PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY THĂNG LONG TẠI THỊ TRƯỜNG EU - Pdf 13

Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY THĂNG LONG TẠI
THỊ TRƯỜNG EU
Nhóm: 07
Lớp HP:1402SMGM2111
MỤC LỤC
Page 1
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTWTO : Tổ chức Thương mại thế giới
EU
XK
: Liên minh Châu Âu
: Xuất khẩu
KNXK : Kim ngạch xuất khẩu
DTXK : Doanh thu xuất khẩu
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
GSP : Thuế suất ưu đãi thuế quan
TSLĐ : Tài sản lưu động
TL
TT
: Tỷ lệ
: Tỷ trọng
ĐVT : Đơn vị tính
SL : Số lượng
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Page 2
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU

việc làm trong các ngành phụ trợ.
Theo rà soát của Hiệp hội Da giày Việt Nam (LEFACO) năm 2008, ngành da giày
có 825 doanh nghiệp vừa và nhỏ, cộng thêm ước tính khoảng 1.000 hộ sản xuất.
Năng lực sản xuất khoảng 1.600 day truyền sản xuất hoàn chỉnh có snr lượng hàng
năm khoảng 800 triệu dôi giày dép, 120 triệu túi xách, 270 triệu dôi giày da thành phẩm.
Tiêu thụ trong nước chỉ chiếm 9% tổng sản lượng trong năm 2010, qua đó khẳng
định da giày là một ngành xuất khẩu quan trọng. Hầu hết các công ty Việt Nam hoạt động
theo hợp đồng thầu phụ và gia công, còn lại doanh nghiệp FDI sẽ cung cấp nguyên vật
liệu, phụ kiện. Khoảng 80% nguyên liệu là nhập khẩu. Các doanh nghiệp FDI của Đài
Loan và Hàn Quốc chiếm hơn một nửa tổng doanh thu xuất khẩu. (Báo cáo của EU về
Việt Nam, 2011; LEFACO;Vietnamca)
Vị trí vững chắc của xuất khẩu Việt Nam trong các thị trường EU, Hoa Kỳ và Nhật
Bản cho thấy ngành này có tính cạnh mạnh, mặc dù dựa vào lợi thế lao động rẻ với kỹ
năng cơ bản.
Ngành da giày Việt Nam không thể cạnh tranh với Trung Quốc về giá thành trên thị
trường trong nước do chi phí nguyên vật liệu cao, năng lực thiết kế mẫu mã hạn chế và
năng suất nhìn chung thấp. Tuy nhiên, theo LEFACO, chất lượng da giày Việt Nam cơ
bản tốt hơn Trung Quốc.
Ngành da giày Việt Nam gần như phụ thuộc hoàn toàn vào các phân khúc thị trường
trong nước không bị sản phẩm của Trung Quốc chiếm lĩnh.
Doanh thu xuất khẩu 10 năm qua gia tăng một cách vững chắc. Tỷ trọng xuất khẩu
da giày sang EU là 47%, sang Hoa Kỳ là 27% tổng xuất khẩu.
Năm 2010, tổng nhập khẩu da giày EU là 13,5 tỷ euro (khoảng 18 tỷ USD theo tỷ
giá hiện hành), tương đương 10% tổng nhập khẩu da giày của EU. Hiện này, EU đánh
thuế ở mức 16,5% trên giá cập cảng đối với da giày xuất khẩu Việt Nam, do đó việc có
được FTA với EU sẽ có nhiều lợi ích.
Page 4
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
EU áp thuế chống phá giá năm 2006, kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2011. Kể từ
tháng 4 năm 2011, xuất khẩu sang EU đã tăng lên đáng kể. Điều thú vị là Hiệp hội các

dụng từ năm 2009).
Kênh phân phối: mặc dù các nhà nhập khẩu vẫn là đầu mối nhập hàng từ các nhà
sản xuất và phân phối cho thị trường, nhưng tại EU các nhà bán lẻ chuyên ngành lớn
cũng thường lấy hàng trực tiếp và phân phối qua các cửa hàng bán lẻ, các siêu thị. Các
nhà bán lẻ chuyên ngành chiếm tới 58% thị trường phân phối của EU, tiếp cận được
những nhà phân phối này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường tại EU.
EU là thị trường nhập khẩu giày dép lớn nhất của Việt Nam. Trong quý I/2011, kim
ngạch xuất khẩu sang các nước này đạt 504,79 triệu USD, chiếm khoảng 50% giá trị xuất
khẩu giày dép. Nhìn chung, đầu năm 2011 xuất khẩu giày dép đạt kết quả tốt, hầu hết các
mặt hàng đều có giá đơn hàng tăng. Hết năm 2011, mục tiêu xuất khẩu 5,5 tỷ USD cho
mặt hàng giày dép có thể thực hiện được.
Doanh thu bán hàng da giày phần lớn phụ thuộc vào tâm lý người tiêu dùng hiện tại
vì giày dép không phải mặt hàng cần thay thế thường xuyên. Tương tự như phân loại của
Việt Nam, giày dép châu Âu đa phần nhóm theo loại thông thường,loại thể thao và loại
buổi tối. Các nước EU khác nhau có phân loại sản phẩm hơi khác biệt, căn cứ vào hành
vi tiêu dùng (tùy thuộc thời tiết, thu nhập, ý nghĩa văn hóa, v.v.). Phân loại có thể đi sâu
theo người sử dụng (đàn ông, phụ nữ, trẻ em) và vật liệu (da, dệt may, cao su).
Một phần nữa cũng rất quan trọng đối với thị trường giày dép EU đó là kích thước
giày dép, sản xuất giày đúng kích thước vô cùng quan trong. Trong khi đó, thị trường EU
là một thị trường rộng lớn với hệ thống kích thước giày dép phức tạp, tạo ra một thách
thức cũng vô cùng lớn đối với các nhà xuất khẩu da giày của thị trường EU, trong đó có
Việt Nam.
Thị trường da giày EU đặt ra một hệ thống pháp luật và các chỉ thị trong ngành, bao
gồm:
- Hóa chất REACH
Page 6
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
- Thuốc nhuộm azo, Nickel và Cadmium, sulfonates Perfluorooctane, Penta và Octa
trong các sản phẩm dệ may và da – 1907/2006/EC
- Chất làm chậm bén lửa – 67/548/EC

 Kinh doanh dịch vụ thương mại.
 Kinh doanh xuất - nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh.
 Quá trình phát triển của công ty:
Quá trình phát triển của Công ty Cổ phần Giầy Thăng Long có thể tóm tắt qua ba
giai đoạn chính sau đây:
Page 8
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế

Giai đoạn từ năm 1990 – 1992: Bước đầu xây dựng và phát triển mô hình sản
xuất kinh doanh
Theo luận chứng kỹ thuật đã xét duyệt, Công ty Cổ phần Giầy Thăng Long khi mới
thành lập có số vốn điều lệ là 3.000.000.000 đồng. Mục tiêu của Công ty là gia công mũi
giầy cho các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà chủ yếu là Liên Xô cũ với công
suất là 4.000.000 đôi mũi giầy/năm. Trong những năm đầu, Công ty đã xây dựng được
hai xưởng sản xuất và một số công trình phục vụsản xuất kinh doanh.
 Giai đoạn từ năm 1993 – 2005: Tăng cường đầu tư và mở rộng quy mô sản
xuất kinh doanh
Đây là giai đoạn Công ty thực sự chuyển đổi từ sản xuất kinh doanh theo cơ chế bao
cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN. Công ty đã chủ động tìm kiếm thị
trường xuất khẩu, ký kết hợp đồng trực tiếp với các Công ty nước ngoài: Hàn Quốc, Đài
Loan, Hồng Kụng, Nhật Bản…và một số thị trường Châu Âu, Bắc Mỹ…Kể từ năm 1996,
Công ty cũng đã bắt đầu làm ăn có lãi với những bạn hàng lớn, tên tuổi giầy dép của
Công ty ngày càng có uy tín lớn trong và ngoài nước.
Trong giai đoạn này Công ty Giầy Thăng Long gồm 3 xí nghiệp trực thuộc. Tất cả
các xí nghiệp, nhà máy đều thực hiện sản xuất kinh doanh theo kế hoạch của Công ty.
Công ty chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, còn các đơn vị
thành viên chỉ đóng vai trò tổ chức sản xuất và hạch toán nội bộ trên cơ sở được giao.
 Giai đoạn từ 2006 đến nay: Thúc đẩy phát triển và hội nhập kinh tế
Kể từ ngày 14/02/2006, Công ty Giầy Thăng Long chính thức chuyển đổi lại tên
thành Công ty Cổ phần Giầy Thăng Long. Thời điểm này được coi là một bước ngoặt lớn

tài chính
Đơn vị
tính
Năm
2011
Năm
2012
Năm
2013
So sánh
tuyệt đối
2012/2011
So sánh
tuyệt đối
2013/2012
1 Giá trị tổng
sản lượng
Triệu
đồng
71647 70541 72320 -1106 1779
Page 10
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
2 Doanh thu
tiêu thụ
Triệu
đồng
75512,7 74211,4 76466,5 -1301,2 2255,1
3 Tổng vốn
kinh doanh
bình quân

Chỉ số
0.075 0.062 0.064 -0.013 0.002
10 Số vòng quay
vốn lưu động
vòng
3.54 2.48 2.33 -1.06 -0.15
( Nguồn phòng kế toán- tài chính)
Nhận xét:
Từ bảng trên thấy được hầu hết các chỉ tiêu tài chính của năm 2012 thấp hơn so với
2011, sang năm 2013 thì tăng lên, các số liệu cụ thể được phản ánh rõ trên bảng.
Nguyên nhân:
Năm 2012, kinh tế - tài chính của Việt Nam tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của
kinh tế thế giới, do khủng hoảng tài chính và nợ công ở châu Âu chưa được giải quyết.
Suy thoái tại khu vực đồng Euro cùng với khủng hoảng tín dụng và tình trạng thất nghiệp
gia tăng, khiến cho hoạt động sản xuất và thương mại toàn cầu bị tác động mạnh, giá cả
hàng hóa diễn biến phức tạp.
Những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh tế thế giới đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động
sản xuất kinh doanh và đời sống dân cư trong nước. Thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu
Page 11
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sức mua trong dân giảm. Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức
đáng lo ngại. Nhiều DN, nhất là DN nhỏ và vừa phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động
hoặc giải thể.
⇒ Do vậy mà ảnh hưởng đến việc xuất khẩu giầy của công ty gặp nhiều khó khăn
Sang năm 2013,thì các chỉ tiêu tài chính tăng nhẹ so với 2012 do nền kinh tế bắt đầu
hồi phục, nhà nước có các chính sách, giải pháp hỗ trợ, đẩy mạnh việc xuất khẩu.
2.2 Phân tích môi trường kinh doanh
2.2.1 Tốc độ tăng trưởng những năm gần đây
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng những năm gần đây:
Tốc độ tăng trưởng ngành

Đông Âu 722. 500
11,56
1. 146. 000 15, 28 1. 680. 900 17,24
Nga 463. 750 7, 42 346. 500 4,62 339. 300 3,48
Tổng số 6.250.000 100 7. 500. 000 100 9. 750. 000 100
(Nguồn: Báo cáo tình hình xuất nhập khẩu của Công ty)
Nhận xét chung:
Căn cứ vào Bảng 3 trên ta thấy, hiện nay thị trường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
cơ cấu thị trường xuất khẩu của Công ty Giầy Thăng Long là các nước thuộc khối EU,
Mỹ và Đông Âu. Trị giá xuất khẩu sang các nước thuộc khối EU thường chiếm tỷ trọng
lớn khoảng 70 – 75% (bình quân 72,5%/năm), các nước Mỹ chiếm khoảng 10 –
15% (bình quân 12,5%/năm), Đông Âu chiếm khoảng 8 – 12% (bình quân 10
%/năm) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty, còn lại là thị phần xuất khẩu sang
các nước khác(bình quân 5%/năm).
Trong giai đoạn 2010– 2012, tỷ trọng cơ cấu thị trường xuất khẩu của Công ty
Giầy Thăng Long có nhiều biến động. Nhìn chung tình hình xuất khẩu giữ ở mức ổn định
qua các năm.
2.2.2 Phân tích các giai đoạn quốc tế hóa của công ty giày Thăng Long
2.2.2.1 Trước khi quốc tế hóa - tập trung nội địa
Do lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty là giầy xuất khẩu, do vậy khách hàng
chủ yếu của công ty là khách hàng ngoại quốc. Ngoài ra sảng phẩm của công ty cũng có
mặt trên thị trường nội địa, song chưa nhiều so với hàng xuất khẩu. Hiện nay công ty
cũng đang xúc tiến nghiên cứu mở rộng thị trường nội địa, công ty đã có một số hoạt
động xúc tiến thương mại ở thị trường trong nước, tham gia các cuộc triển lãm hàng công
nghiệp tại Việt Nam, tìm kiếm các đơn vị hoặc cá nhân làm đại lý cho công ty….
Page 13
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
Công ty hiện đang có một số của hàng tại Hà Nội như ở Mỹ Đình, Hà Đông, Thanh
Xuân, Ngoài ra mặt hàng giày của công ty cũng có mặt trong nhiều cửa hàng giầy thể
thao trên cả nước.

thị trường EU dưới hình thức giảm thuế.
Giai đoạn bước đầu xâm nhập có ý nghĩ vô cùng quan trọng tới chiến lược kinh
doanh cũng như sự phát triển của doanh nghiệp. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải phân
tích kỹ tình hình kinh tế, văn hóa của các quốc gia, từ đó lựa chọn quốc gia phù hợp nhất
để phát triển sản phẩm của mình. Căn cứ vào tình hình kinh tế để lựa chọn thời gian cũng
như phương thức xâm nhập để sản phẩm được phát triển một cách tốt nhất.
 Xác định thời điểm xâm nhập
Thị trường EU là một thị trường khó tính nên muốn xâm nhập được vào thị trường
này cần phải lựa chọn thời gian thích hợp.
ViệcViệt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO vào ngày
11/1/2007. Đã tạo nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển và vươn ra thị
trường thế giới. Công ty giày Thăng Long cũng không phải là ngoại lệ. Qua nghiên cứu
thị trường công ty đa quyết định gia nhập vào thị trường thế giới vào thời điểm này do:
- Khi gia nhập WTO thị trường hàng hóa sẽ được mở cửa tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp tiến ra nước ngoài.
- môi trường cạnh tranh bình đẳng trong kinh doanh giữa các thành phần kinh tế.
Khi gia nhập vào WTO và cam kết thực hiện các nguyên tắc tự do hóa thương mại giữa
các thành phần kinh tế, giữa trong nước và nước ngoài, Việt Nam sẽ phải cải cách mạnh
hơn các luật lệ sao cho phù hợp với thông lệ chung của quốc tế. Qua đó, tạo môi trường
kinh doanh bình đẳng và thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế.
- Các nước là thành viên của WTO cũng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt
Nam trong quá trình xâm nhập vào thị trường của họ như các chính sách về thuế sẽ được
cắt giảm, hàng rào thuế quan dần dần được gỡ bỏ,…
=> Đây là thời điểm thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam có những bước tiến
vào thị trường thế giới.
Page 15
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
 Phương thức xâm nhập
Mới bước đầu gia nhập thị trường quốc tế nên doanh nghiệp cần phải lựa chọn một
phương thức xâm nhập an toàn nhất để tránh những rủi ro không đáng có.

hầu như chưa biết đến sản phẩm, các doanh nghiệp trong ngành chưa được hưởng tính
kinh tế theo quy mô; các kênh phân phối chưa được hoàn thiện…
Giầy dép là một trong những đồ dùng thiết yếu, không thể thiếu trong cuộc sống con
người. Ngay từ thế kỷ XV, ngành da giầy Việt Nam đã được hình thành dựa trên sự kiên
trì học hỏi kinh nghiệm từ người Trung Quốc cùng sự sáng tạo của người dân Việt. Trải
qua bao thời gian và biến động của lịch sử, ngành da giầy Việt Nam đã khẳng định mình
và trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước. Cách đây gần 22 năm, ngày
11/10/1986, Liên hiệp các xí nghiệp Da-Giầy Việt Nam, tiền thân của tổng công ty Da-
Giầy Việt Nam ngày nay đã được thành lập, đánh dấu sự xuất hiện của ngành Da Giầy.
Trong giai đoạn mới xuất hiện này, các rào cản gia nhập ngành thấp, vì các doanh
nghiệp chưa tìm cách nâng cao rào cản gia nhập ngành và chính phủ cũng ít can thiệp.
Rào cản chủ yếu là bí quyết công nghệ , nghĩa là những ai có được bí quyết công nghệ
của ngành là có thể nhập cuộc. Nếu doanh nghiệp có bí quyết các mạnh thì càng có lợi
thế trong việc gia nhập ngành.
Cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành lúc này không cao, các doanh nghiệp
ít cạnh tranh nhau mà chủ yếu là hoàn thiện bí quyết công nghệ và hoàn thiện kênh phân
phối. Sự ganh đua trong giai đoạn mới phát triển thường không hướng nhiều vào giá mà
định hướng vào người tiêu dùng, mở rộng kênh phân phối, hoàn thiện sản phẩm.
Trong giai đoạn này, ngành chỉ có một số ít doanh nghiệp, trong đó phần lớn là các
doanh nghiệp nhà nước, có thể kể đến một số doanh nghiệp đời đầu như: Liên hiệp các xí
nghiệp Da-Giầy Việt Nam.
 Giai đoạn tăng trưởng:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngày Da Giầy Việt Nam, cũng ngày càng
phát triển. Khi nhu cầu về sản phẩm của ngành tăng, ngành sẽ bước sang giai đoạn tăng
trưởng. Ngành Da giầy Việt Nam với ưu thế là một ngành kinh tế kỹ thuật thu hút được
nhiều lao động, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho xã hội, tham gia vào quá trìn
Page 17
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước thông qua việc
đẩy mạnh xuất khẩu. Vì vậy, nó có vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu cả quá trình

nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Khi khối này tan rã, ngành Da Giày đã phải trải qua
một thời kỳ khó khăn do thiếu đơn đặt hàng. Tuy nhiên giai đoạn này kéo dài không lâu.
Bắt đầu từ năm1993, ngành Da Giày đã khởi sắc trở lại nhờ làn sóng di chuyển sản
xuất của các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động từ các nước công nghiệp phát
triển và các nước công nghiệp mới (NIEs) sang các nước đang phát triển. Ngành Da Giày
Việt Nam đã bắt đầu tiếp nhận sự chuyển giao công nghệ từ các nước thông qua đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài (FDI), đặc biệt là các NIEs trong khu vực. Cùng với nó là sự dịch
chuyển các đơn đặt hàng từ những nước có truyền thống về sản xuất Da Giày như Đài
Loan, Hàn Quốc sang Việt Nam.
Sau những khó khăn do mất thị trường truyền thống của những năm 1988 –1990. Từ
năm 1993 trở lại đây, nhờ đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, tìm kiếm thị trường, xây
dựng danh mục mặt hàng… , nên xuất khẩu sản phẩm da giày đã đạt được tốc độ tăng
trưởng cao, trung bình trong giai đoạn 1993-1999 là hơn 50%/năm.
Năm 1996 toàn ngành đã xuất khẩu được 138 triệu đôi giày,dép các loại, 18 triệu
chiếc cặp, túi sách và120.000m2 da thuộc, đạt kim ngạch 533,28 triệu USD. Năm 1999,
toàn ngành xuất khẩu được 221 triệu đôi giày dép các loại, 28 triệu chiếc cặp, túi sách và
hơn 74.000 m2 da thuộc đạt kim ngạch 1344 triệu USD, tăng hơn năm trước 33,4% và
gáp 2,5 lần so với năm 1996.
Thị trường xuất khẩu chủ yếu của ngành giày dép Việt Nam hiện nay là các nước
thuộc liên minh Châu Âu, chiếm tới 75% tổng kim ngạch . Nếu năm 1995, giày dép Việt
Nam xuất khẩu sang EU mới đạt 400 triệu USD, thì đến năm 1999 đã vọt lên gần 1 tỷ
USD. Cho đến nay sản phẩm giày dép đang chiếm vị trí hàng đầu trong số các mặt hàng
xuất khẩu của Việt Nam sang EU và tại thị trường EU, Việt Nam là nước xuất khẩu giày
dép đứng thứ hai sau Trung Quốc. Mỹ là nước nhập khẩu giày dép lớn nhất thế giới,
nhưng cho đến nay, giày dép Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này mới đạt 11,5%
Page 19
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
tổng kim ngạch xuất khẩu. Đối với thị trường Nhật Bản, xuất khẩu giày dép của Việt
Nam vẫn con chiếm tỷ trọng thấp, mới đạt gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu. Xết về
khả năng cạnh tranh đối với hàng ngoại, sản phẩm giày dép Việt Nam đạt vào loại trung

các quốc gia khác trên thế giới. Đây là điều kiện thuận lợi để công ty giày Thăng Long có
Page 21
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
thể đưa mặt hàng da giày của mình thâm nhập vào các thị trường trên toàn cầu, tiêu biểu
là thị trường EU.
Từ năm 1971, EU đã có các quy tắc đảm bảo hàng hóa xuất khẩu từ các nước đang
phát triển chỉ phải chịu mức thuế thấp hơn trên một số hoặc tất cả những gì họ bán cho
EU. Điều này cho phép các nước đang phát triển cơ hội tiếp cận thị trường EU, góp phần
vào sự tăng trưởng nền kinh tế của họ. Từ đó sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam
tham gia xuất khẩu vào thị rường tiềm năng này để được hưởng các ưu đãi về thuế quan,
trong đó có công ty giày Thăng Long.
Ngoài ra, EU còn đưa ra những quy định đối với các nước xuất khẩu sang thị trường
này:
- Khung pháp lý quốc tế về rào cản kỹ thuật: Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối
với Thương mại (TBT) trong WTO là khung pháp lý quốc tế đối với định chế và các yêu
cầu kỹ thuật. Các nguyên tắc chính trong TBT là hài hoà, minh bạch, vừa đủ và không
phân biệt đối xử.
Các doanh nghiệp Việt Nam thường yếu thế hơn so với các doanh nghiệp xuất khẩu
vào thị trường này, đặc biệt là đối thủ lớn như Trung Quốc. Vì thế, quy định này sẽ giúp
công ty giày Thăng Long được cạnh tranh công bằng với các đối thủ cạnh tranh lớn khác.
- Thương mại công bằng: Tiêu chuẩn này nhằm bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển
về xã hội, kinh tế, môi trường của các nhà sản xuất và chủ đất quy mô nhỏ ở các nước
đang phát triển. Tổ chức thương mại công bằng sẽ dành cho các sản phẩm của họ một giá
“công bằng”, giúp sản phẩm tiêu thụ dễ dàng hơn.
- Quản lý chất lượng: Chứng chỉ ISO được coi như tấm giấy thông hành, một tài sản
quan trọng của những doanh nghiệp sở hữu nó, mang lại ưu thế bán hàng khi hoạt động
kinh doanh tại các đối tác kinh doanh.
Tuy nhiên, đến năm 2014, khi cơ chế “trưởng thành” mới được hình thành sẽ khiến
một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta sẽ không được hưởng ưu đãi GSP nữa,
trong đó chủ yếu là giày dép. Điều này sẽ khiến các doanh nghiệp giày da của Việt Nam

trong nhu cầu tiêu dùng giày dép hàng năm của EU. Người tiêu dùng ngày càng thích sử
dụng những sản phẩm có nguyên liệu làm từ thiên nhiên, không gây nguy hiểm đến sức
Page 23
Nhóm 7 – Chiến lược kinh doanh quốc tế
khỏe người tiêu dùng, tạo cảm giác thoải mái khi sử dụng, vì những sản phẩm làm từ da
nói chung và những sản phẩm giày da nói riêng nếu công đoạn chế biến da không sạch sẽ
gây ra những bệnh ngoài da cho chân, giày dép thì hay hỏng, không bền.Yêu cầu về mẫu
mốt và kiểu dáng hàng hóa thay đổi nhanh. Đây vừa là thời cơ, vừa là thách thức cho
nghành giày da Việt Nam nói chung và công ty giày Thăng Long nói riêng có thể tận
dụng thời cơ và nắm bắt xu hướng thời trang để có được những sản phẩm đẹp và tốt nhất
sang thị trường này.
 Công nghệ
Nhân tố công nghệ có tác động làm tăng hiệu quả của hoạt động xuất khẩu của
công ty. Trình độ thiết bị, công nghệ trong ngành công nghiệp EU hiện nay được xếp vào
loại hàng đầu thế giới. Ngành công nghiệp giày da của EU rất có thế mạnh trong ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để sản xuất các sản phẩm dệt may cao cấp. Điều này giúp
cho các doanh nghiệp da giày của EU nâng cao tính cạnh tranh trước các doanh nghiệp
xuất khẩu vào thị trường EU, đây là một thách thức lớn cho ngành xuất khẩu da giày của
Việt Nam sang thị trường EU.
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển không ngừng về công nghệ viễn thông thế giới,
EU tạng một mạng lưới liên kết Internet rộng khắp trên toàn thế giới, nhờ có sự phát triển
này các công ty hợp tác có thể đàm phán trực tiếp với khách hàng trên thị trường EU
thông qua telex, điện tín, fax, đặc biệt là Internet- công nghệ truyền tin nhanh nhất hiện
nay. Nó làm giảm thiểu chi phí đi lại, hơn nữa công ty có thể nắm bắt kịp thời được thông
tin mới nhất về các thi trường. Từ đó, công ty có thể đưa ra các quyết định để mang lại
hiệu quả nhất trong hoạt động xuất khẩu của mình.
Nhận xét: Trong các nhân tố trên thì nhân tố chính trị-pháp luật là nhân tố được xếp
đầu tiên ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất khẩu da giày của Việt Nam vào thị trường
EU hiện nay. Bởi vì, các quy định chặt chẽ về rào cản kỹ thuật, chất lượng cũng như các
chính sách hạn ngạch làm khó khăn cho việc xuất khẩu vào EU.Trong dài hạn, các ảnh

một sản phẩm nào có thể vào được thị trường này thì có thể lưu hành tự do trên tất cả các
nước thành viên( 27 nước thành viên).
Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status