tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của tổng công ty vận tải dầu khí việt nam - Pdf 13

Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
Lời mở đầu
Trong bất kì thời đại nào, ở bất kì quốc gia nào thì việc phát triển kinh
tế luôn dược coi là công việc cần thiết nhất đánh giá sự phát triển của xã hội
đó, đất nước đó. Để phát triển nền kinh tế một cách tốt nhất thì cần tìm hiểu,
nghiên cứu thật sâu sắc và vận dụng linh hoạt các qui luật kinh tế vào thực
tế.
Kinh tế học vi mô nghiên cứu các quyết định của các cá nhân và
doanh nghiệp và các tương tác giữa các quyết định này trên thị trường. Là
một sinh viên theo học ngành kinh tế bản thân em nhận thấy việc nghiên cứu
“Kinh tế học” nói chung và “kinh tế vi mô” nói riêng để nắm vững những
vấn đề kinh tế cơ bản là một công việc thiết thực vô cùng bổ ích để phục vụ
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Với sự hướng dẫn của giảng viên ….
Em quyết định thực hiện đề tài “Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ
bản của Tổng công ty vận tải dầu khí Việt Nam” nhằm nâng cao hiểu biết
của bản thân, có cái nhìn tổng quan, sâu sắc hơn về các vấn đề kinh tế cơ
bản và vai trò,tác dụng của nó trong doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng không thể
tránh khỏi những thiếu sót nhất định rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của các thầy cô để em có thể hoàn thành tốt hơn trong các đề tài sau.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 1
Lớp: QKT 51-ĐC2
Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
Mục lục
Tên chương mục Trang
Lời mở đầu 1
Chương 1: Giới thiệu chung (về môn học, về lý thuyết thực hiện ba
vấn đề kinh tế cơ bản của một doanh nghiệp)
4
1.1.Giới thiệu chung về môn học 4

1.1. Giới thiệu về môn học
1.1.1. Khái niệm kinh tế học
Theo một khái niệm chung nhất, kinh tế học là một bộ môn khoa học
giúp cho con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và
cách thức ứng xử của từng chủ thể tham gia vào nền kinh tế nói riêng. Vấn
đề khan hiếm nguồn lực yêu cầu các nền kinh tế hay các đơn vị kinh tế phải
lựa chọn. Các Nhà Kinh tế cho rằng: Kinh tế học là "khoa học của sự lựa
chọn". Kinh tế học tập trung vào việc sử dụng và quản lý các nguồn lực hạn
chế để đạt được thỏa mãn tối đa nhu cầu vật chất của con người. Đặc biệt,
kinh tế học nghiên cứu hành vi trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng
hóa, dịch vụ trong thế giới có nguồn lực hạn chế.
Như vậy, kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ nền kinh tế
tổng thể và hành vi của các chủ thể riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồm các
doanh nghiệp,hộ tiêu dùng, người lao động và chính phủ. Mỗi chủ thể kinh
tế đều có mục tiêu để hướng tới, đó là tối đa hóa lợi ích kinh tế của họ. Mục
tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, mục tiêu của các hộ tiêu
dùng là tối đa hóa mức độ tiêu dùng, mục tiêu của người lao động là tối đa
hóa tiền công và mục tiêu của chính phủ là tối đa hóa lợi ích xã hội. Kinh tế
học có nhiệm vụ giúp các chủ thể kinh tế giải quyết bài toán tối đa hóa lợi
ích kinh tế này.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 4
Lớp: QKT 51-ĐC2
Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
Kinh tế học có hai bộ phận cấu thành hữu cơ là kinh tế học vi mô và
kinh tế học vĩ mô. Dựa vào hành vi kinh tế, các Nhà Kinh tế phân kinh tế
học theo hai mức độ phân tích khác nhau: vi mô và vĩ mô. Trong chương này
chúng ta chỉ tập trung tìm hiểu về khái niệm “Kinh tế vi mô”.
1.1.2. Kinh tế học vi mô
Kinh tế học vi mô (microeconomic) là một phân ngành chủ yếu của
kinh tế học, chuyên nghiên cứu về hành vi kinh tế của các cá nhân (gồm

Quyết định sản xuất như thế nào ?
Quyết định sản xuất cho ai ?
Đó chính là ba vấn đề kinh tế cơ bản mà chúng ta đang tìm hiểu!
1.2.1. Quyết định sản xuất cái gì?
Sản xuất cái gì là vấn đề cơ bản đầu tiên cần phải trả lời. Vì nguồn
lực khan hiếm nên không thể dễ dàng đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội.
Trong khả năng hiện có, xã hội phải lựa chọn để sản xuất một số loại hàng
hóa nhất định. Việc lựa chọn loại hàng hóa, dịch vụ gì nên được ưu tiên sản
xuất sẽ được căn cứ vào nhiều yếu tố, ví dụ như cầu của thị trường, khả năng
về các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh, giá cả trên thị
trường. Trong nền kinh tế thị trường, giá cả sẽ là tín hiệu trực tiếp nhất giúp
người sản xuất quyết định sản xuất cái gì.
Vấn đề này có thể được hiểu như là: "Sản phẩm và dịch vụ nào sẽ được
sản xuất?". Trong nền kinh tế thị trường, sự tương tác giữa người mua
và người bán vì lợi ích cá nhân sẽ xác định sản phẩm và dịch vụ nào sẽ được
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 6
Lớp: QKT 51-ĐC2
Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
sản xuất. Nhà Kinh tế học Adam Smith trong tác phẩm "The Wealth of
Nations" đã cho rằng sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất sẽ đem lại lợi ích
cho xã hội.
Sự cạnh tranh làm cho các nhà sản xuất cung cấp các sản phẩm thỏa mãn
nhu cầu của người tiêu dùng. Trong việc tìm kiếm lợi nhuận, nhà sản xuất cố
gắng cung cấp các sản phẩm có chất lượng cao hơn nhằm phục vụ tốt hơn
nhu cầu của người tiêu dùng. Điều này có thể giải thích tại sao người tiêu
dùng có "quyền tối thượng" xác định những sản phẩm và dịch vụ nào sẽ
được sản xuất. Một số Nhà Kinh tế, chẳng hạn như John Kenneth Galbraith
cũng đề cập đến vấn đề này và cho rằng các hoạt động tiếp thị của các công
ty lớn có thể ảnh hưởng đáng kể đến cầu tiêu dùng trong ngắn hạn. Hầu hết,
các Nhà Kinh tế đều thống nhất rằng mặc dầu các biện pháp tiếp thị có thể

mỗi quốc gia.
Trong nền kinh tế thị trường, các nhà sản xuất vì mục tiêu tối đa hóa
lợi nhuận sẽ phải tìm kiếm các nguồn lực có chi phí thấp nhất có thể (giả
định với số lượng và chất lượng sản phẩm không thay đổi). Các phương
pháp và kỹ thuật sản xuất mới chỉ có thể được chấp nhận khi chúng làm
giảm chi phí sản xuất. Trong khi đó, các nhà cung cấp nguồn lực sản xuất sẽ
cung cấp nguồn lực đem lại cho họ các giá trị cao nhất. Một lần nữa, "bàn
tay vô hình" theo thuyết của Adam Smith dẫn dắt cách thức phân phối nguồn
lực đem lại giá trị sử dụng cao nhất.
Để có thể lý giải tại sao một số quốc gia lựa chọn tập trung sản xuất
một số hàng hóa và trao đổi với các quốc gia khác. Vấn đề ở đây liên quan
đến việc xem xét chi phí cơ hội và bằng cách so sánh chi phí tương đối trong
việc sản xuất các hàng hóa, các quốc gia sẽ sản xuất và trao đổi hàng hóa
trên cơ sở chi phí cơ hội thấp nhất.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 8
Lớp: QKT 51-ĐC2
Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
1.2.3. Quyết định sản xuất cho ai?
Sau khi xác định được loại hàng hóa, dịch vụ nào nên được sản xuất
và phương pháp sản xuất các loại sản phẩm đó, xã hội còn phải giải quyết
vấn đề cơ bản thứ ba là "Sản xuất cho ai?". Câu hỏi này liên quan đến việc
lựa chọn phương pháp phân phối các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được sản
xuất ra tới tay người tiêu dung như thế nào. Tất nhiên, vì nguồn lực là khan
hiếm, sẽ có cạnh tranh trong tiêu dùng và trên thị trường tự do cạnh tranh thì
sản phẩm sẽ thuộc về người có khả năng thanh toán cho việc mua sản phẩm.
Tuy nhiên, vấn đề này sẽ được chính phủ xem xét và điều tiết thông qua các
chính sách về thuế, giá cả và trợ cấp, nhằm đảm bảo cho cả những người
nghèo, khó khăn, có thu nhập thấp cũng được hưởng những thành quả từ
nguồn lực của xã hội.
Vấn đề thứ ba này phải giải quyết đó là, "Ai sẽ nhận sản phẩm và dịch

chở dầu thô loại Aframax thứ hai - HERCULES M.
- Năm 2007: Thực hiện Quyết định số 758/QĐ-BCN của Bộ Công nghiệp
ngày 30/3/2006, Công ty Vận tải Dầu khí đã tiến hành cổ phần hóa và chính
thức hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần vào ngày 07/5/2007 căn cứ
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu số 4103006624 do Sở Kế
hoạch và Đầu tưTp. Hồ Chí Minh cấp.
Ngành nghề kinh doanh:
Kinh doanh vận tải dầu thô và các sản phẩm dầu khí
- Tham gia đào tạo và cung ứng thuyền viên cho các tàu vận tải dầu khí;
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 10
Lớp: QKT 51-ĐC2
Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
Thuê và cho thuê tàu biển, phương tiện vận tải khác với các đối tác trong và
ngoài nước
- Kinh doanh dịch vụ môi giới tàu biển, đại lý hàng hải, cung ứng tàu biển,
dịch vụ sửa chữa tàu biển và dịch vụ hàng hải khác
- Kinh doanh vận tải hàng hoá bằng ô tô, đường thuỷ nội địa; Dịch vụ giao
nhận hàng hoá
- Kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế
- Dịch vụ quản lý bất động sản; Xây dựng công trình giao thông, thuỷ lợi,
công nghiệp, dân dụng, dầu khí
- Dịch vụ kỹ thuật dầu khí
- Bảo dưỡng, sửa chữa, lắp đặt công trình ngầm dầu khí
- Sản xuất và mua bán nước khoáng, nước uống tinh khiết (không sản xuất
nước khoáng tại trụ sở)
- Mua bán vật tư, trang thiết bị phục vụ cho ngành dầu khí và vận tải
- Dịch vụ sửa chữa, đóng mới tàu biển và các công trình dầu khí; phá dỡ tàu
cũ; Dịch vụ đại lý hàng hải.
- Sản phẩm và dịch vụ chính: Vận chuyển dầu thô, vận chuyển trong nước,
sửa chữa phương tiện nổi và cung cấp các vật tư thiết bị hàng hải.

năm 2009.
Hoạt động vận tải đường bộ chủ yếu là vận tải Taxi cũng được Tổng
công ty tích cực triển khai thông qua 2 đơn vị thành viên là Công ty Cổ phần
Cửu Long và Đông Dương. Trong năm 2008, thương hiệu xe taxi Dầu khí đã
được đưa vào khai thác tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh với tổng cộng gần
400 xe. Bên cạnh đó, các đơn vị cũng tiếp tục thực hiện các hợp đồng dịch
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 12
Lớp: QKT 51-ĐC2
Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
vụ cho thuê xe hạng sang, xe bồn vận tải LPG, vận tải xăng dầu, xe đầu kéo
container. Mặc dù còn một số bất cập lúc ban đầu, nhưng chất lượng dịch vụ
cũng ngày một được cải thiện và do đó đã dần nâng cao được hiệu quả kinh
doanh.
PV Trans cũng tích cực xây dựng và mở rộng các dịch vụ đại lý hàng
hải, dịch vụ kinh doanh thương mại, cung cấp vật tư thiết bị hàng hải, dầu
khí, các hợp đồng kinh doanh cung cấp LPG, xăng dầu, phân đạm để tạo
nguồn thu và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Về dịch vụ hàng hải dầu khí, bên cạnh việc tham gia cung cấp một số
dịch vụ hậu cần cho các công ty dầu khí nước ngoài, trong năm 2008, PV
Trans đã hợp tác với đối tác EMAS (Singapore) đấu thầu quốc tế và trúng
thầu cung cấp tàu chứa xử lý dầu thô FPSO cho Premier Oil tại mỏ Chim
Sáo và Dừa với tổng giá trị đầu tư lên đến 450 triệu USD, hiện nay dự án
này cũng đang được tích cực triển khai. Bên cạnh đó, PV Trans cũng đang
chuẩn bị ký kết hợp đồng cung cấp tầu FSO cho mỏ Đại Hùng, dự kiến sẽ
cung cấp tầu vào đầu tháng 09/2009. PV Trans cũng đang chuẩn bị tham gia
đấu thầu tiếp các dự án cung cấp FPSO cho Hoàng Long JOC và Thăng
Long JOC.
2.2.2. Các chỉ tiêu kế hoạch đã thực hiện
Với những công việc đã thực hiện trên, kết quả sản xuất kinh doanh
của Tổng công ty trong năm 2008 như sau:

điều chỉnh tỷ giá
cuối kỳ và điều
chỉnh khác
Tỷ đồng 45,33
8 Lợi nhuận chưa
phân phối năm
2008 sau điều chỉnh
Tỷ đồng 23,79
9 Tổng số thuế và các
khoản khác
phát sinh phải nộp
NSNN
Tỷ đồng 32,19 94,50 294% 845%
2.2.3. Đánh giá kết quả đạt được
Trong năm qua, mặc dù tình hình kinh doanh trong lĩnh vực vận tải
dầu khí trên thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, nhu cầu tiêu thụ và cước
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 14
Lớp: QKT 51-ĐC2
Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
phí vận tải giảm, chi phí nhiên liệu đầu năm tăng cao , PV Trans vẫn hoàn
thành vượt mức kế hoạch đề ra là nhờ những lý do sau:
- Tập thể lãnh đạo và CBCNV PV Trans đã tập trung về mọi mặt để đảm
bảo đội tàu của Tổng công ty luôn hoạt động trong tình trạng tốt nhất, khai
thác ổn định nguồn hàng để đội tàu hoạt động liên tục.
- PV Trans đã quản lý chặt chẽ các chi phí, đảm bảo hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh đạt mức tối ưu.
Trong năm 2008, PV Trans đã ký nhiều thoả thuận hợp tác với các đối
tác trong và ngoài nước về hợp tác vận chuyển và đầu tư, trong đó có hợp
đồng vận chuyển sản phẩm đầu ra cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất, hợp
đồng vay dài hạn 175 triệu USD từ ngân hàng Citibank và các ngân hàng

2.3.2. Mục tiêu
Với chiến lược tiếp tục xây dựng PV Trans có những nền tảng vững
chắc để phát triển ổn định, trở thành đơn vị hàng đầu về vận tải dầu khí tại
Việt Nam và có uy tín trên thế giới, các mục tiêu nhiệm vụ cơ bản được
Tổng công ty đề ra trong năm 2009 gồm:
1. Vận hành an toàn và khai thác hiệu quả đội tàu vận tải hiện có trên thị
trường quốc tế và trong nước. Đảm bảo vận chuyển toàn bộ dầu thô đầu vào
và 70% sản phẩm đầu ra cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất.
2. Đảm bảo công tác đầu tư phát triển đội tàu, phương tiện vận tải, các cơ
sở phương tiện dịch vụ hàng hải hỗ trợ khác để nâng cao năng lực
dịch vụ.
3. Tiếp tục phát triển và từng bước kinh doanh hiệu quả và chất lượng dịch
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 16
Lớp: QKT 51-ĐC2
Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
vụ vận tải taxi và các vận tải đường bộ khác.
4. Đẩy mạnh phát triển các loại hình dịch vụ khác để tạo nguồn thu và nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn như: dịch vụ hàng hải dầu khí, dịch vụ kinh doanh
thương mại, dịch vụ đại lý hàng hải, dịch vụ cảng biển…
5. Bảo đảm tuyệt đối an toàn, không để xảy ra các tai nạn lớn, sự cố cháy
nổ… trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty.
6. Đảm bảo nguồn nhân lực cho sự phát triển của Tổng công ty và các đơn vị
thành viên. Phấn đấu thay thế dần các chức danh thuyền viên bậc cao hiện
do nước ngoài đảm trách bằng thuyền viên Việt Nam. Phấn đấu đến cuối
năm 2009 sẽ chuyển giao tự quản lý kỹ thuật các tàu sản phẩm dầu loại lớn,
tàu chở dầu thô chạy trong nước.
7. Phấn đấu tất cả các đơn vị thành viên của PV Trans đều kinh doanh hiệu
quả, có lãi. Tăng cường tiết kiệm các chi phí, nâng cao hiệu quả công tác
quản lý.
Xây dựng và chuẩn hóa môi trường và văn hóa làm việc chuyên nghiệp quốc

và 70% sản phẩm đầu ra của Nhà máy.
• Đẩy mạnh hợp tác với các công ty vận tải trong nước và quốc tế để
vừa đảm bảo khai thác tốt thị trường quốc tế, vừa phục vụ tốt cho Nhà
máy lọc dầu Dung Quất khi nhu cầu vận tải cho Nhà máy còn chưa ổn
định.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 18
Lớp: QKT 51-ĐC2
Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
• Đẩy mạnh phát triển các dịch vụ hàng hải dầu khí đặc biệt là các dịch
vụ FPSO/FSO trong đó tập trung đầu tư thực hiện dự án FSO cho mỏ
Đại Hùng và góp vốn thực hiện dự án FPSO với Emas. Tham gia đấu
thầu cung cấp FPSO cho Hoàn Vũ JOC, Thăng Long JOC. Cung cấp
các dịch vụ kỹ thuật hàng hải dầu khí cho các công ty dầu khí tại Việt
Nam.
• Chỉ đạo các công ty thành viên đưa toàn bộ xe taxi Dầu khí đã đầu tư
vào hoạt động hết công suất. Nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả
kinh doanh thông qua việc tiếp thị mở rộng thị trường và tăng cường
công tác đào tạo, kiểm tra kiểm soát chi phí.
• Tiếp tục mở rộng dịch vụ kinh doanh thương mại, dịch vụ đại lý hàng
hải.
• Đảm bảo cung cấp toàn bộ dịch vụ đại lý hàng hải cho đội tàu của PV
Trans hoạt động trong nước.
• Tiếp tục đôn đốc, giám sát hợp đồng đóng tàu Aframax thứ nhất với
Vinashin để đảm bảo chất lượng và tiến độ.
• Hoàn tất đầu tư 02 - 03 tàu chở dầu sản phẩm (từ 10.000 - 30.000
DWT); đầu tư 02 tàu chở LPG loại dưới 2.000 DWT; Đầu tư mua
thêm 01 tàu chở dầu thô loại Aframax để phục vụ thị trường Dung
Quất vào quý III/2009.
• Tập trung đầu tư 01 tầu vận tải dầu thô để hoán cải thành FSO phục
vụ cho mỏ Đại Hùng, đảm bảo cung cấp tầu đúng tiến độ của dự án

khủng hoảng này cộng hưởng với những bất ổn vĩ mô và suy giảm sản xuất
kinh doanh trong nước, đang và sẽ đặt ra những khó khăn ngày càng lớn cho
doanh nghiệp.
Những dấu hiệu được cảnh báo những ngày gần đây càng bộc lộ rõ,
như xuất khẩu khó khăn; khan hiếm dần nguồn vốn ngoại, tỉ giá USD tăng;
doanh nghiệp không mặn mà vay vốn ngân hàng, mặc dù lãi suất giảm (tuy
vẫn còn cao) vì không chọn được phương án kinh doanh trước quá nhiều bất
ổn bên trong và bên ngoài…
Bên cạnh việc phát huy tính năng động, nghệ thuật quản lý điều hành của
doanh nghiệp để chèo lái con thuyền kinh doanh vượt qua giông bão; bên
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 21
Lớp: QKT 51-ĐC2
Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
cạnh sự trợ giúp cụ thể, trực tiếp của Chính phủ cho từng lĩnh vực, từng
ngành hàng trong chừng mực khả năng cho phép, thì điều cơ bản là Nhà
nước phải có những quyết sách điều hành vĩ mô kịp thời, đúng đắn, để xử lý
những đột biến xấu, vượt ra ngoài khả năng ứng phó của từng doanh nghiệp.
Để đạt được mục tiêu này, người viết xin có một số đề xuất cụ thể như sau:
Thứ nhất, phải coi việc ngăn ngừa chiều hướng đình trệ sản xuất, kinh doanh
– do cộng hưởng của suy thoái kinh tế thế giới với sự suy giảm đà tăng
trưởng trong nước – là nhiệm vụ trung tâm đột xuất của những tháng cuối
năm 2008 và trong cả năm 2009.
Kiểm soát lạm phát vẫn là nhiệm vụ ưu tiên, hiểu theo nghĩa nguy cơ tái
diễn lạm phát cao vẫn thường trực và rất dễ bộc phát trở lại, nếu chúng ta
mất cảnh giác và không tiếp tục xử lý tận gốc nguyên nhân sâu xa của lạm
phát là “chạy theo tố độ tăng trưởng cao bằng cách mở rộng nguồn lực đầu
tư không tương xứng với nâng cao hiệu quả, dẫn đến sức ép nới lỏng chính
sách tài khóa và chính cách tiền tệ”.
Song, không thể không thấy rằng để có sự điều chỉnh sâu về kinh tế và tạo
nên chuyển biến thực sự cần phải có thời gian, trong khi đó thì một mặt cơn

vòng hay nằm yên ngoài hệ thống ngân hàng, làm cho thanh khoản của nền
kinh tế thêm dồi dào hơn.
Thứ ba, trở lại nguyên tắc lãi suất thỏa thuận cả huy động lẫn cho vay, đã và
đang bị những áp đặt hành chính làm tổn hại thời gian gần đây.
Lãi suất thỏa thuận không những là tất yếu khách quan, phù hợp với cơ chế
thị trường trong kinh doanh tín dụng, ngân hàng, mà còn là một chủ trương
lớn của Đảng đề ra từ Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa 9, ban
hành tháng 5/2002, đã được thực tiễn kiểm nghiệm trong suốt thời kỳ 2002 –
2007.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 23
Lớp: QKT 51-ĐC2
Bài tập lớn: Tìm hiểu thực hiện ba vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
Một lời giải thích của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều 474 và 476 Bộ
luật Dân sự, rằng “những quy đinh này chỉ áp dụng cho những quan hệ tín
dụng phi chính thức khi có tranh chấp pháp lý” là cần và đủ để tháo gỡ
vướng mắc cho hoạt động kinh doanh tiền tệ – tín dụng hiện nay.
Lãi suất thỏa thuận tạo cơ hội cho thị trường đưa ra những tín hiệu đúng để
phân bổ cho các nguồn lực trong kinh tế. Nó cũng là bộ giảm xóc để hệ
thống ngân hàng giảm bớt chấn động của môi trường kinh doanh trong và
ngoài nước, thích ứng linh hoạt với tương quan cung cầu về vốn trong từng
thời điểm, và tránh những tác động tâm lý bất lợi không đáng có mỗi lần
phải điều chỉnh tăng hay giảm lãi suất cơ bản, mà thực chất trần lãi suất cho
vay, do bị gắn chặt với quy định nói trên của Bộ luật Dân sự.
Sự nhìn nhận và xử lý đúng vai trò của thị trường liên ngân hàng, phân biệt
yêu cầu thanh khoản với tăng trưởng tín dụng nóng, việc điều hành linh họat
các công vụ nghiệp vụ thị trường mở… mới là nhân tố quyết định để ngăn
chặn những hành vi đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất huy động
tiền gửi hoặc lãi suất cho vay vượt tầm kiểm soát – như đã từng xảy ra trong
những tháng đầu năm 2008, tạo thêm những bất ổn không đáng có và làm
trầm trầm trọng thêm những bất ổn khách quan.

trọng điểm, cho thu mua cá ba sa, thu mua lúa gao… có vẻ đúng, nhưng liệu
các doanh nghiệp làm hàng thay thế nhập khẩu, các dự án sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp Việt Nam tạo nên tăng trưởng cao và công ăn việc
làm nhiều, các sản phẩm như cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều… có đáng
được quan tâm đáp ứng nhu cầu về vốn không?
Định hướng tăng trưởng tín dụng để bảo đảm an toàn hệ thống và giảm bớt
áp lực lạm phát là cần thiết, và ở Việt Nam mức tăng trưởng này nên dưới
25% cho cả hệ thống trong những năm tới. Song quản lý, điều hành mức
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Yến Page 25
Lớp: QKT 51-ĐC2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status