Giải pháp phát triển tài trợ thương mại Quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài.
Việt Nam đã từng là một nước phong kiến lạc hậu, Việt Nam cũng đã
từng là một quốc gia với nền kinh tế chỉ huy, bao cấp, nền kinh tế nghèo nàn.
Trải qua một thời kì lịch sử dài, cho đến nay Viêt Nam đã có một bộ mặt hoàn
toàn mới. Đại hội Đảng lần thứ VI là một bước ngoặt quan trọng trên mọi mặt,
đánh dấu sự thay đổi rõ rệt của Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt Nam trở thành
nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.
Với những thay đổi của thời kì mới, Việt Nam hểu rằng việc mở rộng buôn
bán, quan hệ với nước ngoài là hết sức cần thiết. Lý thuyết lợi thế so sánh của
David Richardo đã chỉ ra rằng một quốc gia muốn tồn tại và phát triển thì hoạt
động trao đổi những hàng hóa mà quốc gia đó có lợi thế so sánh hơn lấy những
hàng hóa mà quốc gia đó ít lợi thế hơn là một điều kiện hết sức quan trọng. Lý
thuyết này là tiền đề định hướng cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc
gia sau này.
Đối với Việt Nam để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
(XNK) cần phải nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các mặt hàng, muốn vậy
cần có sự đầu tư thích đáng cho quá trình sản xuất kinh doanh như: đổi mới
công nghệ, máy móc, trang thiết bị…
Trên thực tế, một khó khăn mà các doanh nghiệp gặp phải là vốn của các
doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trên lĩnh vực này còn ít ỏi, không thể giúp
cho các doanh nghiệp tự đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng. Các doanh
nghiệp có thể huy động vốn từ nhiều nguồn, bên cạnh nguồn vốn hỗ trợ chính
thức ODA để xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thì nguồn vốn tài trợ thương
mại cũng có ý nghĩa quan trọng để giúp doanh nghiệp có đủ vốn duy trì và mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Xuất phát từ thực tế này và để đạt được
mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra thì các tổ chức tín dụng mà chủ đạo là các
Ngân hàng thương mại (NHTM) đóng một vai trò quan trọng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1
Ngân hàng thương mại với chức năng và nhiệm vụ của mình cũng cần có

Techcombank và kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động tài trợ
TMQT tại Techcombank
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu hoạt dộng tài trợ TMQT của các NHTM núi chung và của
Techccombank núi riêng.
Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động tài trợ TMQT tại Techcombank
Phân tích trong phạm vi số liệu từ năm 2005 trở lại đây.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở vận dụng học thuyết kinh tế - chính trị Mác - Lênin,
các lý thuyết kinh tế học hiện đại về tiền tệ - tín dụng và hiệu quả KT – XH.
Phương pháp nghiên cứu: duy vật biện chứng, duy vật lịch sư; tiếp cận hệ
thống và phân tích hệ thống; dùng lý luận để đánh giá thực tiễn, ứng dụng lý luận
và thực tiễn vào khoa học quản lý kinh doanh; phương pháp so sánh và phân tích
kết hợp với phương pháp chọn mẫu và hệ thống hóa khoa học.
6. Bố cục của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về tài trợ Thương mại quốc tế
Chương 2: Thực trạng họat động tài trợ thương mại quốc tế của
Techcombank
Chương 3: Một số giải pháp phát triển hoạt động tài trợ thương mại
quốc tế tại Techcombank
Trong quá trình thực tập em đã nhận được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình
từ phía GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thảo và sự giúp đỡ của cán bộ nhân
viên tại NH Thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam.Chuyên đề không tránh
khỏi những sai sót, rất mong nhận được những sự góp ý đê chuyên đề hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn!
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3
Danh Mục ký hiệu viết tắt:

1.2.1. Tài trợ trên cơ sở nghiệp vụ cho vay....................................................13
1.2.2 . Tài trợ trên cơ sở phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ ( L/C ) 15
1.2.3. Tài trợ trên cơ sở phương thức nhờ thu kèm chứng từ:.....................18
1.2.4. Tài trợ trên cơ sở hối phiếu:..................................................................20
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN TÀI TRỢ
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ..............................................................................21
1.3.1. Nhân tố chủ quan....................................................................................21
1.3.2. Nhân tố khách quan.................................................................................22
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ TẠI TECHCOMBANK................................................................25
2.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TECHCOMBANK
............................................................................................................................25
2.1.1. Đôi nét về quá trình hình thành và phát triển của Techcombank .....25
2.1.2. Khái quát về hoạt động kinh doanh của Techcombank.....................28
2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn………………………………………..28
2.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn………………………………………..30
2.1.2.2 Hoạt động TTQT và kinh doanh ngoại hối…………………..31
2.1.2.4 Hoạt động khác………………………………………………….32
2.2.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
CỦA TECHCOMBANK...............................................................................33
2.2.1. Ban hành và áp dụng các quy chế về hoạt động tài trợ XNK........33
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5
2.2.1.1 Tài trợ vốn lưu động để thu mua, chế biến, gia công, sản xuất KD
cho hàng XK có thị trường tiêu thụ……………………………………..33
2.2.1.2 Hoạt động bảo lãnh trong tài trợ thương mại quốc tế………35
2.2.2. Tình hình thực hiện hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của
Techcombank trong thời gian qua……………………………………37
2.3. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
TẠI TECHCOMBANK...............................................................................42

1.1.1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế.
Thương mại là một lĩnh vực không thể thiếu của bất cứ quốc gia nào, theo
tiến trình lịch sử thương mại đã vượt qua biên giới một quốc gia và trở thành
một hoạt động quan trọng thúc đấy nền kinh tế của một quốc gia phát triển. Mỗi
quốc gia có một lợi thế so sánh nhất định trên một mặt hàng nào đó do những
điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau quy định. Nếu chỉ dựa vào nền sản xuất
trong nước không thể cung cấp đủ cho những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu
cầu sản xuất tiêu dùng của nền kinh tế, ngược lại, trên cơ sở khai thác tiềm năng
và những lợi thế kinh tế vốn có, hoạt động thương mại ngoài việc phục vụ nhu
cầu trong nước còn có thể tạo nên những sản phẩm dư thừa có thể XK sang
nước khác, góp phần tăng thu ngoại tệ cho đất nướcdo vậy hoạt động XNK trở
thành hoạt động tất yếu.
Tài trợ thương mại chính là sự chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện tài
chính và thay thế về mặt tài chính (vay tín dụng) để hoàn tất nghĩa vụ thanh
toán và sản xuất trong quan hệ kinh tế đối ngoại cũng như đảm bảo các quá
trình thanh toán liên quan. Phạm vi của tài trợ xuất nhập khẩu bao gồm tài trợ
cho xuất khẩu(cả trong giai đoạn sản xuất) và tài trợ cho nhập khẩu trong thời
gian từ ngắn hạn đến dài hạn.
Tài trợ Thương mại quốc tế là tập hợp các biện pháp và hình thức hỗ trợ
về tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoặc các đơn vị kinh tế
tham gia trong lĩnh vực Thương mại quốc tế trong một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trường thế giới nhằm mục đích sinh lời.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
7
Xét về mặt hình thức thức tài trợ thì tài trợ TMQT được thực hiện dưới hai
hình thức là:
Tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp là tập hợp các biện pháp hoặc
hình thức hỗ trợ trực tiếp tác động đến hoạt động kinh doanh TMQT của DN
thường được thực hiện thông qua việc cho vay ngắn, trung, dài hạn để tài trợ

chủ thể kinh doanh, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đã dần được bãi
bỏ, cũng tương tự như vậy sự can thiệp của các hình thức tài trợ TMQT do các
chủ thể như nhà nước và NHTƯ ngày càng bị hạn chế, thu hẹp thậm chí bị cấm
đoán. Thay vào đó, vai trò của các tổ chức tín dụng và các DN với các hình thức
tài trợ đa dạng, linh hoạt và đảm bảo tính cạnh tranh công bằng cho các hoạt
động TMQT ngày càng được nâng cao. Với tính chuyên nghiệp cao, tiềm lực tài
chính hùng mạnh và mạng lưới cơ sở rộng khắp, các NHTM đã trở thành nhà tài
trợ chủ yếu cho hoạt động TMQT. Chính vì vậy, trong chuyên đề này, tài trợ
TMQT sẽ được đề cập dưới giác độ nhà tài trợ là các NHTM; hay nói cách
khác, hoạt động tài trợ TMQT được đề cập ở đây được hiểu là hoạt động tài trợ
TMQT của NHTM.
1.1.2 Tính tất yếu khách quan của tài trợ thương mại quốc tế.
Thương mại quốc tế ngày càng phát triển, khoảng cách giữa các quốc gia đang
ngày càng được thu hẹp dần, chính vấn đề này đó và đang thúc đẩy sự gia tăng nhanh
chóng nhu cầu về các dịch vụ tài chính quốc tế trên khắp thế giới.
Một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường chính là quy luật
cạnh tranh, khi tự do hóa thương mại được các quốc gia cùng thống nhất trên
một phạm vi rộng thì tính cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ và khốc liệt. Hoạt
động ngoại thương cũng thay đổi dần những cách thức kinh doanh cũ để phù
hợp với những thay đổi của nền kinh tế mới.
Bên cạnh những khó khăn trong kinh doanh thương mại nội địa, các DN
tham gia ngoại thương cũng phải chịu rất nhiều rủi ro tạo nên bởi đặc tính vốn
có của thương mại quốc tế như thời gian vận chuyển dài, khoảng cách địa lý xa,
giá trị hàng hóa thường lớn, sự khác nhau về loại tiền thanh toán, những biến
động trong tỷ giá hối đoái, sự khác biệt về văn hóa, luật lệ, tập quán kinh
doanh…
Website: Email : Tel : 0918.775.368
9
Vì vậy, để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của mình với các đối thủ
cạnh tranh khác, các doanh nghiệp kinh doanh ngoại thương cần tranh thủ sự

mại sẽ thanh toán cho người XK trong trường hợp người XK cần có nguồn vốn
ngay để kinh doanh còn NNK có thể trả chậm khoản tiền cần thanh toán.
Hoạt động tài trợ TMQT góp phần nâng cao uy tín DN trong kinh doanh.
Trong khi tìm kiếm đối tác, rất nhiều DN vấp phải vấn đề uy tín đặc biệt đối
với các DN vừa và nhỏ, mới thành lập. Đó chính là cơ sở để NH cho ra đời
hình thức tài trợ dưới hình thức bảo lãnh. Với hình thức này NH đã thay mặt
DN đứng ra bảo đảm khả năng hoàn thành nghĩa vụ của DN trong hợp đồng, tôn
thêm được hình ảnh của DN, tăng thêm niềm tin với bạn hàng, giành được ưu thế
cạnh tranh từ các đối thủ và dễ dàng dành được hợp đồng TMQT.
Hoạt động tài trợ TMQT của NHTM cũng là phương thức hiệu quả giúp DN
hạn chế được rủi ro khi tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế. Những rủi ro về
chính trị, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá sẽ được gánh vác bởi NHTM. Tất nhiên,
để NH chấp nhận gánh vác rủi ro thì các DN cũng phải đáp ứng những yêu cầu
hết sức chặt chẽ của NH và phải trả chi phí cho việc “chuyển rủi ro” này.
1.1.3.2 Vai trò đối với ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại bằng việc thực hiện tài trợ thương mại đã tạo
ra một khoản thu lớn từ các chi phí dịch vụ, phí bảo lãnh rủi ro. Các khoản thu
này thường có giá trị không nhỏ bởi lẽ bản thân giá trị của các hợp đồng tài trợ
thương mại quốc tế bao giờ cũng ở mức khá cao. Hơn thế nữa, phát triển hoạt
động tài trợ thương mại quốc tế góp phần thúc đẩy sự phát triển nói chung của
các loại hình dịch vụ khác của ngân hàng thương mại như: nghiệp vụ tín dụng,
nghiệp vụ TTQT, nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối đồng thời tạo ra mối liên hệ
gắn kết giữa các loại hình dịch vụ này với nhau. Nhờ vậy, NHTM sẽ thực hiện
hiệu quả việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cung ứng cho khách hàng theo
đó nâng cao được sức cạnh tranh và tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Tài trợ TMQT giúp các NHTM nâng cao độ an toàn và hạn chế rủi ro.
Thông qua hoạt động tài trợ TMQT, NHTM có thể kiểm soát được các nguồn
thanh toán một cách tập trung bằng các tài khoản thanh toán mở tại chính NH.
Bên cạnh đó, NHTM cũng có thể hạn chế được rủi ro từ việc hạn chế tìogkm
m o0knh trạng sử dụng vốn sai mục đích của bên được thanh toán.

12
1.2 Cơ sở của các hình thức tài trợ thương mại quốc tế
1.2.1 Tài trợ trên cơ sở nghiệp vụ cho vay.
Nghiệp vụ cho vay trực tiếp để tài trợ cho các DN thực hiện nghiệp vụ kinh
doanh XNK là nghiệp vụ truyền thống của NH. Các NH thường cấp tín dụng trực
tiếp bằng đồng nội tệ hoặc ngoại tệ cho các DN để hỗ trợ về tài chính cho DN này
tiến hành kinh doanh XNK nguyên nhiên vật liệu, máy móc, hàng tiêu dùng...
 Nếu xét về thời hạn cho vay, gồm:
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng thời hạn dưới 1 năm, thường được sử
dụng cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh của các đơn
vị, chiếm tỷ trọng lớn tại các NH.
Tín dụng trung và dài hạn: Thời hạn của tín dụng trung và dài hạn tùy theo quy
định của mỗi nước. Hình thức tín dụng này được cung cấp để đầu tư, mua sắm tài
sản cố định, xây dựng mới, cải tạo mở rộng, hiện đại hóa công nghệ...
 Nếu xét mục đích cho vay, gồm:
Tín dụng NK:
Các NH có thể cấp tín dụng cho người NK với thời hạn ngắn, trung, dài
hạn, tùy thuộc vào đối tượng NK. Nếu NK hàng nguyên liệu, vật liệu, hàng tiêu
dùng NH sẽ cấp tín dụng ngắn hạn. Nếu NK máy móc, thiết bị thì NH sẽ cấp
tín dụng trung hoặc dài hạn, tùy thuộc vào chủng loại hàng hóa NK. Có thể nói,
tín dụng NK là nguồn vốn bổ sung rất quan trọng cho NNK. Đối với người NK
có uy tín, quan hệ tín dụng sòng phẳng, các NHTM có thể cho họ hưởng một số
ưu đãi về tín dụng như chi trong trường hợp cần vốn ngay.
Các hình thức cấp tín dụng NK
+ Bảo lãnh thanh toán hàng NK như phát hành bảo lãnh (L/C), bảo lãnh
séc, kỳ phiếu. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia TMQT, tránh được các
rủi ro có thể phát sinh trong các giao dịch không thường xuyên đòi hỏi phải có bảo
lãnh của bên thứ 3 cam kết bồi thường thiệt hại do đối tác gây ra.
+ Ký chấp nhận trả tiền hối phiếu kỳ hạn của NH. Trong một số trường
hợp, do cạnh tranh gay gắt trên thị trường XK nên có thể NXK phải mời chào

khấu (hối phiếu, kỳ phiếu, hóa đơn thuộc bộ chứng từ gửi hàng).
Website: Email : Tel : 0918.775.368
14
1.2.2 Tài trợ trên cơ sở phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó, theo yêu cầu
của khách hàng (người yêu cầu mở L/C), một ngân hàng (ngân hàng phát hành
L/C) sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C (Letter of Credit), theo đó, ngân hàng
phát hành cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba (người
thụ hưởng L/C) khi người này xuất trình cho ngân hàng phát hành bộ chứng từ
phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định của L/C.
* Một số hình thức tài trợ của NHTM
 Phát hành thư tín dụng
Thư tín dụng (L/C) là một văn bản cam kết dùng trong thanh toán, trong
đó một ngân hàng ( ngân hàng phục vụ cho người nhập khẩu) theo yêu cầu của
người nhập khẩu sẽ chuyển cho ngân hàng ở nước ngoài (ngân hàng phục vụ
người xuất khẩu) ,một L/C để trả cho người được hưởng (người xuất khẩu )
một số tiền nhất định, trong thời hạn quy định, với điều kiện người thụ hưởng
phải xuất trình đầy đủ bị chứng từ phù hợp với các điều khoản trong thư.
Khi NH đồng ý mở L/C theo yêu cầu của NNK nghĩa là NH đó cam kết
thanh toán cho NXK nước ngoài nếu bộ chứng từ xuất trình phù hợp. Đưa ra
cam kết như vậy, NH đó chấp nhận rủi ro về phía mình và nếu NNK không có
khả năng thanh toán, NH vẫn phải trả số tiền quy định trong L/C cho phía nước
ngoài để đảm bảo uy tín.
Việc ký quỹ mở L/C là cần thiết để hạn chế rủi ro mà NH phải gánh chịu
khi mở L/C cho khách hàng, nhất là đối với những L/C trả chậm đồng thời để
đảm bảo rằng khách hàng có năng lực nhất định về vốn và ràng buộc việc thanh
toán. NH thường tiến hành phân loại khách hàng và quyết định mức ký quỹ hợp lý.
 Xác nhận thư tín dụng:
Trong thực tế uy tín của NHPH vẫn chưa đủ cho NXK tin tưởng hoặc
cũng có khi NXK cảm thấy lo ngại về rủi ro quốc gia của NNK và NHPH. Khi

- Chiết khấu miễn truy đòi: Là hình thức chiết khấu theo đó NXK bán
hẳn bộ chứng từ gửi hàng cho NH, nhận tiền và không còn trách nhiệm gì về
việc hoàn trả tiền. Trách nhiệm thu tiền từ phiá nước ngoài và việc sử dụng số
tiền thu được hoàn toàn thuộc về NH.
- Chiết khấu có truy đòi: Là hình thức NXK bán bộ chứng từ cho NH
nhưng vẫn chịu trách nhiệm về bộ chứng từ gửi hàng trong trường hợp NH không
đòi được tiền từ NNK. Về bản chất, chiết khấu có truy đòi là việc NH cho vay
trên cơ sở bộ chứng từ do NXK xuất trình, thời gian cho vay đựoc tính bằng thời
Website: Email : Tel : 0918.775.368
16
gian cần thiết trung bình để đòi tiền từ NNK, lãi được tính bằng lãi chiết khấu tính
theo ngày.
 Tài trợ bằng các loại L/C đặc biệt
(1) Tài trợ trên cơ sở L/C chuyển nhượng (Transferable L/C):
NHPH L/C thực hiện việc trả tiền, hoặc cam kết trả tiền sau, hoặc chiết
khấu, cho người hưởng lợi thứ hai theo yêu cầu của người hưởng lợi đầu tiên
nếu người hưởng lợi thứ hai thực hiện đầy đủ những điều quy định trong L/C.
Người hưởng lợi đầu tiên không cần đi vay vốn hoặc dùng vốn của mình để
mua hàng của nhà cung ứng mà chỉ cần thực hiện việc chuyển nhượng L/C một
lần duy nhất với chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên
chịu.
(2) Tài trợ trên cơ sở L/C tuần hoàn (Revolving L/C):
Đây là loại hình tài trợ mà NH thực hiện việc phát hành một L/C không
hủy ngang có đặc điểm sau khi L/C sử dụng xong hoặc hết hạn hiệu lực thì nó tự
động có giá trị như cũ và cứ như vậy cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồng được
thực hiện với số lần tuần hoàn được quy định trước. Việc tài trợ tuần hoàn này
giúp cho người hưởng lợi tài trợ giảm bớt chi phí và thủ tục mà vẫn đạt được
hiệu quả cao.
(3) Tài trợ trên cơ sở L/C đối ứng (Reciprocal L/C):
L/C đối ứng là một L/C chỉ bắt đầu có hiệu lực khi có một L/C đối ứng

 Tài trợ bộ chứng từ nhờ thu xuất khẩu
Để được tài trợ nhờ thu hàng xuất, khách hàng phải gửi thư yêu cầu được tài
trợ cho NH. Nhìn chung, cho đến nay, các NH thường chỉ tài trợ nhờ thu hàng xuất
dưới hình thức chiết khấu truy đòi, với điều kiện bảo lưu “cho phép truy đòi”. Sau
đó, NH sẽ gửi bộ chứng từ này để thu nợ tiền hàng từ NNK và số tiền thanh toán
cuối cùng khi về đến NH tài trợ được xem như nguồn hoàn trả vốn tài trợ đó ứng
trước, còn phần lãi tài trợ sẽ được tính theo kỳ hạn thực tế.
Căn cứ vào mức độ rủi ro giảm dần, cú 3 hình thức tài trợ
- Tài trợ chứng từ nhờ thu XK: Sau khi quyết định làm NH gửi nhờ thu,
NH có thể xem xét tài trợ cho bộ chứng từ nhờ thu XK. NH thỏa thuận về việc
tài trợ với NXK, đồng thời áp dụng các biện pháp bảo đảm thích hợp. NH
thường xem xét các nội dung sau trước khi tài trợ: bảo đảm thu nhập từ bộ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
18
chứng từ nhờ thu; quyền truy đòi đối với NXK; chứng từ được trao theo điều
kiện D/P hay D/A; hệ số tín nhiệm của người mua; rủi ro quốc gia.
- Tài trợ bộ chứng từ nhờ thu hàng xuất có bảo hiểm XK: Một trong
những công cụ cạnh tranh của NXK đó là cho phép NNK trả sau và được NH
tài trợ cho bộ nhờ thu thanh toán sau. Tuy nhiên, trong một số trường hơp, để
được NH tài trợ phải có bảo hiểm XK. Chính phủ các nước rất muốn tăng
cường XK, chính vì vậy ở hầu hết các nước, chính phủ thường cung cấp dịch
vụ bảo hiểm XK thông qua các tổ chức của chính phủ.
- Tài trợ bộ chứng từ nhờ thu có bảo lãnh của NH NNK: Khi bộ chứng từ
nhờ thu XK được bảo lãnh thanh toán bởi NH NNK, nghĩa là NH phát hành thư
bảo lãnh cam kết trả tiền hối phiếu (hoặc kỳ phiếu) không được người trả tiền
thanh toán. Như vậy rủi ro tài trợ nhờ thu lúc này phụ thuộc vào NH NNK, chứ
không phải là NNK. Để quyết định tài trợ hay không, NH cần kiểm tra kỹ chữ
ký hậu; thẩm định chữ ký; đánh giá rủi ro NH và quốc gia; xác nhận bằng telex.
 Tài trợ bộ chứng từ nhờ thu nhập khẩu:
Với điều kiện thanh toán D/P, NNK phải thanh toán nhờ thu mới nhận được

Thông qua loại hình tài trợ này, NH cung ứng khoản vốn cho các NXK
để họ có điều kiện tiếp tục quá trình tái sản xuất. Đây là khoản vốn mà nhà sản
xuất cần bù đắp, vì trước đó họ đã cung ứng khoản tín dụng thương mại (bán
chịu hàng hóa) cho NNK. Để được NH xem xét tài trợ chiết khấu, hối phiếu trả
chậm này phải được NNK ký chấp nhận lên bề mặt hối phiếu, thừa nhận món
nợ phải trả (giá trị hối phiếu) cho người thụ hưởng khi hối phiếu đến hạn thanh
toán. Tài trợ chiết khấu hối phiếu trong ngoại thương thường được áp dụng cho
các giao dịch XNK thanh toán bằng phương thức ghi sổ hoặc nhờ thu. Kỹ thuật
tài trợ chiết khấu hối phiếu khá đơn giản. NH mua lại quyền sở hữu giá trị hối
phiếu khi đến hạn thanh toán từ người thụ hưởng hợp pháp thể hiện trên bề mặt
hối phiếu.
Đối với NH tài trợ, việc chiết khấu hối phiếu tuy đơn giản nhưng lại chứa
đựng nhiều yếu tố rủi ro, đặc biệt là rủi ro liên quan đến uy tín và khả năng thanh
toán của con nợ chấp nhận hối phiếu tức là NNK nước ngoài. Chính vì vậy mà
NH thường áp dụng lãi suất chiết khấu ở mức cao, và luôn phòng chống rủi ro
không thu hồi được khi đáo hạn bằng cách bảo lưu “quyền truy đòi” đối với NXK
đó chuyển nhượng quyền thụ hưởng giá trị hối phiếu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
20
 Chấp nhận hối phiếu:
Chấp nhận hối phiếu của NH là khoản tín dụng mà NH ký chấp nhận hối
phiếu. Người vay khoản tín dụng chính là NNK và khoản vay chỉ là hình thức,
một sự đảm bảo về tài chính; thực chất NH chưa phải xuất tiền thực sự cho
người vay. Tuy nhiên, khi đến hạn mà NNK không có khả năng thanh toán thì
NH (người đừng ra chấp nhận hối phiếu) phải trả thay.
Chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trường hợp bên bán thiếu tin tưởng khả
năng thanh toán của bên mua, họ có thể đề nghị bên mua yêu cầu một NH đứng
ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên bán ký phát. Nếu NH đồng ý cũng có
nghĩa là NH đó chấp nhận cấp một khoản tín dụng cho bên mua để thanh toán
cho bên bán khi hối phiếu đến hạn. Với sự chấp nhận của NH, NXK trên cơ sở

trong thẩm định dự án, xem xét đơn vay vốn của khách hàng thì chất lượng tín
dụng sẽ cao và ngược lại.
1.3.2 Nhân tố khách quan
 Chủ trương chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước
Các hoạt động kinh tế nói chung và XNK nói riêng chịu tác động rất lớn bởi
chính sách chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Nhà nước.
Về mặt tích cực: chính sách vĩ mô của Nhà nước có thể tạo điều kiện cho
vay XNK của ngân hàng được mở rộng và phát triển. Nếu Nhà nước dùng
chính sách tiền tệ mở rộng thì NHTM được cấp thêm vốn dự trữ, khả năng cho
vay của ngân hàng sẽ gia tăng. Các ngân hàng có thể có chính sách cho vay tự
do hơn. Chính sách lãi suất linh hoạt, lãi suất thực dương luôn là đòn bẩy thúc
đẩy hoạt động tín dụng của ngân hàng. Hoạt động tín dụng tài trợ XNK chủ yếu
diễn ra theo hình thức cho vay bằng ngoại tệ. Vì vậy nếu Nhà nước cho phép
tập trung ngoại tệ vào ngân hàng, quản lý ngoại tệ một cách chặt chẽ thì ngân
hàng sẽ có nhiều nguồn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập máy móc, thiết bị,
nguyên liệu của nhà nhập khẩu.
Về mặt tiêu cực: Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước có thể gây ra
nhiều rủi ro cho hoạt động tín dụng XNK của ngân hàng. Nếu Nhà nước không
có chiến lược hướng về xuất khẩu thì hoạt động kinh doanh của các doanh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
22
nghiệp XNK rất hạn chế. Từ đó dẫn đến hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ ít
đi lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm xuống. Khi Nhà nước áp đặt một hàng rào
thuế quan, phi thuế quan thì nó sẽ dẫn đến tăng giá của một số loại hàng nhập
khẩu, lượng hàng nhập khẩu giảm dẫn đến nhu cầu vay vốn giảm.
Ngoài ra, việc thay đổi nhỏ trong chính sách lãi suất, tỷ giá hối đoái cũng
tác động không ít đến hoạt động tín dụng tài trợ XNK của Ngân hàng. Môi
trường pháp không ổn định, cơ chế chính sách hay thay đổi làm ảnh hưởng đến
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, làm đảo lộn chính sách tín dụng của
từng ngân hàng. Đây chính là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cho các

nghiệp hoạt động XNK nói riêng với thái độ ý thức thanh toán của doanh
nghiệp sẽ thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động tín dụng của ngân hàng.
 Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng tài trợ XNK của NHTM cũng luôn
phải đối mặt với rủi ro lãi suất hay tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái luôn luôn biến
động, sự biến động này có thể diễn ra hàng ngày. Nếu tỷ giá hối đoái hợp lý sẽ
khuyến khích cả nhập khẩu và xuất khẩu, tạo điều kiện cho nền kinh tế nói chung
và hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói riêng sẽ phát triển.
Hoạt động cho vay của ngân hàng chịu tác động của nhiều nhân tố khác
nhau. Có nhân tố tác động tích cực khuyến khích mở rộng hoạt động cho vay.
Song cũng có không ít những nhân tố kìm hãm, gây rủi ro cho hoạt động này
của ngân hàng. Các ngân hàng khi cấp tín dụng cho doanh nghiệp XNK phải
lường trước mọi rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động ngoại thương để từ đó có
những quyết định đúng đắn, kịp thời, đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
24
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ TẠI TECHCOMBANK
2.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh của Techcombank.
2.1.1 Đôi nét về quá trình hình thành và phát triển của Techcombank
NHTMCP Kỹ thương Việt Nam – Techcombank được thành lập ngày 27
tháng 09 năm 1993 theo giấy phép hoạt động số 0040/NH-GP là một trong
những NHTMCP đầu tiên của Việt Nam được thành lập trong bối cảnh đất
nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với số vốn là 20 tỷ đồng, trụ sở
chính đặt tại 24 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Sau 2 năm kể từ ngày thành lập, năm 1995 Techcombank đã tăng vốn
điều lệ lên 51,495 tỷ đồng. Cũng trong năm này, Techcombank thành lập chi
nhánh Techcombank Hồ Chí Minh, đánh dấu bước khởi đầu cho quá trình phát
triển nhanh chóng của Techocmbank tại các đô thị lớn. Liên tục trong các năm
sau, Techcombank tiếp tục tăng vốn điều lệ, mở rộng mạng lưới hoạt động với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status