LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong xã hội ngày nay, nền kinh tế của chúng ta đang có những bước phát
triển không ngừng. Cùng với xu thế phát triển ấy, điều đương nhiên là sự ra đời
và phát triển của các tập đoàn kinh tế, các công ty, các doanh nghiệp… Với nền
kinh tế thị trường hiện nay, làm thế nào để tồn tại và phát triển vẫn đang và sẽ là
một vấn đề nóng bỏng, có tính thời sự đối với tất cả các doanh nghiệp.
Muốn đứng vững và phát triển trong quy luật cạnh tranh khốc liệt của nền
kinh tế thị trường thì hoạt động sản xuất kinh doanh của họ phải mang lại hiệu
quả kinh tế cao. Dù cho doanh nghiệp được tổ chức theo bất kỳ hình thức nào,
kinh doanh trong lĩnh vực nào, các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cũng
như nguyên tắc quản lý doanh nghiệp về cơ bản là như nhau. Hiệu quả quản lý
tài chính doanh nghiệp là một vấn đề trọng tâm quyết định hiệu quả kinh doanh.
Để có được điều đó, các nhà quản lý kinh tế rất quan tâm đến các biện pháp nâng
cao lợi nhuận, tìm hướng đi tốt nhất cho ý tưởng kinh doanh của mình. Các vấn
đề như : Marketting, Phân tích hoạt động kinh doanh, Phân tích báo cáo tài
chính, Thống kê doanh nghiệp….được các nhà hoạch định xem xét kỹ lưỡng trở
thành vấn đề cấp thiết được ưu tiên hàng đầu mỗi khi cần nghiên cứu.
Các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp cũng không nằm ngoài sự quan
tâm của các doanh nghiệp bởi qua phân tích các chỉ tiêu này, nhà quản lý thấy
được hoạt động tài chính của doanh nghiệp mình, từ đó đưa ra các biện pháp hữu
hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính cho doanh nghiệp, đưa ra các
quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh.
Chính vì lý do đó mà em chọn đề tài: " Phân tích các chỉ tiêu tài chính
chủ yếu và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính tại công ty Cổ
phần thép Việt Nhật " làm đề tài cho khóa luận của mình.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Là các bảng: Báo cáo kết quả kinh doanh, Bảng cân đối kế toán của công
ty Cổ phần thép Việt Nhật.
3. Mục đích nghiên cứu.
- Đánh giá một cách chính xác tình hinhg tài chính của công ty Cổ phần
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀTÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về tài chính và hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp.
1.1.1 Khái quát về tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những mối quan hệ giá trị giữa
doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính bao gồm:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước.
Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với
Nhà nước, khi nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính
Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài
trợ. Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn, có thể phát
hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn.
Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà
tài trợ. Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán
bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác.
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác
trên thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động. Đây là những thị
trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng,
tìm kiếm lao động…Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có
thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở
đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm
thỏa mãn nhu cầu thị trường.
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
3
Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất - kinh doanh, giữa cổ đông và người
quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn.
Các mối quan hệ này được thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp
Trong cơ chế quản lý kinh tế mới, phân tích tài chính được sử dụng để
nhận thức các đối tượng và kết quả kinh tế, để xác định quan hệ cấu thành và
quan hệ nhân quả cũng như để phát hiện quy luật tạo thành và quy luật phát triển
của chúng làm căn cứ khoa học cho các quyết định đúng đắn cho tương lai. Điều
đó có thể hiểu nếu không dựa trên kết luận từ phân tích tài chính thì những quyết
định đặt ra sẽ không đúng căn cứ khoa học và không có tính thực tiễn. Nếu tổ
chức thực hiện quyết định không có tính thực tiễn này sẽ không đạt được kết quả
mong muốn và ngược lại có thể mang lại những hậu quả nghiêm trọng cho các
doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
* Mục tiêu, ý nghĩa:
Đối với nhà quản trị:
Nhà quản trị phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Đó là cơ sở để
định hướng các quyết định của Ban giám đốc, Giám đốc tài chính, dự báo tài
chính: kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt động quản lý.
Đối với nhà đầu tư:
Nhà đầu tư cần biết tình hình thu nhập của chủ sở hữu – lợi tức cổ phần và
giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Họ quan tâm tới phân tích tài chính để nhận biết
khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Đó là một trong những căn cứ giúp họ ra
quyết định đầu tư hay không.
Đối với người cho vay:
5
Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của
doanh nghiệp.
Ngoài ra phân tích tài chính cũng cần thiết đối với người hưởng lương trong
doanh nghiệp, cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật sư…Dù họ công tác ở
lĩnh vực nào họ đều muốn biết về hoạt động của doanh nghiệp để thực hiện tốt
hơn công việc của họ
1.2.2 Thông tin phân tích tài chính
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn
hình doanh nghiệp, quy mô, mức tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Bảng cân
đối kế toán là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh
giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối
vốn của doanh nghiệp.
* Báo cáo kết quả kinh doanh
Khác với Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự
dịch chuyển của tiền trong trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động cảu doanh nghiệp trong tương
lai. Báo cáo kết quả kinh doanh cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với
số tiền thực tế xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp. Trên cơ sở doanh thu và chi
phí, có thể doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Nó cung cấp những thông
tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ
thuật và trình độ quản lý sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
* Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Đế đánh giá doanh nghiệp có đảm bảo được chi trả hay không, cần tìm
hiểu tình hình Ngân quỹ của doanh nghiệp. Ngân quỹ thường được xác định
trong thời hạn ngắn. Trên cơ sở xác định dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất
quỹ, nhà phân tích thực hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác
7
định số dư ngân quỹ cuối kỳ. Từ đó, có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối
thiểu cho doanh nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả.
1.2.3 Phương pháp phân tích tài chính
Khi phân tích tài chính doanh nghiệp, người ta có thể sử dụng một hay
nhiều phương pháp phân tích khác nhau nhưng trên thực tế khi đánh giá tình
hình tài chính doanh nghiệp ta thường sử dụng các phương pháp sau:
* Phương pháp đánh giá
Đây là phương pháp hay sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
đồng thời được sử dụng trong nhiều giai đoạn khác nhau của quá trình phân tích.
Thông thường để đánh giá người ta có thể sử dụng các phương pháp sau:
*Phương pháp tỷ số :
- So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu. Điều đó
được thể hiện: Các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài
chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung
và chúng có thể được xem xét trong nhiều kỳ để phản ánh rõ hơn xu hướng phát
triển của các hiện tượng kinh tế - tài chính của doanh nghiệp.
* Phương pháp phân chia:
Đây là phương pháp được sử dụng để chia nhỏ quá trình và kết quả thành
những bộ phận khác nhau phục vụ cho mục tiêu nhận thức quá trình và kết quả
đó dưới sự những khía cạnh khác nhau phù hợp với mục tiêu quan tâm của đối
tượng phân tích trong từng thời kỳ.
* Phương pháp liên hệ đối chiếu: Được sử dụng để nghiên cứu xem xét mối
quan hệ kinh tế giữa các sự kiện và hiện tượng kinh tế, đồng thời xem xét tính
cân đối của các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình thực hiện các hoạt động.
* Phương pháp thay thế liên hoàn:
9
Được sử dụng khi chỉ tiêu phân tích có quan hệ với nhân tố ảnh hưởng thể
hiện dưới dạng phương trình tích hoặc thương số.
* Phương pháp phân tích tính chất của các nhân tố.
Sau khi xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố để có thể đánh
giá và dự đoán hợp lý, trên cơ sở đó đưa ra quyết định và cách thực hiện các
quyết định cần tiến hành phân tích tính chất ảnh hưởng của các nhân tố. Việc
phân tích được thực hiện thông qua việc chỉ rõ và giải quyết các vấn đề như sau:
Chỉ rõ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố. Việc phân tích được thực hiện thông
qua việc chỉ rõ và giải quyết các vấn đề như sau: Chỉ rõ mức độ ảnh hưởng, xác
định nhân tố chủ quan, nhân tố khách quan của từng nhân tố ảnh hưởng; Phương
pháp đánh giá và dự đoán cụ thể, đồng thời xác định ý nghĩa của nhân tố tác
động đến chỉ tiêu đang phân tích, nghiên cứu.
* Phương pháp tài chính Dupont:
Với phương pháp này các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫn
đến các hiện tượng tốt, xấu, trong hoạt động của doanh nghiệp. Bản chất của
Giá trị của từng bộ phận tài sản
x 100 %
Tổng số tài sản
11
Ngoài ra, để biết được chính xác tình hình sử dụng vốn, nắm được các
nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ
cấu tài sản, các nhà phân tích còn kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh
sự biến động giữa kỳ so với kỳ gốc ( cả về số tuyệt đối và số tương đối ) trên
tổng số tài sản cũng như theo từng loại tài sản. Thông qua đó thấy được sự biến
động về quy mô kinh doanh, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
Khi xem xét vấn đề này cũng cần chú ý đến tác động của từng loại tài sản
với quá trình sản xuất kinh doanh, chính sách của doanh nghiệp trong việc huy
động vốn.
Bên cạnh đó, các nhà phân tích còn phải xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếm
trong tổng số và xu hướng biến động của chúng theo thời gian để tìm thấy được
mức độ hợp lý của việc phân bổ. Việc đánh giá phải dựa trên tính chất kinh
doanh và tình hình biến động của từng bộ phận. Trong điều kiện cho phép, có thể
xem xét và so sánh sự biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm
trong tổng số tài sản của doanh nghiệp qua nhiều năm và so với cơ cấu chung
của ngành để đánh giá.
* Phân tích chỉ tiêu cơ cấu nguồn vốn.
Nguồn vốn của doanh nghiệp gồm hai nguồn chính là vốn chủ sở hữu và
nợ phải trả. Trong mỗi kỳ kinh doanh, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định số
vốn cần huy động, nguồn huy động, thời gian huy động, chi phí huy động…sao
cho vừa đảm bảo đáp ứng nhu cầu về vốn cho kinh doanh, vừa tiết kiệm chi phí
huy động, tiết kiệm chi phí sử dụng vốn và đảm bảo an ninh tài chính cho doanh
nghiệp. Vì thế, qua phân tích cơ cấu nguồn vốn, các nhà quản lý nắm được cơ
cấu vốn huy động, biết được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các nhà cho
vay, nhà cung cấp, người lao động, ngân sách…về số tài sản tài trợ bằng nguồn
vốn của họ. Cũng qua phân tích cơ câu nguồn vốn, các nhà quản lý cũng nắm
toán của doanh nghiệp. Nếu khả năng thanh toán cao thì tình hình tài chính sẽ
khả quan và ngược lại. Do vậy khi đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
không thể không xem xét đến khả năng thanh toán.
Khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này cho biết : Với tổng tài
sản hiện có, doanh nghiệp có đảm bảo khả năng trang trải các khoản nợ phải trả
hay không. Nếu trị số chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” của doanh
nghiệp luôn ≥ 1, doanh nghiệp luôn đảm bảo được khả năng trả nợ, khả năng
thanh toán tổng quátcủa doanh nghiệp là tốt.
14
Hệ số khả năng thanh
toán tổng quát
=
Tổng tài sản
Nợ phải trả
Khả năng thanh toán hiện thời ( nợ ngắn hạn )
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là chỉ tiêu cho thấy khả năng đáp
ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp, tức là tương ứng
với 1 đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn tương ứng thanh
lý để trả nợ. Nếu trị số của chỉ tiêu này < 1 dự báo nguy cơ tiềm ẩn doanh nghiệp
không đủ khả năng thanh toán, đây là tình trạng xấu trong hoạt động sản suất
kinh doanh của doanh nghiệp; Nếu khả năng thanh toán nợ ngắn hạn ≥ 1 phản
ánh doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình
tài chính của doanh nghiệp là khả quan. Nhưng khả năng thanh toán hiện thời mà
quá lớn cũng không tốt vì nó gây ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của doanh
nghiệp.
Hệ số khả năng thanh
toán nợ ngắn hạn
=
÷ 0,5.
Nếu hệ số này > 0,5 phản ánh doanh nghiệp đang thừa tiền. Nếu hệ số này quá
lớn doanh nghiệp đảm bảo thừa khả năng thanh toán nhanh song khi đó lượng
tiền và tương đương tiền quá nhiều nên phần nào sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng
vốn, từ đó làm giảm hiệu quả kinh doanh.
Nếu hệ số này < 0,1 doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong thanh toán công nợ
- nhất là nợ đến hạn
Khả năng thanh toán lãi vay:
= Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
17
Sử dụng nợ nói chung tạo ra được lợi nhuận cho công ty nhưng lợi nhuận
tạo ra phải lớn hơn lãi vay phải trả cho việc sử dụng nợ để đảm bảo có lãi. Để
đánh giá khả năng trả lãi, doanh nghiệp sử dụng tỷ số khả năng thanh toán lãi
vay.
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay thể hiện ở tỷ số giữa lợi nhuận trước
thuế và lãi trên lãi vay. Hệ số này phản ánh 1 đồng lãi vay được đảm bảo bằng
bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Nó mức độ lợi nhuận đảm bảo
khả năng trả lãi vay hàng năm như thế nào. Việc không trả được các khoản nợ
này sẽ thể hiện khả năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản. Hệ số được xác
định bằng công thức:
Hệ số khả năng thanh
toán lãi vay
=
Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay
Lãi vay
Khả năng trả lãi của doanh nghiệp cao hay thấp nói chung phụ thuộc vào
khả năng sinh lợi và mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp. Nếu khả năng sinh
lợi của doanh nghiệp chỉ có giới hạn trong khi doanh nghiệp sử dụng quá nhiều
nợ thì tỷ số khả năng trả lãi sẽ giảm.
Hệ số khả năng thanh
=
Tài sản dài hạn
Nợ dài hạn
19
Chỉ tiêu này càng cao thì được đánh giá càng tốt vì chứng tỏ vốn đầu tư hàng
tồn kho vận động không ngừng, đó là nhân tố để tăng doanh thu, góp phần tăng
lợi nhuận cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp đầu tư cho hàng tồn kho thấp mà
vấn đạt hiệu quả cao, tránh được tình trạng ứ đọng vốn. Nếu chỉ số này thấp
phản ánh hàng tồn kho dự trữ nhiều, sản phẩm không tiêu thụ được do chất
lượng thấp, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường.
Vòng quay các khoản phải thu
Công thức:
Số vòng quay các
khoản phải thu
=
Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải thu quay được bao
nhiêu vòng,. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công tác thu hồi nợ của doanh
nghiệp càng tốt. Để thể hiện rõ về công tác thu hồi nợ có thể sử dụng chỉ tiêu Kỳ
thu tiền bình quân.
Kỳ thu tiền bình quân
=
Số ngày trong kỳ (360 ngày )
Só vòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân cho biết số ngày trong 1 vòng quay các khoản phải
thu. Số ngày trong 1 vòng càng ít càng tốt.
Vòng quay các khoản phải trả
Vòng quay các khoản
* Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lợi
Khả năng sinh lợi của vốn kinh doanh là một trong những tiêu thức để
đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong
một thời kỳ nhất định và là căn cứ để các nhà quản lý đề ra những quyết định
phù hợp với thực trạng tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trong
phân tích thường sử dụng một số chỉ tiêu sau:
Suất sinh lợi của Tài sản ( ROA )
Công thức :
Suất sinh lợi của Tài
sản ( ROA )
=
Lợi nhuận sau thuế
Tài sản bình quân
Khả năng sinh lợi của Tài sản ( ROA ) phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản
ở doanh nghiệp, thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản. Chỉ tiêu này cho
biết bình quân 1 đơn vị tài sản sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra
được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Trị số của chỉ tiêu này càng cao, hiệu
quả sử dụng tài sản càng lớn và ngược lại.
Suất sinh lợi của Vốn chủ sở hữu ( ROE )
Công thức :
Khả năng sinh lợi
= Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
22
Khả năng sinh lợi của Vốn chủ sở hữu ( ROE ) là chỉ tiêu phản ánh khái
quát nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Khi xem xét ROE, các nhà
quản lý biết được một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh đem lại bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Trị số ROE càng cao hiệu quả sử dụng vốn chủ
sở hữu càng cao và ngược lại.
Suất sinh lợi của Doanh thu ( ROS )
Tổng nợ phải trả
Tổng Nguồn vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu Hệ số Nợ so với Vốn chủ sở hữu cho biết cơ cấu nguồn tài trợ tài
sản của doanh nghiệp, cứ 1 đồng tài sản tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì tương
ứng với mấy đồng tài trợ bằng nợ phải trả. Hệ số này cho thấy mức độ độc lập về
mặt tài chính của doanh nghiệp. Nếu hệ số này < 1 sẽ phản ánh tỷ trọng Nợ < tỷ
trọng Vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp độc lập về tài chính. Ngược lại hệ số này >
1 phản ánh doanh nghiệp phụ thuộc về tài chính.
24
Hệ số Tài sản so với Vốn chủ sở hữu
Công thức:
Hệ số Tài sản so với
= Tổng Tài sản
Vốn chủ sở hữu
Hệ số này phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng Vốn
chủ sở hữu.Trị số chỉ tiêu > 1 doanh nghiệp phụ thuộc về tài chính, trị số càng
lớn mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng giảm vì tài sản của doanh
nghiệp được tài trợ chỉ một phần bằng Vốn chủ sở hữu.
Hệ số tài trợ
Hệ số tài trợ
=
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Hệ số tài trợ là chỉ tiêu phản ánh khả năng đảm về tài chính và mức độ
độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp. Trị số này càng càng lớn chứng tỏ
khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính càng cao và ngược lại.
Hệ số tự tài trợ Tài sản dài hạn
Hệ số tự tài trợ tài
sản dài hạn
=