Bài tập lớn kinh tế vĩ mô 1
Lời mở đầu
Các vấn đề kinh tế xuất hiện do chúng ta mong muốn nhiều hơn so với cái
mà chúng ta có thể nhận được. Chúng ta muốn một thế giới an toàn và hòa bình.
Chúng ta muốn có không khí trong lành và nguồn nước sạch. Chúng ta muốn
sống lâu và khỏe. Chúng ta muốn có các trường đại học, cao đẳng và phổ thông
chất lượng cao. Chúng ta muốn sống trong các căn hộ rộng rãi và đầy đủ tiện
nghi. Chúng ta muốn có thời gian để thưởng thức âm nhạc, điện ảnh, chơi thể
thao, đọc truyện, đi du lịch, giao lưu với bạn bè, …
Việc quản lí nguồn lực của xã hội có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có
tính khan hiếm. Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách thức sử dụng các nguồn
lực khan hiếm nhằm thỏa mãn các nhu cầu không có giới hạn của chúng ta một
cách tốt nhất có thể.
Kinh tế học vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học, nghiên cứu về cách
ứng xử nói chung của mọi thành phần kinh tế, cùng với kết quả cộng hưởng của
các quyết định cá nhân trong nền kinh tế đó. Những vấn đề then chốt được kinh
tế học vĩ mô quan tâm nghiên cứu bao gồm mức sản xuất, lạm phát, thất nghiệp,
mức giá chung và cán cân thương mại của một nền kinh tế…
Hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) đã đóng góp một nguồn vốn lớn
cho hoạt động của nền kinh tế. Từ sau thời kỳ đổi mới đến nay, FDI ngày càng
tăng nhờ chính sách mở cửa và thực hiện nền kinh tế thị trường của nước ta. Khi
ra nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam có nhiều cơ hội thu hút FDI hơn. Dưới đây
là tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) vào Việt Nam từ sau thời kỳ đổi
mới đến nay. Ảnh hưởng của việc ra nhập WTO đối với nguồn đâu tư này.
SV: Hoàng Thị Thắm- KTB50dh2 1
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô 1
Nội dung chính
Chương 1: Nền kinh tế Việt Nam hiện nay với đầu tư nước ngoài.
1. Giới thiệu về môn học, vị trí của môn học trong chương trình đại học.
1.1 Giới thiệu môn học:
Kinh tế học
Một quốc gia, có thể có những lực chọn khác nhau tuỳ thuộc vào các ràng
buộc của họ về các nguồn lực kinh tế và hệ thống chính trị xã hội. Song sự lựa
chọn đúng đắn nào cũng cần đến những hiểu biết sâu sắc về hoạt động mang
tính khách quan của hệ thống kinh tế. Kinh tế học vĩ mô sẽ cung cấp những kiến
thức và công cụ phân tích kinh tế đó. Ngày nay, những kiến thức và công cụ
phân tích này càng được hoàn thiện thêm để có thể mô tả chính xác hơn đời
sống kinh tế vô cùng phức tạp của chúng ta.
Phương pháp nghiên cứu:
Mỗi quốc gia có thể những lựa chọn khác nhau tùy thuộc vào các ràng
buộc của họ về các nguồn lực kinh tế và hệ thống chính trị - xã hội. Song, sự lựa
chọn đúng đắn nào cũng cần đến những hiểu biết sâu sắc về hoạt động mang
tính khách quan của hệ thống kinh tế. Kinh tế học vĩ mô sẽ cung cấp những kiến
thức và công cụ phân tích kinh tế đó. Những kiến thức và công cụ phân tích này
được đúc kết từ nhiều công trình nghiên cứu và tư tưởng của nhiều nhà khoa học
kinh tế thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Ngày nay, chúng càng được hoàn thiện
thâm để có thể mô tả chính xác hơn đời sống kinh tế vô cùng phức tạp của
chúng ta.
Trong khi phân tích các hiện tượng và mối quan hệ kinh tế quốc dân, kinh
tế học vĩ mô sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích cân bằng tổng hợp, tức là
xem xét sự cân bằng đồng thời tất cả các thị trường hàng hóa và các nhân tố.
xem xét đồng thời khả năng cung cấp và sản lượng của toàn bộ của nền kinh tế,
từ đó xác định đồng thời giá cả và sản lượng cân bằng. Ngoài ra, kinh tế học vĩ
SV: Hoàng Thị Thắm- KTB50dh2 3
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô 1
mô cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu phổ biến như: tư duy trừu
tượng, phương pháp phân tích thống kê số lớn, mô hình hóa kinh tế, Đặc biệt
những năm gần đây và tương lai, các mô hình kinh tế lượng, kinh tế vĩ mô sẽ
chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong các lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại.
1.2 Vị trí của môn học trong chương trình học đại học:
Kinh tế học vĩ mô là một trong những chủ đề quan trọng nhất đối với sinh
2003. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hớng tiến bộ, tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng dần, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần: nông,
lâm thủy sản giảm từ 40,2% năm 1985 xuống
còn 21,76% năm 2004; tơng ứng nhóm ngành công nghiệp-xây dựng đã tăng từ
27,4% lên 40,09%, nhóm ngành dịch vụ đã tăng từ 32,5% lên 38,15%
0
2
4
6
8
10
12
1986 1988 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2008
Tỷ lệ
tăng trởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1986 2009
Nă
m
1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993
199
4
1995 1996
1997
Tỉ lệ 2.8 3.6 6.49 4.9 5.1 5.8 8.7 8.1 8.8 9.54 9.3 8.2
Nă
m
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
SV: Hong Th Thm- KTB50dh2 5
Bi tp ln kinh t v mụ 1
Tỉ lệ 5.8 4.8 6.8 6.9 7 7.3 7.7 7.5 8.2 8.5 6.23 5.32
Chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa nên
tháng trước, lần lượt là 2,3% và 3%.
Trong giai đoạn 1992-1997, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao – bình
quân gần 9% mỗi năm. Động lực tăng trưởng trước tiên gắn liền với mức đầu tư
và tăng trưởng công nghiệp cao, được hỗ trợ mạnh mẽ từ nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài lên tới 2 tỉ USD mỗi năm, đã đóng góp từ 5-10% GDP hàng
năm.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng từ 2 tỉ USD năm 1991 lên gấp
hơn 4 lần sau 6 năm. Tuy vậy, cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á cũng
làm tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam chậm lại. Tốc độ tăng trưởng GDP trên
đầu người 6% – 7% trong những năm 1990 – 1997 đã không thể tiếp tục duy trì
và giảm xuống còn 4% vào giai đoạn 1998 – 1999 (2). Khó khăn tài chính của
khu vực làm giảm lượng vốn FDI từ các nhà đầu tư láng giềng và khiến nhiều
dự án lâm vào trạng thái dở dang. Trị giá xuất khẩu năm 1998 đạt 9,3 tỉ USD
(năm 1997 là gần 9,2 tỉ USD), tăng không đáng kể so với năm trước.
Kể từ năm 2000, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ổn định ở mức 7%-
8%/năm, nhưng từ năm đó lạm phát cũng liên tục tăng lên. Cuối năm 2007, lạm
phát hai con số (12,6%) đã trở lại. Chỉ số giá tiêu dùng của 6 tháng đầu năm
2008 đã tăng 20% so với cùng kỳ năm 2007
Điều đó khiến các lựa chọn chính sách trở nên khó khăn hơn trong điều
kiện ràng buộc giữa ổn định tốc độ tăng trưởng kinh tế với nhiều thay đổi căn
bản của hệ thống kinh tế vĩ mô.
Lạm phát ở Việt Nam hiện nay, khác với trước đây, có cả yếu tố tăng
trưởng cung tiền, có cả biến động giá ngoại sinh cùng đóng góp đáng kể vào
mức giá tăng cao. Do đó, tách biệt phần ảnh hưởng của các hiệu ứng mở rộng
tiền tệ ở mặt cầu và cú sốc giá ngoại sinh ở mặt cung sẽ rất hữu ích trong việc
SV: Hoàng Thị Thắm- KTB50dh2 7
Bi tp ln kinh t v mụ 1
xỏc nh c th nguyờn nhõn v gii phỏp x lý lm phỏt. Nhng thnh qu phỏt
trin v nhng khú khn ca nn kinh t hin nay ang t nhim v iu hnh
v mụ Vit Nam trong mt tỡnh th phc tp hn rt nhiu so vi kinh nghim
xu hớng giảm trong vài tháng nay, tính bình quân hai tháng qua chỉ còn tăng
1,36%/tháng, thấp hơn lãi suất huy động tính theo kì hạn năm nay. Tính thanh
khoản của ngân hành thơng mại đợc cải thiện. Mặt bằng lãi suất có xu hớng
giảm để tạo điều kiện cho sản xuất, xuất khẩu. Nhập siêu giảm dần ở mức 1 tỷ
USD từ tháng 6; cán cân thanh toán tổng thể đợc đảm bảo. Đầu t trực tiếp nớc
ngoài tăng mạnh cả về vồn đăng kí và vốn thực tế
b. Huy động vốn đầu t đạt kết quả cao, tạo nguồn lực tăng cờng kết cấu hạ
tầng kinh tế-xã hội.
Đầu t phát triển là một trong những yếu tố quyết định tăng trởng kinh tế và
giải quyết nhiều vấn đề xã hội vì hoạt động này trực tiếp làm tăng tài sản cố định,
tài sản lu động, tài sản trí tuệ và số lợng cũng nh chất lợng nguồn nhân lực; đồng
thời góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chơng trình mục tiêu quốc gia
nhằm nâng cao mức sống dân c và mặt bằng dân trí; bảo vệ môi trờng sinh thái và
đa các chơng trình phát triển kinh tế - xã hội khác vào cuộc sống.
Do nhận thức đợc vai trò quan trọng của đầu t phát triển nh vậy nên
trong những năm vừa qua đã có nhiều chính sách và giải pháp khơi dậy nguồn
nội lực và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để huy động vốn cho đầu t
phát triển. Riêng năm 2006, Việt Nam thu hút đợc 4,1 tỷ USD FDI trong đó 2,3
tỷ USD là dự án mới còn 1,8 tỷ là vốn bổ sung. Doanh nghiệp FDI đóng góp gần
15% GDP, chiếm trên 30% tổng kim ngạch xuất khẩu, đóng góp 4,9% tổng thu
ngân sách Nhà nớc. Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài tạo việc làm cho
34 vạn lao động trực tiếp và hơn 1 triệu lao động gián tiếp. Nguồn vốn ODA đã
giải ngân 7,2 tỷ USD là một trong những nguồn vốn của nền kinh tế, bảo đảm
tăng trởng sản xuất ổn định của các ngành sản xuất và dịch vụ.
SV: Hong Th Thm- KTB50dh2 9
Bi tp ln kinh t v mụ 1
Cải cách tài chính - ngân hàng là lĩnh vực đợc Chính phủ đặc biệt quan
tâm. Những thành tựu trong lĩnh vực này đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hạn
chế bội chi ngân sách, kiềm chế lạm phát, bảo đảm tính minh bạch của tài chính
nhà nớc, xoá bỏ dần bao cấp qua tín dụng, áp dụng tỷ giá và lãi suất phù hợp với
nghìn đồng năm 2005-2006.
Sự nghiệp giáo dục đào tạo có những mặt tiến bộ. Đến cuối năm 2005 đã
cơ bản hoàn thành chơng trình kiên cố hoá trờng học, lớp học. Đến nay tất cả 64
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học,
trong đó 24 địa phơng đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và 26 địa ph-
ơng đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Đào tạo đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp và nhất là dạy nghề đợc củng cố và có bớc phát triển nhất định.
Năm học 2004-2005 cả nớc có 230 trờng đại học và cao đẳng; 285 trờng trung
học chuyên nghiệp; 236 trờng dạy nghề và 1,5 nghìn cơ sở dạy nghề. So với năm
2000, số trờng dạy nghề tăng 70% với quy mô đào tạo tăng 40%. Trong Báo cáo
Giám sát Giáo dục Toàn cầu năm 2005, UNESCO đánh giá về tiến độ thực hiện
mục tiêu Giáo dục cho tất cả đến năm 2015 do Liên Hợp quốc đề ra, Chỉ số
giáo dục cho tất cả của nớc ta đợc xếp vị trí 64/127, đứng trên một số nớc trong
khu vực nh In-đô-nê-xi-a, Phi-li-pin, ấn Độ
Công tác y tế và chăm lo sức khoẻ cộng đồng không ngừng mở rộng mạng
lới phục vụ. Đến hết năm 2004 cả nớc đã có 97,6% số xã, phờng và thị trấn có
trạm y tế. Số bác sĩ tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập năm 2004 tăng 27,8%
so với năm 2000, bình quân 1 vạn dân 6,1 bác sĩ, tăng 1,1 bác sĩ so với mức bình
quân năm 2000. Đáng chú ý là năm 2003 nớc ta đã khống chế đợc dịch viêm đờng
hô hấp cấp (SARS), đợc Tổ chức Y tế Thế giới công nhận là quốc gia đầu tiên
khống chế thành công dịch bệnh này. Những năm 2004-2005 cũng đã khống chế
đợc sự lây lan của dịch cúm gia cầm H5N1. Hoạt động của ngành Y tế những năm
vừa qua đã góp phần đa tuổi thọ bình quân của dân số nớc ta tăng: Trong vũng 4
thp k qua, Vit Nam ng th 8 trờn th gii trong danh sỏch cỏc quc gia cú
nhiu tin b v thu nhp bỡnh quõn u ngi (tng gp 5 ln). Tui th trung
bỡnh Vit Nam tng ỏng k, t 49 tui vo nm 1970 lờn mc 75 tui vo
nm nay, cao hn Thỏi Lan (69,3), Philippines (72,3) v tui th bỡnh quõn
khu vc ụng - Thỏi Bỡnh Dng (72,8).
SV: Hong Th Thm- KTB50dh2 11
Bi tp ln kinh t v mụ 1
thua tơng tự. Chính do tổng sản phẩm trong nớc bình quân đầu ngời thấp nên
SV: Hong Th Thm- KTB50dh2 12
Bi tp ln kinh t v mụ 1
mặc dù chỉ số tuổi thọ trung bình và chỉ số giáo dục tơng đối cao nhng chỉ số
HDI vẫn rất thấp (Trong báo cáo Phát triển Con ngời năm 2005 của UNDP về
các thành tố cấu thành chỉ số HDI thì chỉ số tuổi thọ trung bình của nớc ta đạt
0,76; chỉ số giáo dục đạt 0,82, nhng chỉ số tổng sản phẩm trong nớc chỉ đạt
0,54% nên chỉ số HDI bị kéo xuống mức 0,704).
Do tiềm lực còn hạn hẹp nên sức cạnh tranh của nền kinh tế nớc ta thấp thua
nhiều so với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Theo Báo cáo Cạnh tranh Toàn
cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố những năm gần đây thì Chỉ số
cạnh tranh tăng trởng (GCI) của nền kinh tế nớc ta từ vị trí thứ 60/101 năm 2003 đã
lùi xuống vị trí 79/104 năm 2004 và 81/117 năm 2005; Chỉ số cạnh tranh doanh
nghiệp (BCI) cũng tụt từ vị trí 50/102 năm 2003 xuống 79/104 năm 2004 và 80/116
năm 2005, nhng n nm 2010 chỉ số cạnh tranh tăng trởng l 59/131 so vi nn
kinh t th gii, vt 13 bc so vi nm ngoỏi (75/133 quc gia).
b. Đời sống của một bộ phận dân c còn khó khăn; nhiều vấn đề xã hội bức xúc
chậm đợc khắc phục.
Trong những năm vừa qua, tỷ lệ hộ nghèo của nớc ta đã giảm đáng kể, nh-
ng đến nay vẫn còn tơng đối cao. Một bộ phận dân c, nhất là bộ phận dân c sinh
sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc ít ngời đời sống vẫn rất
khó khăn.
Một thực tế đáng quan tâm khác là tuy thu nhập trong những năm vừa qua
của tất cả các nhóm dân c đều tăng với tốc độ khá, nhng xét về lợng tăng tuyệt
đối thì lại có sự chênh lệch đáng kể. Thu nhập bình quân một ngời một tháng của
nhóm thu nhập cao nhất năm 2003-2004 tăng 309,4 nghìn đồng, nhng của nhóm
thu nhập thấp nhất chỉ tăng có 34,1 nghìn đồng, bằng 11,0% mức tăng của nhóm
thu nhập cao nhất. Với mức tăng 34,1 nghìn đồng/ngời/tháng trong bối cảnh chỉ
số giá tiêu dùng tăng tơng đối
cao trong những năm vừa qua thì thu nhập thực tế của nhóm thu nhập thấp
mc tiờu kinh t xó hi nht nh.
Thut ng FDI l vit tt ca t Foreign Direct Investment
u t nc ngoi mang y nhng c trng ca u t núi chung.
Tuy nhiờn, nú cú thờm mt s c im quan trng khỏc so vi u t ni a:
- Ch u t l ngi nc ngoi. c im ny cú liờn quan n cỏc khớa cnh
v quc tch, lut phỏp, ngụn ng, phong tc tp quỏn, Núi chung, õy l cỏc
SV: Hong Th Thm- KTB50dh2 14
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô 1
yếu tố làm tăng thêm tính rủi ro và chi phí đầu tư của các chủ đầu tư ở nước
ngoài.
- Các yếu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới. Đặc điểm này có liên quan chủ
yếu đến các khía cạnh về chính sách, pháp luật, hải quan và cước phí vận
chuyển.
Về bản chất, đầu tư nước ngoài là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình
thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ
xung và hỗ trợ nhau trong chiến lược thâm nhập chiếm lĩnh thị trường của các
công ty, tập đoàn nước ngoài hiện nay. Nhiều trường hợp, việc buôn bán hàng
hoá ở nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, luật lệ để đi đến quyết định đầu
tư. Đến lượt mình, việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư ở nước sở tại lại là
điều kiện để xuất khẩu máy móc, vật tư nguyên liệu và khai thác tài nguyên của
nước chủ nhà.
Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư nước ngoài
ngày càng phát triển mạnh mẽ hợp thành những dòng chính trong trào lưu có
tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu. Sự phát triển của đầu tư quốc tế gắn
liền với quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các quốc gia và sự phát triển của xu
hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá. Nhu cầu về vốn của các nước đang phát triển
và sự thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nước sở hữu vốn làm cho
đầu tư nước ngoài diễn ra với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và rộng khắp.
3.2 Phân loại đầu tư nước ngoài:
3.2.1. Đầu tư tư nhân:
chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định
trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển
khai hoặc mở rộng dự án cũng như
vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.
3.2.2. Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA):
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là tất cả các khoản viện trợ không
hoàn lại và các khoản viện trợ có hoàn lại của chính phủ, các tổ chức liên hợp
quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho chính
phủ và nhân dân nước nhận viện trợ.
SV: Hoàng Thị Thắm- KTB50dh2 16
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô 1
Hỗ trợ phát triển chính thức có các đặc điểm sau :
- Là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực
tiếp điều hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu
hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tuy nước chủ nhà có quyền quản lí sử dụng vốn ODA,
nhưng thông thường danh mục dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà tài
trợ. Hỗ trợ phát triển chính thức chủ yếu dành cho các dự án đầu tư vào cơ sở hạ
tầng như giao thông vận tải, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội.
- Các nước nhận vốn ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới
được nhận tài trợ. Điều kiện này tuỳ thuộc vào quy định của từng nhà tài trợ.
Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi. Tuy
vậy nếu quản lí, sử dụng vốn ODA kém hiệu quả vẫn có thể để lại gánh nặng nợ
nần cho tương lai.
3.3 Tầm quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển
kinh tế:
3.3.1. Vị trí:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có một vị trí vô cùng quan trọng. Nó thúc
đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và toàn diện hơn.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài làm tăng khả năng về vốn, kinh nghiệm
quản lý cho nước nhận đầu tư.
-Đầu tư FDI làm cho các hoạt động đầu tư trong nước phát triển, thúc đẩy
tính năng động và khả năng cạnh tranh trong nước, tạo điều kiện khai thác có
hiệu quả các tiềm năng của đất nước. Điều đó có tác động mạnh mẽ đến chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.
-Với việc tiếp nhận FDI, không đẩy các nước vào cảnh nợ nần, không
chịu những ràng buộc về chính trị, xã hội. FDI góp phần tăng thu cho ngân sách
nhà nước thông qua việc đánh thuế vào các công ty nước ngoài. Thông qua hợp
tác với nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư cso điều kiện thâm nhập vào thị
trường thế giới. Như vậy, các nước có khả năng tốt hơn trong việc huy động tài
chính cho các dự án phát triển.
SV: Hoàng Thị Thắm- KTB50dh2 18
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô 1
Tuy nhiện, bên cạnh những ưu điểm, FDI cũng có những hạn chế nhất
định. Đó là nếu đầu tư vào nơi có môi trường bất ổn về kinh tế và chính trị, thì
nhà đầu tư nước ngoài dễ bị mất vốn. Còn đối với nước sở tại, nếu không có quy
hoạch cho đầu tư cụ thể và khoa học thì sẽ dễ dẫn đến đầu tư tràn lan, kém hiệu
quả, tham nhũng, tài nguyên thiên nhiên bị khi thác quá mức và nạn ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng.
SV: Hoàng Thị Thắm- KTB50dh2 19
Bi tp ln kinh t v mụ 1
Chng 2: ỏnh giỏ vai trũ ca FDI i vi nn kinh t Vit Nam giai on
2002 ữ 2009
a. Tỡm hiu v phõn tớch s liu FDI, nờu rừ li ớch ca FDI i vi nn
kinh t nc ta
Vit Nam bt u ch trng hi nhp kinh t t sau i hi i biu ton
quc ln th VI (1986) ca ng Cng sn Vit Nam. Sau i hi i biu ton
quc ln th VIII (1996), ch trng ny cng c y mnh. Hi nhp kinh t
ca Vit Nam din ra cng ngy cng nhanh v cng sõu. T ch ch hp tỏc
thng mi thụng thng ó tin ti hp tỏc kinh t ton din, t ch hp tỏc
song phng ó tin ti hp tỏc kinh t a phng. Cho n gia nm 2007,
của cộng đồng tài chính quốc tế, với một số căn cứ quan trọng sau đây: Dòng
vốn FDI tiếp tục tăng, không có hiện tượng dòng chảy FPI xáo trộn lớn; Chính
sách thắt chặt tiền tệ tiếp tục được đồng thuận, duy trì và bắt đầu có hiệu quả;
Các phương pháp điều khiển tín hiệu rõ hơn với nền kinh tế, điều mà Việt Nam
không làm được trong suốt thời kỳ biến động của nửa đầu năm 2008; Việc tăng
cường kiểm soát hệ thống siêu quyền lực ngân hàng là bước đi hợp lý; Quá trình
điều hành cơ chế tỷ giá hỗn hợp đang hình thành và hiệu chỉnh dần độ lệch trong
ngắn hạn, phần lớn gây ra bởi tâm lý đầu cơ và bất an. Sự nới lỏng kiểm soát sẽ
giúp hệ thống dù tr÷
quèc gia bÒn v÷ng h¬n.
Việt Nam đã công nhận một cách chính thức và rộng rãi rằng FDI đang ngày
càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam trên nhiều
phương diện: vốn, công nghệ, nâng cao khả năng thanh toán quốc tế, phát triển
xuất khẩu, tham gia vào các thị trường quốc tế, ….
- FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu
đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế:
Đóng góp của FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động lớn, từ tỷ
trọng chiếm 13,1% vào năm 1990 đã tăng lên mức 32,3% trong năm 1995. Tỷ lệ
này đã giảm dần trong giai đoạn 1996-2000, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài
chính khu vực (năm 2000 chiếm 18,6%) và trong 5 năm 2001-2005 chiếm
SV: Hoàng Thị Thắm- KTB50dh2 21
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô 1
khoảng 16% tổng vốn đầu tư xã hội; hai năm 2006-2007 chiếm khoảng 16%
(Theo Niên giám Thống kê cơ cấu vốn đầu tư thực hiện của khu vực FDI năm
2003 là 16%, năm 2004 là 14,2%, năm 2005 là 14,9% và năm 2006 là 15,9%,
ước năm 2007 đạt trên 16%).
Vốn FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Từ năm 1991-
2000, GDP tăng liên tục qua các năm với tốc động tăng bình quân mỗi năm
7,56%, trong đó: (i) 5 năm 1991-1995: tăng 8,18% (nông lâm ngư tăng 2,4%;
công nghiệp xây dựng tăng 11,3%, dịch vụ tăng 7,2%); (ii) 5 năm 1996-2000:
FDI đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của
nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe
máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực
phẩm, da giày, dệt may… Hiện FDI đóng góp 100% sản lượng của một số sản
phẩm công nghiệp (dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hòa), 60% cán
thép, 33% hàng điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 49% sản phẩm da giày,
55% sản lượng sợi, 25% hàng may mặc.
FDI đã góp phần hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại,
đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém màu mỡ.
- FDI thúc đẩy chuyển giao công nghệ:
FDI góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát
triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và
khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy Nhất
là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ vào Việt Nam trong dự án sản
xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh
vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech.v.v)
Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực FDI cao hơn hoặc bằng các
thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực. Hầu
hết các doanh nghiệp có vốn ĐTTNN áp dụng phương thức quản lý tiên tiến,
được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ.
Trong nông-lâm-ngư nghiệp, FDI đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm
lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới.
SV: Hoàng Thị Thắm- KTB50dh2 23
Bài tập lớn kinh tế vĩ mô 1
- Tác động lan tỏa của FDI đến các thành phần kinh tế khác trong nền
kinh tế:
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp FDI được nâng cao qua số lượng các
doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất. Đồng thời, có tác động
lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa
khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng
may mặc… Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên quốc gia,
nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị trường trên
thế giới.
Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, FDI đã tạo ra nhiều khách sạn cao cấp
đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũng như các khu du lịch, nghỉ dưỡng đáp ứng
nhu cầu khách du lịch quốc tế, góp phần gia tăng nhanh chóng xuất khẩu tại chỗ.
Bên cạnh đó, FDI còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta từng bước hội
nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
b. Thống kê số liệu về FDI từ năm 1987 đến nay, lập bảng và vẽ biểu đồ về
sự thay đổi FDI
Từ thực tiễn thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 20
năm qua, đến nay có thể nói trong điều kiện của thế giới và khu vực hiện nay,
FDI thực sự trở thành hình thức hợp tác kinh tế quốc tế rất hiệu quả đối với các
nước đang phát triển.
Nhìn lại 20 năm trước, trong bối cảnh quốc tế: chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Liên Xô và Đông Âu tan vỡ; các thế lực thù địch tìm cách chống phá Việt Nam
trên nhiều mặt. Thế giới có những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị và
an ninh quốc tế, sự phục hồi chậm của nền kinh tế thế giới và biến động giá cả
trên thị trường quốc tế Các nước đang phát triển ở khu vực Đông Á và Đông
Nam Á thực hiện cải cách kinh tế, trở thành khu vực phát triển năng động của
thế giới. Tình hình trong nước: Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bị
tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, nền kinh tế ở tình trạng kém phát triển, sản xuất
nhỏ, mang nặng tính chất tự cấp tự túc, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao
cấp, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, mức lạm phát lên
tới trên 700% vào năm 1987, sản xuất đình trệ, cơ sở kỹ thuật lạc hậu và lâm
vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng.
SV: Hoàng Thị Thắm- KTB50dh2 25