Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh của Tổng công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp
bảo hiểm nói riêng vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, mọi hoạt động đều mang
đặc trưng kinh doanh, lấy lợi nhuận làm mục tiêu phấn đấu. Chiến lược kinh
doanh của DNBH đều đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu.
Năm 2008 chứng kiến cơn khủng hoảng kinh tế diễn ra trên phạm vi toàn
cầu, ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế nước ta, khiến thị trường chứng khoán
suy thoái, hoạt động đầu tư giảm sút, thị trường bất động sản đóng băng, lãi
suất biến động… gây ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh
của nhiều doanh nghiệp…Trong bối cảnh bất lợi của kinh tế thế giới, GDP
của Việt Nam vẫn tăng trưởng ở mức 6.18%, tuy thấp hơn so với năm 2007
nhưng vẫn tạo ra những nhân tố ảnh hưởng tích cực đối với sự tăng trưởng
của thị trường bảo hiểm. Môi trường Bảo hiểm tại Việt Nam hiện đang là
mảnh đất rất màu mỡ, để các tập đoàn tài chính tiếp tục chia sẻ thị phần.
Trong năm 2008, thị trường vẫn tiếp tục được mở rộng và phát triển với sự ra
đời của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, môi giới, bao
gồm cả doanh nghiệp trong và nước ngoài. Tăng trưởng doanh thu của thị
trường vẫn duy trì ở mức cao. Không nằm ngoài sự phát triển chung đó, PVI
cũng đạt được những thành tựu đáng khen ngợi và hứa hẹn sẽ gặt hái được
thêm nhiều thành công mới trong những năm tiếp theo.
Trong quá trình thực tập tại phòng tài chính - kế toán của PVI, cùng với
sự hướng dẫn và giúp đỡ của các anh chị trong Phòng, em đã lựa chọn đề tài
“Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh của Tổng công ty bảo hiểm dầu
khí Việt Nam”.
Nội dung khoá luận được chia làm ba chương:
Chương I: Tổng quan về bảo hiểm và công tác đánh giá kết quả, hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm.
1
Chương II: Phân tích kết quả và hiệu quả kinh doanh của Tổng công ty
bảo hiểm dầu khí Việt Nam.
Chương III: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của

những khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều
tài sản, làm ngưng trệ sản xuất và kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp,
cá nhân và làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội nói chung.
Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khắc phục
nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả của rủi ro gây ra. Hiện nay, theo
quan điểm của các nhà quản lý rủi ro có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi
ro và hậu quả do rủi ro gây ra – đó là nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và
3
nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro.
- Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh
rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro. Các biện pháp này thường được
sử dụng để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro.
+ Tránh né rủi ro là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc
sống. Mỗi người, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biện
pháp thích hợp để né tráng rủi ro có thể xảy ra, tức là loại trừ cơ hội dẫn đến
tổn thất. Chẳng hạn, để tránh tai nạn giao thông người ta hạn chế đi lại…để
tránh tai nạn lao động người ta chọn những nghề không nguy hiểm…Tránh né
rủi ro chỉ với những rủi ro có thể tránh được. Nhưng cuộc sống có rất nhiều
rủi ro bất ngờ không thể tránh né được.
+ Ngăn ngừa tổn thất – các biện pháp ngăn ngừa tổn thất đưa ra các hành
động nhằm làm giảm tổn thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra. Ví
dụ, để giảm thiểu các tai nạn lao động, người ta tổ chức các khoá học nâng
cao chất lượng các hoạt động đảm bảo an toàn lao động…
+ Giảm thiểu tổn thất - người ta có thể giảm thiểu tổn thất thông qua các
biện pháp làm giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất đã xảy ra. Ví dụ, như khi có
hoả hoạn, để giảm thiểu tổn thất, người ta cố gắng cứu các tài sản còn dùng
được.
Mặc dù biện pháp kiểm soát rủi ro có hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặc
giảm thiểu rủi ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, người ta không thể lường hết
được hậu quả.

Bảo hiểm nói chung hay bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thương mại nói riêng
mang lại lợi ích thiệt thực về kinh tế xã hội.
- Bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trước tổn thất
do rủi ro gây ra.
Rủi ro do thiên tai hay tai nạn bất ngờ đều gây thiệt hại về kinh tế, ảnh
5
hưởng đến thu nhập, đời sống, sản xuất kinh doanh của các cá nhân, doanh
nghiệp tham gia bảo hiểm, chưa kể có lúc gây thiệt hại về người. Tổn thất đó
sẽ được bảo hiểm trợ cấp hoặc bồi thường về tài chính để người tham gia
nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống, sản xuất kinh doanh. Từ
đó, họ khôi phục và phát triển sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác một
cách bình thường. Tác động này phù hợp với mục tiêu kinh tế nên thu hút
được số đông người tham gia.
- Bảo hiểm góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cho cuộc sống
con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân,
mỗi doanh nghiệp.
Khi tham gia bảo hiểm, cơ quan hoặc công ty bảo hiểm sẽ cùng với
người tham gia thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất rủi ro đã
gây ra. Cơ quan, công ty bảo hiểm đóng góp tài chính một cách tích cực để
thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro như tuyên truyền, hướng dẫn các biện
pháp phòng tránh tai nạn, mua sắm thêm các dụng cự phòng cháy chữa cháy,
cùng ngành giao thông làm các biển báo, các đường lánh nạn…
- Bảo hiểm góp phần ổn định chi tiêu của ngân sách Nhà nước.
Với quỹ bảo hiểm do các thành viên tham gia đóng góp, cơ quan, công ty
bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho
người tham gia để họ khôi phục đời sống, sản xuất kinh doanh. Như vậy, ngân
sách Nhà nước không phải chi ra để trợ cấp cho các thành viên, các doanh
nghiệp khi gặp rủi ro, trừ trường hợp tổn thất có tính thảm hoạ, mang tính xã
hội rộng lớn.
Mặt khác, hoạt động bảo hiểm nhất là bảo hiểm thương mại có trách

1.1.3.1 Định nghĩa về bảo hiểm
Cho đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm mà người
ta chỉ đưa ra các quan niệm khác nhau về bảo hiểm theo các góc độ tiếp cận
7
khác nhau.
Về mặt pháp lí:“Bảo hiểm là một phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền
do những người có cùng khả năng gặp một loại rủi ro nào đó đóng góp nên”.
Định nghĩa này mới đề cập đến phương thức lập quỹ dự trữ bảo hiểm, mà
chưa rõ phương thức sử dụng nó.
Về mặt quản trị rủi ro:“Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm
cam kết bồi thường (theo quy luật thống kê) cho người tham gia bảo hiểm
trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện
người tham gia bảo hiểm nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc cho người
thứ ba”. Điều này có nghĩa là người tham gia chuyển giao rủi ro cho người
bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ. Khi người tham
gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc
bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia. Phạm vi bảo
hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với người bảo hiểm.
Về mặt cơ chế hoạt động: Có định nghĩa chỉ rõ đặc trưng riêng của một
loại bảo hiểm. Chẳng hạn “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo đời sống vật chất
cho người lao động và gia đình họ khi có nguy cơ mất an toàn về kinh tế do bị
giảm hoặc mất khả năng lao động thông qua sử dụng nguồn quỹ huy động từ
người tham gia và sự tài trợ của Nhà nước”. Định nghĩa này chỉ rõ mục đích
của bảo hiểm xã hội là đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình
thông qua sử dụng quỹ huy động từ người tham gia (người sử dụng lao động
và người lao động) và sự tài trợ của Nhà nước để trợ cấp cho người lao động
bị giảm sức lao động (do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…),
hoặc mất sức lao động.
1.1.3.2 Quan niệm về bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm thương mại còn được gọi là bảo hiểm rủi ro hay bảo hiểm kinh

bảo hiểm cũng có thể coi là một hoạt động tiết kiệm.
9
Cùng với BHXH, BHTM ra đời là một tất yếu khách quan. Hoạt động
của BHTM mang lại cho các cá nhân, tổ chức và cả cộng đồng những tác
dụng rất to lớn.
1.1.3.3 Bản chất của bảo hiểm
Mục đích chủ yếu của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho người
tham gia từ đó khôi phục và phát triển sản xuất, đời sống, đồng thời tạo nguồn
vốn cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Thực chất của hoạt động bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản
xuất trong nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính
phát sinh khi tai nạn rủi ro bất ngờ gây tổn thất đối với người tham gia bảo
hiểm.
Phân phối trong bảo hiểm là phân phối không đều, không bằng nhau,
nghĩa là không phải ai tham gia cũng được phân phối và phân phối với số tiền
như nhau. Phân phối trong bảo hiểm là phân phối cho số ít người tham gia
bảo hiểm không may gặp rủi ro bất ngờ gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống
trên cơ sở mức thiệt hại thực tế và điều kiện bảo hiểm. Điều đó cũng có nghĩa,
phân phối trong bảo hiểm không mang tính bồi hoàn, tức là dù có tham gia
đóng góp vào quỹ bảo hiểm nhưng không tổn thất thì không được phân phối
(trừ một số sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hưu trí).
Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc “Số đông bù số ít”. Nguyên tắc
này được quán triệt trong quá trình lập quỹ dự trù bảo hiểm cũng như quá
trình phân phối bồi thường, quá trình phân tán rủi ro.
Hoạt động bảo hiểm còn liên kết , gắn bó các thành viên trong xã hội
cùng vì lợi ích chung của cộng đồng vì sự ổn định và phồn vinh của đất nước.
Bảo hiểm với nguyên tắc “Số đông bù số ít” cũng thể hiện tính tương trợ, tính
xã hội và nhân văn sâu sắc của xã hội trước rủi ro của mỗi thành viên.
1.2 Đặc điểm kinh doanh bảo hiểm thương mại
KDBH là hoạt động của DNBH vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, mọi hoạt

Nhân Thọ là 600 tỷ VNĐ,DNBH Phi nhân thọ là 300 tỷ đồng, DNBH MGBH
là 4 tỷ đồng. Vốn pháp định lớn như vậy là do đặc thù của KDBH – kinh
doanh rủi ro.
•Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn phải có dự phòng nghiệp vụ bảo
hiểm
Doanh nghiệp KDBH phải trích lập DPNV từ phí bảo hiểm của từng
nghiệp vụ (hoặc hợp đồng bảo hiểm đối với bảo hiểm nhân thọ) đối với phần
trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp. Bởi lẽ kinh doanh bảo hiểm có sự tích
luỹ rủi ro, phí bảo hiểm thu được các DNBH phải trích lập dự phòng bồi
thường, dự phòng dao động lớn và dự phòng toán học.
DPNV bảo hiểm của BHNT và phi nhân thọ có khác nhau.
- Đối với DNBH Nhân thọ, dự phòng nghiệp vụ bao gồm:
+ Dự phòng toán học, đây là quỹ dự phòng lớn nhất và quan trọng nhất.
Bởi vì, HĐBH Nhân thọ dài hạn sau khi thu phí, DNBH không được sử dụng
hết mà phải trích lập dự phòng, để trả cho khách hàng khi đáo hạn hợp đồng
hoặc khi người được bảo hiểm bị tử vong.
+ Dự phòng phí chưa được hưởng áp dụng đối với các hợp đồng BHNT
ngắn hạn để trả tiền bảo hiểm sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của
hợp đồng ở năm tiếp theo.
+ Dự phòng bồi thường, được sử dụng để trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự
kiện bảo hiểm nhưng chưa được giải quyết cho đến cuối năm tài chính.
+ Dự phòng chia lãi, được sử dụng để chia lãi theo thoả thuận với bên
mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm.
+ Dự phòng đảm bảo cân đối được sử dụng để trả tiền bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm do có biến động lớn về tỉ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật.
- Đối với DNBH Phi nhân thọ, DPBH bao gồm:
+ Dự phòng phí chưa được hưởng dùng để bồi thường cho trách nhiệm,
sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trong năm
12
tiếp theo.

Chi phí của DNBH là toàn bộ số tiền DNBH chi ra trong kì phục vụ cho
quá trình hoạt động kinh doanh trong vòng 1 năm.
Dựa vào kết quả thu, chi sẽ tính được lợi nhuận mà DNBH thu được
trong năm. Có 2 chỉ tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận = Tổng - Tổng
trước thuế doanh thu chi phí
Lợi nhuận = Lợi nhuận - ThuếTNDN
sau thuế trước thuế phải nộp
Các chỉ tiêu doanh thu, chi phí và lợi nhuận cũng có thể tính riêng cho
từng nghiệp vụ bảo hiểm. Nhưng khi tính toán cần đảm bảo nguyên tắc:
Những khoản thu, chi nào có liên quan trực tiếp đến nghiệp vụ phải được
tính trực tiếp cho nghiệp vụ đó (như: phí bảo hiểm, chi bồi thường, STBH chi
trả…). Những khoản thu, chi gián tiếp (chi quản lí kinh doanh, thu nhập đầu
tư…) phải được phân bổ theo tỉ lệ giữa doanh thu phí bảo hiểm nghiệp vụ so
với tổng doanh thu phí bảo hiểm nói chung
Kết quả kinh doanh từng nghiệp vụ và của cả DNBH có thể phân tích
theo các hướng sau:
- Phân tích cơ cấu doanh thu và chi phí
- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và lợi nhuận
- Phân tích sự biến động của doanh thu, chi phí và lợi nhuận theo thời
gian…
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận…
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận là một trong
những hướng phân tích chủ yếu, nhưng phải xác lập được mối liên hệ giữa
các nhân tố (nguyên nhân), ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận (kết quả).
Sau khi xác lập được mối liên hệ sẽ lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp.
14
Có nhiều phương pháp phân tích song các phương pháp: hồi quy và tương
quan, chỉ số, thay thế liên hoàn được sử dụng khá phổ biến
1.3.2 Đánh giá hiệu quả kinh doanh

kinh tế, mà còn mang tính xã hội. Cho nên, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh
của một DNBH không chỉ xét trên góc độ kinh tế mà còn phải xét trên góc độ
phục vụ xã hội. Nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” trong KDBH càng làm cho
tính chất xã hội của nó rõ nét hơn. Từ đó, làm cho công tác xã hội hoá của bảo
hiểm ngày càng sâu rộng. Bởi vậy, hiệu quả xã hội của DNBH cũng phải
được phản ánh ở trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả
phục vụ xã hội của doanh nghiệp.
- Mỗi DNBH không chỉ đơn thuần kinh doanh bảo hiểm, mà còn kinh
doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi
của mình. Những doanh nghiệp hoạt động lâu năm, quy mô lớn ,. đặc biệt là
doanh nghiệp BHNT thì nguồn vốn nhàn rỗi thường rất lớn, nguồn vốn này
rất thực chất là quỹ dự trữ, dự phòng, quỹ chi trả bảo hiểm chưa dùng đến.
Việc đưa số vốn này vào kinh doanh là cần thiết để khắc phục tình trạng lạm
phát, tạo thêm lợi nhuận, góp phần tăng trưởng quỹ dự trữ và quỹ chi trả.
Ngoài ra, nếu sử dụng có hiệu quả, còn bổ sung thêm vào quỹ điều hành để
tăng thu nhập cho người lao động. Thậm chí còn dùng để thưởng cho người
tham gia bảo hiểm liên tục với STBH lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
khai thác bảo hiểm sau này.
1.3.2.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNBH
Xét trên phương diện thống kê, để biểu hiện và đo lường hiệu quả kinh
doanh của DNBH, không thể dung một chỉ tiêu, mà phải có một hệ thống chỉ
tiêu. Bởi vì, nội dung của phạm trù hiệu quả kinh doanh rất rộng, và rất phức
tạp. Tính chất phức tạp thể hiện ở ngay bản chất mối quan hệ giữa kết quả và
chi phí. Chi phí với tư cách là những yếu tố đầu vào của hoạt động kinh doanh
16
rất đa dạng và bao gồm nhiều loại. Ở góc độ kinh tế vĩ mô, nếu hiểu theo
nghĩa rộng, chi phí bao gồm toàn bộ nguồn nhân tài, vật lực huy động vào
hoạt động kinh doanh. Còn đaị lượng kết quả lại được thể hiện ở nhiều chỉ
tiêu khác nhau. Việc tính toán và xác định mỗi chỉ tiêu, việc lựa chọn chỉ tiêu
nào để phán ảnh hiệu quả là những vấn đề phức tạp. Vì thế, để đánh giá hiệu

KTG
Hx = –— (3)
CBH
KBT
Hx = —– (4)
Trong đó: CBH
Hx: Hiệu quả xã hội của công ty bảo hiểm
CBH: Tổng chi phí cho hoạt động KDBH trong kỳ
KTG: Số khách hàng tham gia bảo hiểm trong kỳ
KBT: Số khách hàng được bổi thường trong kỳ
Chỉ tiêu (3) phản ánh một đồng chi phí chi ra trong kỳ đã thu hút được
bao nhiêu khách hàng tham gia bảo hiểm. Còn chỉ tiêu (4) nói lên cùng với
đồng chi phí đó đã góp phần giải quyết và khắc phục hậu quả cho bao nhiêu
khách hàng gặp rủi ro trong kỳ nghiên cứu. Tất cả các chỉ tiêu trên phản ánh
tổng hợp nhất mọi mặt hoạt động kinh doanh của DNBH.
Nếu xem xét ở từng mặt, từng khâu và từng nghiệp vụ bảo hiểm có thể
tính được các chỉ tiêu hiệu quả khác nhau để phục vụ cho quá trình đánh giá
và phân tích hoạt động kinh doanh. Tuy vậy, tất cả các chỉ tiêu hiệu quả đều
phải đảm bảo nguyên tắc khi xây dựng, điều đó có nghĩa là mỗi chỉ tiêu phải
phản ánh được trình độ sử dụng loại chi phí nào đó, trong việc tạo ra những
kết quả nhất định.
1.3.3 Các nhân tố tác động đến kết quả, hiệu quả kinh doanh
18
•Nhân tố quản trị doanh nghiệp.
Nhân tố quản trị doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến
việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng đắn trong môi trường
kinh doanh ngày càng biến động. Định hướng đúng là cơ sở để đảm bảo hiệu
quả lâu dài của doanh nghiệp.
Đội ngũ quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cao cấp lãnh đạo doanh

ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp.
Tóm lại, môi trường chính trị - pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến việc
nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách tác động đến hoạt động của doanh
nghiệp thông qua hệ thống công cụ luật pháp, công cụ vĩ mô…
Bộ Tài chính công bố cam kết gia nhập WTO theo đó, cam kết của Việt
Nam cho phép các công ty bảo hiểm hoạt động tại nước ngoài được cung cấp
dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người
nước ngoài làm việc tại Việt Nam, dịch vụ tái bảo hiểm, dịch vụ bảo hiểm đối
với vận tải quốc tế, môi giới bảo hiểm và các dịch vụ hỗ trợ về định phí, tư
vấn…
Theo cam kết, không có hạn chế nào đối việc thành lập pháp nhân của
công ty bảo hiểm nước ngoài, ngoại trừ dịch vụ bảo hiểm bắt buộc sẽ chỉ
được mở cửa cho công ty 100% vốn nước ngoài vào đầu năm 2008. Về chi
nhánh, cho phép công ty bảo hiểm nước ngoài thành lập chi nhánh bảo hiểm
phi nhân thọ sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO và không cho phép thành lập
chi nhánh bảo hiểm nhân thọ.
•Đối thủ cạnh tranh
Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu quả
20
kinh doanh sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều. Bởi vì doanh nghiệp lúc này có thể
nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm
phí BH để tăng doanh thu, tăng nguồn vốn đầu tư,yêu cầu doanh nghiệp phải
tổ chức lại bộ máy hoạt động tối ưu hơn, hiệu quả cao hơn để tạo khả năng
cạnh tranh về giá cả, chất lượng…Như vậy đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng
rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời tạo
ra sự tiến bộ trong kinh doanh, tạo ra động lực phát triển của doanh nghiệp.
Việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh tranh thì việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp sẽ càng khó khăn và sẽ bị giảm một cách tương đối.
21

bảo hiểm năng lượng Việt Nam. Điển hình là việc PVI đã thu xếp bảo hiểm
an toàn, cấp đơn bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế cho tài sản, hoạt động của
Xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietsopetro. Năm 2002, PVI đã tận dụng lợi thế
thương hiệu và năng lực tài chính của mình để vươn lên thống lĩnh thị trường
ở lĩnh vực bảo hiểm hàng hải và xây dựng lắp đặt.
Từ năm 2005, PVI đã có những bước trưởng thành quan trọng về cung
cấp dịch vụ bảo hiểm cho các dự án dầu khí lớn tại nước ngoài và tăng cường
nhận tái bảo hiểm từ Triều Tiên, Trung Quốc… Từ đó PVI thành lập các chi
nhánh khu vực và phát triển mạng lưới đại lý chuyên nghiệp trên khắp các
tỉnh thành trong cả nước. Việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý theo
tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001:2000 từ năm 2002 đến nay đã giúp kiểm soát
chặt chẽ quy trình cấp đơn bảo hiểm và kiểm soát nội bộ đảm bảo chất lượng
dịch vụ cung cấp cho khách hàng.
Năm 2006, PVI đã đánh dấu chặng đường 10 năm hình thành và phát
triển bằng sự kiện đạt doanh thu 1.000 tỷ vào ngày 26/9/2006 cùng với việc
vốn và tài sản được nâng lên đáng kể. Tháng 9/2006, Bộ Công nghiệp và
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã có Quyết định cổ phần hóa PVI với
mục tiêu tăng cường năng lực cạnh tranh và xây dựng PVI trở thành một
Tổng công ty cổ phần mạnh trong định chế Bảo hiểm - Tài chính của Tập
đoàn. Ngày 12/4/2007 là ngày Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt
Nam chính thức ra mắt, đánh dấu sự chuyển mình cho những thành công rực
rỡ tiếp theo
Năm 2008 là năm quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển
thương hiệu Bảo hiểm Dầu khí – PVI và là năm thứ 8 liên tiếp hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ kế hoạch do Tập đoàn giao với tổng doanh thu đạt 2668 tỷ
đồng, lợi nhuận đạt trên 171 tỷ đồng.
Chiến lược phát triển PVI đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2025 trở
23
thành Tổng công ty Bảo hiểm - Tài chính hàng đầu thông qua việc chiếm lĩnh
thị trường trong nước, phát triển ra thị trường quốc tế đối với mảng kinh

QUẢN

BAN
TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
BAN
TỔ CHỨC NHÂN SỰ
BAN KẾ HOẠCH VÀ
PHÁT TRIỂN KINH
DOANH
BAN
TỔNG HỢP & PHÁP
CHẾ
VĂN PHÒNG
BAN QUẢN LÝ RỦI RO
& BỒI THƯỜNG
BAN TIN HỌC &
THÔNG TIN
BAN QUẢN LÝ BẢO
HIỂM VÀ ĐÀO TẠO
ĐẦU TƯ
TÀI
CHÍNH
BAN
ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH
BAN CHỨNG KHOÁN
& DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
CÁC CÔNG
TY THÀNH
VIÊN
CÔNG TY THÀNH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status