ĐỀ CƯƠNG TRIẾT học - Pdf 13

1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng, cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học, ý
nghĩa phương pháp luận của vấn đề trên?
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hạt nhân lý luận triết học của thế giới
khoa học Mác – Lênin; là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật ;
là hệ thống quan điểm lý luận được xác lập trên cơ sở giải quyết theo quan điểm
duy vật biện chứng đối với vấn đề cơ bản của triết học. Chủ nghĩa duy vật biện
chứng trang bị cho ta cách nhìn nhận xem xét thế giới, tồn tại hiện thực khách
quan trên lập trường duy vật biện chứng, là cơ sở nền tảng cho hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn của con người đồng thời là nền tảng cho các ngành
khoa học khác phát triển đúng hướng tránh được quan điểm duy vật, siêu hình,
khắc phục được thế giới quan duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập vào
những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được V.I. Lênin tiếp tục phát triển. Với sự
kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và vận dụng các thành tựu
của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời
đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước đó, thể hiện là
đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Nó không chỉ phản ánh đúng
đắn hiện thực mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp các lực lượng tiến bộ trong
xã hội cải tạo hiện thực ấy.Chủ nghĩa duy tâm :cho rằng ý thức, tinh thần có
trước và quyết định giới tự nhiên. Giới tự nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của
tinh thần, ý thức.Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại với hai hình
thức chủ yếu là: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm
giác, ý thức con người, khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp
những cảm giác của cá nhân, của chủ thể. Ví dụ quan niệm của Beccơly. Chủ
nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó
không phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc
lập với con người, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó
thường được mang những tên gọi khác nhau như ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh
thần tuyệt đối hay lý tính thế giới.Ví dụ quan niệm của Platon, Hêghen. Cả chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận
thức. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai

Nội dung, bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là
hạt nhân của thế giới quan khoa học trước tiên là giải quyết đúng đắn các
vấn đề cơ bản của triết học.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Trước tiên, là về tính thống nhất vật chất của thế giới. Các nhà triết học
duy tâm tìm nguồn gốc, bản chất của thế giới ở "ý niệm tuyệt đối" hoặc ở ý thức
con người; ngược lại thì các nhà duy vật trước Mác có khuynh hướng chung là
tìm nguồn gốc, bản chất của thế giới ngay trong bản thân nó. Nhưng do ảnh
hưởng của quan điểm siêu hình - máy móc nên họ cho rằng mọi hiện tượng của
thế giới đều được cấu tạo từ những vật thể ban đầu giống nhau, thống nhất với
nhau, cùng bị chi phối bởi một số quy luật nhất định. Quan điểm ấy không phản
ánh được tính nhiều vẻ, tính vô tận của thế giới hiện thực.
Bằng sự phát triển lâu dài của bản thân triết học và sự phát triển của khoa
học, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng, bản chất của thế giới là vật
chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Điều đó được thể hiện ở những điểm cơ
bản sau đây:
Một là, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế
giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người.
Hai là, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất
với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những
kết cấu vật chất, hoặc có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự
chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất.
Ba là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được
sinh ra và không bị mất đi. Trong thế giới không có gì khác ngoài những quá
trình vật chất đang biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân
và kết quả của nhau.
"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
2

quan của cảm giác, ý thức. Và khi khẳng định vật chất là cái "được cảm giác của
chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh", V.I.Lênin muốn nhấn mạnh rằng bằng
những phương thức nhận thức khác nhau (chép lại, chụp lại, phản ánh ) con
người có thể nhận thức được thế giới vật chất. Như vậy, định nghĩa vật chất của
V.I.Lênin đã bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, bác bỏ thuyết không thể
biết, đã khắc phục được những hạn chế trong các quan điểm của chủ nghĩa duy
vật trước Mác về vật chất. Đồng thời, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin còn có ý
nghĩa định hướng đối với khoa học cụ thể trong việc tìm kiếm các dạng hoặc các
hình thức mới của vật thể trong thế giới.
- Khi nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội, định nghĩa vật chất
của V.I.Lênin đã cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội. Từ
đó giúp các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối
cùng của các biến cố xã hội, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của
phương thức sản xuất; trên cơ sở ấy, người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu
để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển.
3
Những phương thức tồn tại của vật chất bao gồm:
Vận động
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động không chỉ là
sự thay đổi vị trí trong không gian (hình thức vận động thấp, giản đơn của vật
chất) mà theo nghĩa chung nhất, vận động là mọi sự biến đổi. Ph. Ăngghen viết
"Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất ( ) bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và
mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư
duy".
Khi định nghĩa vận động là sự biến đổi nói chung, thì vận động "là thuộc
tính cố hữu của vật chất", "là phương thức tồn tại của vật chất". Điều này có
nghĩa là vật chất tồn tại bằng vận động. Trong vận động và thông qua vận động
mà các dạng vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình, Một khi chúng ta nhận thức
được những hình thức vận động của vật chất, thì chúng ta nhận thức được bản
thân vật chất.

gian chỉ có một chiều (từ quá khứ tới tương lai). Khái niệm "không gian nhiều
4
chiều" mà ta thường thấy trong tài liệu khoa học hiện nay là một trừu tượng
khoa học dùng để chỉ tập hợp một số đại lượng đặc trưng cho các thuộc tính
khác nhau của khách thể nghiên cứu và tuân theo những quy tắc biến đổi nhất
định. Đó là một công cụ toán học hỗ trợ dùng trong quá trình nghiên cứu chứ
không phải để chỉ không gian thực, không gian thực chỉ có ba chiều.
Nguồn gốc của ý thức bao gồm nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
Về nguồn gốc tự nhiên: Dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự
nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, ý
thức không phải có nguồn gốc siêu tự nhiên, không phải ý thức sản sinh ra vật
chất như các nhà thần học và duy tâm khách quan đã khẳng định mà ý thức là
một thuộc tính của vật chất, nhưng không phải là của mọi dạng vật chất, mà chỉ
là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người. Bộ óc
người là cơ quan vật chất của ý thức. ý thức là chức năng của bộ óc con người. ý
thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc người, do đó khi bộ óc bị tổn thương thì
hoạt động của ý thức sẽ không bình thường. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra
khỏi hoạt động của bộ óc. ý thức không thể diễn ra, tách rời hoạt động sinh lý
thần kinh của bộ óc người.
Về nguồn gốc xã hội: Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự
nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ; điều kiện quyết
định cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội. ý thức ra đời
cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ lao động, ngôn ngữ và những
quan hệ xã hội.
Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra
những sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của mình, là một quá trình trong đó
bản thân con người đóng góp vai trò môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao
đổi vật chất giữa người và tự nhiên. Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu
để con người tồn tại. Lao động cung cấp cho con người những phương tiện cần
thiết để sống, đồng thời lao động sáng tạo ra cả bản thân con người. Nhờ có lao

Những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng
* Tầm quan trọng và tính phức tạp của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
chủ quan
- Sai lầm khá phổ biến xảy ra ở nước ta và khá nhiều nước XHCN trước
đây gây tác hại nghiêm trọng cho cách mạng chính là rơi vào quan điểm của chủ
nghĩa chủ quan – tuyệt đối hóa ý chí, xa rời thực tiễn cách mạng.
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp mới mẻ, phức tạp cần phải phát
huy vai trò nhân tố chủ quan, nhưng khi nhân tố chủ quan càng lớn thì nguy cơ
mắc bệnh chủ quan càng lớn.
* Nguyên tắc khách quan trong xem xét
- Đó là nguyên tắc hàng đầu của phương pháp nhận thức biện chứng duy
vật – đòi hỏi phải xuất phát từ bản thân sự vật, từ thực tế khách quan.
- Cần phát huy sáng tạo nhân tố chủ quan.
- Nguyên tắc khách quan không bài trừ mà đòi hỏi phát huy vai trò nhân
tố chủ quan, chống thái độ thụ động, ngồi chờ, bảo thủ, cần phải tôn trọng khách
quan, phát huy nhân tố chủ quan, gắn liền lợi ích bởi lẽ lợi ích là động lực kích
thích tính tích cực trong con người.
* Kiên quyết khắc phục, ngăn ngừa bệnh chủ quan duy ý chí
- Bên cạnh các thành tựu đạt được về các mặt, chúng ta còn mắc nhiều sai
lần nghiêm trọng đó là nóng vội trong cải tạo xã hội, trong xây dựng các thành
phần kinh tế, nhiều chủ trường hạn chế trong xây dựng công nghiệp nặng, trong
cải cách giá cả tiền lương dẫn đến phạm các quy luật khách quan.
* Để khắc phục đẩy lùi bệnh chủ quan duy ý trí phải tiến hành đồng bộ
trên tất cả các biện pháp.
- Đổi mới tư duy lý luận – tư duy biện chứng đó là tư duy về CNXH, con
đường, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
6
2. Sự hình thành và phát triển triết học MLN. Ý nghĩa và phương pháp luận
đối với việc bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác nói chung và Triết học Mác nói

thế kỷ XIX, là phong trào cách mạng to lớn có tính chất quần chúng và có hình
thức chính trị. Nước Đức nổi lên phong trào đấu tranh của thợ dệt ở Xilêdi đã
mang tính giai cấp.
Trong hoàn cảnh lịch sử đó, giai cấp tư sản không còn đóng vai trò là giai
cấp cách mạng. Ở Anh, Pháp giai cấp tư sản tuy nắm quyền thống trị, lại hoảng
sợ trước cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nên không còn là vị trí tiên phong
trong quá trình cải tạo dân chủ như trước. Còn giai cấp tư sản Đức đang lớn lên
trong lòng xã hội phong kiến, vốn đã khiếp sợ bạo lực cách mạng khi nhìn vào
tấm gương Cách mạng tư sản Pháp 1789, nay lại thêm sợ hãi trước sự phát triển
của phong trào công nhân Đức. Vì vậy, giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch
sử với sứ mệnh xoá bỏ xã hội tư bản và trở thành lực lượng tiên phong trong
cuộc đấu tranh cho nền dân chủ và tiến bộ xã hội.
7
Như vậy, thực tiễn xã hội, nhất là thực tiễn của phong trào đấu tranh của giai
cấp vô sản đòi hỏi phải được soi sáng bởi một hệ thống lý luận, một học thuyết
triết học mới. Học thuyết đó phải xuất hiện để định hướng phong trào đấu tranh
nhanh chóng đạt được thắng lợi.
Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử và phong trào đấu tranh
của họ đã tạo ra nguồn tư liệu quý báu về thực tiễn xã hội để Các Mác và Ph.
Ăngghen khái quát xây dựng những quan điểm triết học.
* Nguồn gốc lý luận và những tiền đề khoa học tự nhiên
- Nguồn gốc lý luận
Để xây dựng học thuyết của mình ngang tầm với trí tuệ nhân loại, Mác và
Ăngghen kế thừa toàn bộ những tinh hoa lý luận của nhân loại từ cổ đại đến thời
đại các ông nhưng trực tiếp là kinh tế - chính trị cổ điển Anh; CNXH không
tưởng Pháp và triết học cổ điển Đức. Với kinh tế - chính trị cổ điển Anh, Mác và
Ăngghen đã kế thừa học thuyết giá trị của A.Xmít và Đ.Ricácđô và vận dụng
vào phân tích kinh tế TBCN, chỉ ra nguồn gốc của giá trị thặng dư. Mác và
Ăngghen cũng kế thừa Xanh Ximông, Phuriê ở những luận điểm: cần và có thể
đập tan nhà nước tư sản. Với triết học cổ điển Đức, Mác, Ăngghen khắc phục vỏ

Những nội dung chính của tư tưởng triết học của Mác và Ăngghen:
Các nguyên lí của chủ nghĩa duy vật đã được giải thích một cách biện
chứng. Theo các nguyên lí này, đã giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức. Theo Ph.Ăng-ghen thì:
“ vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ
giữa tư duy và tồn tại”_Ph.Ăng-ghen.
Theo đó "trong thế giới không có gì khác ngoài vật chất đang vận động,
và vật chất đang vận động không thể vận động như thế nào khác ngoài vận động
trong không gian và thời gian". Còn ý thức chỉ là sản phẩm của bộ óc con người
và là sự phản ánh tự giác, tích cực các sự vật, hiện tượng và quá trình hiện thực
của thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Như vậy
trong quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất là cái thứ nhất, cái quyết định và
tồn tại độc lập với ý thức, còn ý thức là cái thứ hai, cái có sau. Tuy vậy, ý thức
có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất ấy.
Các nguyên lí của phép biện chứng trong hệ thống triết học Hêghen đã
được cải tạo và xây dựng lại trên lập trường duy vật. Theo các nguyên lí đó:
-Mỗi kết cấu vật chất có muôn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật, hiện
tượng, quá trình khác của hiện thực. Trong hàng loạt quy luật về mối quan hệ
qua lại biện chứng giữa cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, tất
nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và
hiện thực.
-Tất cả các sự vật cũng như sự phản ánh của chúng trong óc con người đều ở
trong trạng thái biến đổi phát triển không ngừng. nguồn gốc của sự phát triển đó
là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập ở ngay trong lòng sự vật. Phương thức của
sự phát triển đó là sự chuyển hoá những biến đổi về lượng thành những biến đổi
về chất và ngược lại. Còn chiều hướng của sự phát triển này là sự vận động tiến
lên theo đường xoáy trôn ốc chứ không phải theo đường thẳng. Nội dung của
hai nguyên lí trên đây được thể hiện trong 3 quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật (quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật về
sự chuyển hoá những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất và ngược

rất cao chủ nghĩa vô thần chiến đấu của các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVII
-XVIII. Song, “khuyết điểm chủ yếu” của mọi học thuyết duy vật trước Mác là
chưa có quan điểm đúng đắn về thực tiễn và chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm
về lịch sử xã hội. Triết học Mác đã khắc phục được những hạn chế đó, đi tới chủ
nghĩa duy vật lịch sử làm cho chủ nghĩa duy vật trở thành triệt để.
* Triết học Mác là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân, giai cấp tiến
bộ và cách mạng nhất, một giai cấp có lợi ích phù hợp với lợi ích cơ bản của
nhân dân lao động và sự phát triển xã hội. Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác
với phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào từ
trình độ tự phát lên tự giác.
* Vai trò cách mạng to lớn của triết học Mác được nâng cao còn vì sự thống
nhất tính khoa học với tính cách mạng trong bản thân lý luận của nó. Sự thống
nhất hữu cơ chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng làm cho triết học mácxít
mang tính cách mạng sâu sắc nhất. Sức mạnh “cải tạo thế giới” của triết học
mácxít chính là ở sự gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp
vô sản cách mạng, với quần chúng nhân dân đông đảo, nhờ đó lý luận “trở thành
lực lượng vật chất”.
Mác và Ăngghen đã xây dựng lý luận triết học của mình trên cơ sở khái quát các
thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học ngày nay càng chứng tỏ sự cần thiết phải có tư duy biện chứng duy vật
và, ngược lại, phải phát triển lý luận triết học của chủ nghĩa Mác dựa trên những
thành tựu của khoa học hiện đại.
Lê Nin bảo vệ và phát triển triết học Mác
Chủ nghĩa Mác và triết học Mác sau khi trở thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh
nó đã trực tiếp đi vào đời sống xã hội, trở thành vũ khí lý luận của giai cấp vô
sản. Vì thế, nội dung của nó được lan truyền nhanh chóng ở các quốc gia thuộc
10
châu Âu, trong đó có nước Nga. Nhưng sau khi Các Mác và Ph.Ăngghen mất,
phong trào cộng sản thế giới có nguy cơ bị những người của phái chủ nghĩa xã
hội dân chủ chi phối. Những người này tuyên truyền những luận điểm để bác bỏ

tâm nghiên cứu về phép biện chứng của Hêghen để làm phong phú thêm phép
biện chứng duy vật, nhất là lý luận về sự thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt
đối lập. Thông qua đó, Lênin chuẩn bị lý luận cho cuộc cách mạng 1917. Tinh
thần sáng tạo của tư duy biện chứng đã giúp cho Lênin có những đóng góp quan
trọng vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác về triết học như: vấn đề về nhà
nước nước, bạo lực cách mạng, chuyên chính vô sản, lý luận về đảng kiểu mới.
Lênin đã là tấm gương mẫu mực trong việc bảo vệ và phát triển triết học Mác.
Với tinh thần biện chứng duy vật, xem chân lý là cụ thể, có khi Lênin đã phải
thay đổi một cách căn bản đối với một quan điểm nào đó của mình về chủ nghĩa
xã hội, không chấp nhận mọi thứ biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều. Chính vì
vậy mà một giai đoạn mới trong sự phát triển của chủ nghĩa Mác nói chung, triết
11
học Mác nói riêng đã gắn liền với tên tuổi của Lênin và từ đó triết học Mác
mang tên triết học Mác – Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác- Leenin nói chung.
Vận dụng và phát triển triết học Mác - Lênin trong điều kiện thế giới
hiện nay
Đặc điểm của thời đại hiện nay là sự tương tác giữa hai quá trình cách
mạng - cách mạng khoa học công nghệ và cách mạng xã hội, đã tạo nên sự biến
đổi rất năng động của đời sống xã hội. Trong điều kiện đó, quá trình tạo ra
những tiền đề của chủ nghĩa xã hội diễn ra trong các nước tư bản phát triển được
đẩy mạnh như một xu hướng khách quan. Sự ra đời của công ty cổ phần từ cuối
thế kỷ trước đã được Các Mác xem là "hình thái quá độ từ phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa" sang "phương thức sản xuất tập thể". Song, hiện thực khách
quan đó đã vượt khỏi giới hạn nhận thức chật hẹp của chủ nghĩa giáo điều tồn tại
trong một số người. Tính biện chứng của sự tiến hóa xã hội diễn ra trong những
mâu thuẫn và thông qua các mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản cũng là một trong
những nguồn gốc nảy sinh những khuynh hướng sai lầm khác nhau, thậm chí đi
tới "xét lại" trong phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Điều này đã được
Lênin phân tích, chỉ rõ: Do không nắm vững phép biện chứng duy vật, có những
cá nhân hay nhóm người luôn phóng đại khi thì đặc điểm này, khi thì đặc điểm

triết học nhân loại. Việc giải quyết các nội dung xung quanh vấn đề con người là
tiêu chí để phân biệt tính chất tiến bộ hay không tiến bộ của các hệ thống triết
học trong lịch sử.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh, chỉ có triết học Mác – Lênin mới là
triết học duy nhất làm cho vấn đề con người có được vị trí mà nó cần phải có;
lần đầu tiên vấn đề con người được đặt ra, được nhận thức đúng đắn, được giải
quyết một cách thực sự khoa học và được nghiên cứu như một chỉnh thể trong
sự thống nhất hữu cơ giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó.
Tư tưởng về con người của triết học Mác – Lênin được hình thành trên cơ
sở kế thừa biện chứng những tư tưởng tiến bộ của nhân loại. Với tư tưởng khoa
học, đúng đắn về con người; triết học Mác – Lênin đã khẳng định vai trò cải tạo
thế giới, sứ mệnh làm nên lịch sử của con người. Trong tư tưởng khoa học và
cách mạng ấy, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của lịch sử.
Bản chất nhân đạo, mục tiêu cao cả, thước đo nhân văn của sự phát triển xã hội
là phát triển vì con người
Ngày nay, lý luận mác xít về con người đã và đang trở thành thế giới quan,
phương pháp luận khoa học để Đảng ta xác định những đường lối, chính sách và giải
pháp để phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Triết học mác xit đưa ra Luận điểm con người là điểm xuất phát và sự giải
phóng con người là mục đích cao nhất của triết học mác, sở dĩ có luân điểm này
bởi vì: Nhiệm vụ chân chính của triết học mác là giải phóng con người. Trong
đó mác đã ngiên cứu từ phương thức sản xuất vật chất để cắt nghĩa sự tha hóa
con người chính từ sự lao động bị tha hóa để đi đến quan điểm khi xem xét con
người phải xem xét trong đời sống hiện thực của họ; giải phóng con người là là
đưa con người thoát khỏi sự khép kín về đẳng cấp, về địa vị, về vị trí của con
người trong xã hội; là sự thừa nhận bản chất phổ biến của con người, thừa nhận
bản tính loài của con người xuyên suốt sự tồn tại hiện thực của con người; làm
cho lao động và hoà bình, nhân văn, nhân đạo và bình đẳng…những thuộc tính
nội tại của con người được thực hiện vững chắc, đầy đủ ở từng con người và cả

cấp, dân tộc, nhân loại
Triết học giải đáp đúng đắn khoa học về vai trò, vị trí con người trong thế
giới, đó là con người làm được gì, con người biết những gì. Triết học mác đem
lại thế giới quan, phương pháp luận DVBC trong xem xét tự nhiên, xã hội và tư
duy trên cơ sở đó giải quyết đúng đắn về bản chất con người, về đời sống xã hội
của con người.
Cần chống quan điểm cho rằng triết học mác bỏ rơi con người, lãng quên
con người.
Vấn đề bản chất con người:
Mác tiếp thu có phê phán những vấn đề tư tưởng của nhân loại đồng thời
mác vạch ra vai trò quan hệ xã hội trong những yếu tố cấu thành bản chất con
người, đó là công lao cống hiến xuất sắc trong triết học của mác
Triết học mác xít đã chỉ ra bản chất cụ thể của con người, đó là:
Thứ nhất, con người là một thực thể thống nhất hữu cơ giữa hai mặt
sinh học và mặt xã hội.
Triết học Mác – Lênin khẳng định, vấn đề bản chất con người chỉ được
giải đáp một cách đầy đủ và đúng đắn nhất khi nó xuất phát từ quan niệm thống
nhất biện chứng giữa hai yếu tố sinh học và xã hội; nhưng trong đó, cái xã hội
luôn giữ vai trò quyết định, chi phối cái sinh học; trái lại, cơ sở sinh học lại là
tiền đề, điều kiện cho sự phát triển của xã hội.
14
Mặt sinh học trong con người chính là mặt vật chất, mặt tự nhiên của con
người được tồn tại dưới góc độ cơ thể, biểu hiện trong các hiện tượng sinh lý, di
truyền, thần kinh, điện – hoá và các quá trình khác. chính yếu tố sinh học là điều
kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người.
Mặt xã hội trong con người là các yếu tố tinh thần, ngôn ngữ, ý thức, tư duy,
lao động, giao tiếp, lương tâm và đạo đức – những yếu tố chỉ có ở con người và chỉ
con người mới có. Con người lao động sản xuất ra của cải vật chất; và sản xuất của
con người không chỉ là phương tiện để duy trì sự sống của mỗi cá nhân mà còn là
phương thức biểu hiện nội dung sống, hoạt động sáng tạo của con người. chính

Bản chất con người chính là cái chung của con người, nhưng trong mỗi
thời đại lịch sử bản chất ấy lại thể hiện những nét riêng khác biệt. Cái chung và
nét riêng ở đây thống nhất biện chứng với nhau, chuyển hoá cho nhau. . Trong xã
hội có sự phân chia giai cấp, bản chất con người tất yếu mang tính chất giai cấp,
và tính giai cấp đã trở thành quan hệ đặc trưng của xã hội, của mỗi con người
trong xã hội đó. Bản chất con người vừa phản ánh cái chung của sự phát triển xã
15
hội loài người, lại vừa phản ánh cái riêng biệt của mỗi thời đại lịch sử. Nói cách
khác, tuy con người có bản chất chung xuyên suốt mọi thời đại nhưng cái chung
ấy lại được biểu hiện thông qua cái riêng. Con người bao giờ cũng là con người
riêng biệt, con người cụ thể của những thời đại lịch sử cụ thể, của mỗi giai đoạn
lịch sử nhất định. Con người ấy sống trong những giai cấp, những tập đoàn người
nào đó, song nó vẫn mang bản chất chung của nhân loại.
Rõ ràng, trong quan niệm của triết học Mác – Lênin, con người không
phải là cái gì trừu tượng, mà là sản phẩm của tự nhiên, của xã hội, mang tính
lịch sử – cụ thể. Con người - đó là con người hiện thực, con người cụ thể, cảm
tính. Bản chất của con người được thể hiện ra, tồn tại và phát triển trong lao
động sản xuất, trong hoạt động cải tạo và chinh phục tự nhiên và trong đấu tranh
giai cấp, cải tạo xã hội của con người. Bản chất con người do những mối quan
hệ xã hội quy định.
Thứ ba, con người là sản phẩm của lịch sử đồng thời là chủ thể sáng
tạo ra lịch sử của chính bản thân mình.
Trước hết phải khẳng định lại rằng, không có thế giới tự nhiên, không có
lịch sử xã hội thì không có con người, không tồn tại con người. Do đó, con
người chính là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá và phát triển lâu dài của
giới hữu sinh. Tuy nhiên, con người với tư cách là chủ thể năng động sáng tạo,
chủ thể của mọi quá trình lịch sử, mọi biến đổi xã hội, của mọi mối quan hệ xã
hội. Cho nên, con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử xã hội, mà còn là chủ
thể của lịch sử, của mọi quá trình hình thành nên các quan hệ xã hội. Bằng hoạt
động thực tiễn của mình, con người không chỉ cải tạo thế giới xung quanh, phát

là chủ thể sáng tạo của lịch sử.
17
4. Nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn.
Phạm trù Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận
nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mac-Lênin nói chung.
Trong lịch sử Triết học, các nhà triết học duy vật trước Mác có công lao rất
lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật, đấu tranh chống lại chủ nghĩa
duy tâm. Tuy nhiên họ hạn chế ở chỗ không thấy được vai trò của hoạt động
thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên quan điểm của họ mang tính chất trực
quan. Các nhà triết học duy tâm lại tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, tư tưởng của
thực tiễn, họ hiểu họat động thực tiễn như là hoạt động tinh thần, hoạt động của
“ý niệm”, tư tưởng, tồn tại đâu đó ngoài con người, nói cách khác, họ gạt bỏ vai
trò thực tiễn trong đời sống xã hội.
Mac-Ăngghen, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mac đã khắc phục những hạn
chế trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và đưa ra quan điểm
đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức cũng
như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Với việc đưa phạm trù
thực tiễn vào lý luận, Mac- Ăngghen đã thực hiện bước chuyển biến cách mạng
trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng.
Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã hội của
con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ
hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên
ngoài, thì con người nhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có tính
xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để làm
chủ thế giới. Trong qúa trình hoạt động thực tiễn con người đã tạo ra được một
“thiên nhiên thứ hai” của mình, một thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất,
những điều kiện mới cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn không có
sẵn trong tự nhiên. Vì vậy, không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội
loài người không thể tồn tại và phát triển được. Thực tiễn là phương thức tồn tại

chuẩn của chân lý. Theo Mac và Ăngghen thì “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của
con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là
một vấn đề lý luận mà là một vấn đề của thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con
người phải chứng minh chân lý”. Tất nhiên, nhận thức xã hội còn có tiêu chuẩn
riêng, đó là tiêu chuẩn lô gic nhưng tiêu chuẩn lô gic không thể thay thế cho tiêu
chuẩn thực tiễn, và xét đến cùng nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn.
Đó là tư tưởng cơ bản của Mac-Ăngghen khi đưa phạm trù thực tiễn vào nội
dung của lý luận nhận thức, tư tưởng đó đã được Lênin bảo vệ và phát triển sâu
sắc hơn trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê
phán”, trong đó Lênin nhắc lại luận cương thứ hai của Mac về Phoi-ơbăc và
Người kết luận “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ
nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”. Tư tưởng của Lênin về vai trò của
thực tiễn đối với nhận thức vẫn đang là nguyên tắc phương pháp luận quan trọng
hướng dẫn chúng ta trong hoạt động thực tiễn, trong nghiên cứu khoa học. Nếu
không bám sát thực tiễn cuộc sống chúng ta sẽ không thể có lý luận, không thể
có khoa học, không xác định nổi bất kỳ đề tài khoa học nào với đúng nghĩa của
nó.
Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thực khách
quan. Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý và các quy luật
tạo nên lý luận, quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của qúa trình nhận
thức nên bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là
sự phản ánh một cách gần đúng đối tượng nhận thức.
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận là tri
thức khái quát tri thức kinh nghiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận
là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về
tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong qúa trình lịch sử”. Lý luận được hình thành
trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải mọi lý luận đều trực tiếp
xuất phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi
19
trước những dữ kiện kinh nghiệm mà vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý

Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh ví “không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt
mà đi”.
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự
phản ánh hiện thực nên lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo
tưởng. Vì thế, không được cường điệu vai trò của lý luận, mặt khác không được
xem nhẹ thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là
phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức
khoa học và hoạt động cách mạng.
Trong Triết học Macxit và trong chủ nghĩa Mac-Lênin, sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn như một thuộc tính vốn có, một đòi hỏi nội tại. Nguyên tắc này
có ý nghĩa to lớn trong việc nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.
20
Lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng qua lại. Lý luận bắt nguồn từ
thực tiễn, phản ánh (khái quát) những vấn đề của đời sống sinh động. Nhưng
thước đo tính cao thấp của lý luận với thực tiễn biểu hiện trước hết ở chỗ lý luận
đó phải hướng hẳn về đời sống hiện thực, để giải quyết những vấn đề do chính
sự phát triển của thực tiễn đặt ra và như vậy, lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn
phát triển, bởi vì ở bên ngoài sự thống nhất lý luận và thực tiễn, tự thân lý luận
không thể biến đổi được hiện thực, nói cách khác, hoạt động lý luận không có
mục đích tự thân mà vì phục vụ thục tiễn, để cải tạo thực tiễn, phục vụ thực tiễn
có hiệu quả.
Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán triệt được
thực tiễn là cơ sở, là động lực, mục đích của lý luận, của nhận thức, là tiêu chuẩn
của chân lý (lý luận). Như trên đã nói, lý luận đích thực bao giờ cũng bắt nguồn
từ thực tiễn, do thực tiễn quy định. Thực tiễn quy định lý luận thể hiện ở nhu
cầu, nội dung, phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận. Thực tiễn biến
đổi thì lý luận cũng biến đổi theo, nhưng lý luận cũng tác động trở lại thực tiễn
bằng cách soi đường, chỉ đạo, dẫn đắt thực tiễn.
Trên cơ sở nhận thức và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn phải chống bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Chúng ta coi trọng kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status