thể cần phân tích.
- Vẽ chỉ tiêu chất lượng là mũi tên dài biểu hiện xương sống cá, đầu mũi
tên ghi chỉ tiêu chất lượng đó.
- Xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến chỉ tiêu chất lượng đã lựa chọn;
vẽ các yếu tố này như những xương nhánh chính của cá.
- Tìm tất cả các yếu tố khác có ảnh hưởng đến nhóm yếu tố chính vừa xác
định
- Trên mỗi nhánh xương của từng yếu tố chính, vẽ thêm các nhánh xương
dăm của cá thể hiện các yếu tố trong mối quan hệ họ hàng, trực tiếp gián tiếp.
- Ghi tên các yếu tố và chỉ tiêu chất lượng trên sơ đồ.
Để sơ đồ nhân quả chính xác, phát huy tác dụng tốt, cần có sự hợp tác phối
Khả năng của quá trình phản ánh mối quan hệ giữa độ lệch tất nhiên của
quá trình và các thông số thiết kế. Mối quan hệ này thường được biểu hiện
bằng chỉ số khả năng quá trình được ký hiệu là C
p
. Chỉ số khả năng quá trình
18
Chỉ tiêu
chất
lượng
Người
N.V.Liệu P.Pháp
Thiết bị
Trình độ
Tuổi
Khuôn
Động cơ
chính là tỷ số phản ánh độ rộng của các thông số thực tế so với thông số tất yếu
của quá trình.
C
p
=
UTL - LTL
6σ
UTL: Giá trị đo thực tế lớn nhất (được tính tuỳ theo là loại biểu đồ gì).
LTL: Giá trị đo thực tế nhỏ nhất (được tính tuỳ theo là loại biểu đồ gì).
σ là độ lệch chuẩn của quá trình
C
p
> 1,33 : Quá trình có khả năng kiểm soát
1 ≤ C
nhằm khôi phục quá trình về trạng thái chấp nhận được hoặc giữ quá trình ở
trạng thái mới tốt hơn.
1.4.5. Sơ đồ lưu trình.
Sơ đồ lưu trình là hình thức thể hiện toàn bộ các hoạt động cần thực hiện
của một quá trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm và dịch vụ thông qua
những sơ đồ khối và các ký hiệu nhất định.
Nó được sử dụng để nhận biết, phân tích quá trình hoạt động, nhờ đó phát
hiện các hạn chế, các hoạt động thừa lãng phí và các hoạt động không tạo ra giá
trị gia tăng trong doanh nghiệp.
Sơ đồ lưu trình là một công cụ đơn giản nhưng rất tiện lợi, giúp những
người thực hiện hiểu rõ quá trình, biết được vị trí của mình trong quá trình và
xác định được những hoạt động cụ thể cần sửa đổi. Có thể biểu diễn sơ đồ tóm
lược như sau:
Hình 1.4.5: Sơ đồ lưu trình tổng quát.
1.5.Sự cần thiết của một hệ thống quản lý chất lượng trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân, giữ vai trò tối cần thiết
cho sự nghiệp phát triển của đất nước vì vậy việc áp dụng hệ thống quản lý
chất lượng đồng bộ tại các doanh nghiệp nói chung và ở Công ty Cổ phần và
Xây dựng Miền đông nói riêng là cần thiết
để đạt được:
20
Bắt đầu
Các hoạt động
Quyết định
Kết thúc
Hệ thống quản lý kinh tế thống nhất: Quản lý chất lượng là quản lý mặt
chất của hệ thống trong mối liên quan đến mọi bộ phận, mọi người và mọi công
việc trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Để đạt được mức chất
lượng cao nhưng ít tốn kém nhất, cần phải quản lý và kiểm soát mọi yếu tố của
vậy mới đáp ứng được đòi hỏi của thị trường và mục tiêu phục vụ cho ngành
vật liệu xây dựng
22
Chương 2
Phân tích quản trị chất lượng sản phẩm tại Công ty
Cổ phần Xây dựng Miền đông
2.1 Khái quát chung về Công ty Cổ phần và Xây dựng Miền đông
Tên gọi: Công ty Cổ phần và Xây dựng Miền đông
Tên giao dịch quốc tế: EASTERN AREA CONTRUCION STOCK
COMPANY
Trụ sở: 275 Lạch tray_Ngô quyền_Hải Phòng
Điện Thoại: 031.3733382 – 3733383 – 3733384 – FAX: 0313733385
Website: www.Gocongecjco.com
Nhà máy: Gốm Gò Công
Địa chỉ : An Tiến – An Lão – Hải Phòng
Điện Thoại:031.3572731 – 3572870 – 3572733 – 3872485
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
-Từ ngày 23 tháng 4 năm 1981 đến tháng 09 năm 1984:
Công ty vật tư thương nghiệp ngô quyền là tiền thân của công ty Cổ
Phần Xây Dựng Miền Đông hiện nay được UBND thành phố thành lập ngày
23/04/1981, với nhiệm vụ cung cấp hàng hoá vật tư tiêu dùng và ăn uống phục
vụ nhân dân thành phố.
-Từ tháng 10 năm 1984 đến tháng 03 năm 1991:
Công ty đổi tên thành Công ty kinh doanh với nhiệm vụ được mở
rộng.Thời kỳ này mặc dù bao cấp vẫn còn nhưng đã bắt đầu hình thành cơ chế
kinh tế mới. Các đơn vị được kinh doanh đa dạnh,them quyền được phân cấp
rộng hơn.
-Từngày 20 tháng 4 năm 1991 đến ngày 15 tháng 01 năm 1993:
Công ty đổi tên thành Công ty kinh doanh tổng hợp Ngô Quyền với
chực năng nhiệm vụ kinh doanh tổng hợp các ngành thương nghiệp phục vụ
Lao động là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, đảm bảo đủ số
lợng, chất lợng lao động là điều kiện cần thiết để kết quả của quá trình sản xuất
kinh doanh đợc tốt.
Tổng số lao động tại công ty là: 1347 ngời. Cơ cấu lao động của Công ty nh
sau:
S liu ly t phũng t chc:
n v: ngi
HĐQT
TGĐ
PTGĐ phụ
trách XDCB
PTGĐ phụ trách
kd
PTGĐ phụ
trách tài chính
PTGĐ phụ
trách sản xuất
Phòng kế hoạch
k thuật
Phòng kinh
doanh
Phòng kế
toán
Phòng tổ
chức
GĐ nhà máy
gạch Gò Công
PGĐ nhà máy tr ởng dây truyền 1 PGĐ nhà máy tr ởng dây truyền 2
Phó tr ởng
dây truyền 1