Đề tài R-D cấp bộ : Nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm chức năng và chế phẩm saponin từ cây rau má phục vụ cho công nghiệp dược phẩm - Pdf 13



Cán bộ tham gia thực hiện:
1. TS. Trịnh Thị Kim Vân
2. PGS. TS. Nguyễn Thị Hoài Trâm
3. KS. Chu Thắng
4. ThS. Đỗ Thị Thủy Lê
5. ThS. Phạm Đức Toàn

7311
23/4/2009

Hà Nội, 12-2008 DANH MỤC VIẾT TẮT AMG Enzim amyloglucosidase
BuOH Butanol
EtOH Ethanol
MD/HLCK Maltodextrin/Hàm lượng chất khô
TLC Thin Layer Chomatography – Sắc ký bản mỏng
MỤC LỤC

Trang
KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 1
1. TỔNG QUAN 2
1.1 Cở sở pháp lý/xuất xứ của đề tài 2
1.2 Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2
1.4.1 Giới thiệu chung về rau má 2
1.4.1.1 Đặc điểm 3
1.4.1.2 Thành phần, cấu trúc và tính chất của một số hoạt chất
trong rau má
5
1.4.1.3 Tác dụng của rau má 6
1.4.2 Giới thiệu về saponin 8
1.4.2.1 Cấu trúc, tính chất của saponin 8
1.4.2.1.1 Cấu trúc 8
1.4.2.1.2 Tính chất 10
1.4.2.2 Các nguồn saponin có trong tự nhiên 12
1.4.2.3 Ứng dụng của saponin 13
1.4.2.3.1
Ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm
14
1.4.2.3.2

2.1.1 Phương pháp xác định độ ẩm nguyên liệu 25
2.1.2 Phương pháp xác định hàm lượng tinh bột 25
2.1.3 Phương pháp xác định hàm lượng saponin 26
2.1.4 Phương pháp xác định hàm lượng chất chống oxy hóa 26
2.1.5 Phương pháp sắc ký bản mỏng TLC 26
2.1.6 Phương pháp xác định độ nhớt 27
2.1.7 Phương pháp xác định độ nở 27
2.2 Thiết bị, dụng cụ, nguyên vật liệu và hoá chất sử dụng cho
nghiên cứu
27
2.2.1 Nguyên vật liệu 27
2.2.2 Các loại hóa chất 27
2.2.3 Thiết bị nghiên cứu 27
2.3 Kết quả và thảo luận 28
2.3.1 Nghiên cứu khảo sát, xác định vùng, nguồn nguyên liệu,
thành phần các chất có trong rau má
28
2.3.1.1 Nghiên cứu khảo sát, xác định vùng nguyên liệu rau má 28
2.3.1.2 Nghiên cứu khảo sát, xác định chủng loại rau má 28
2.3.1.3
Nghiên cứu xác định hàm lượng saponin có trong các
thành phần của cây rau má
29
2.3.1.4 Phân tích thành phần rau má 30
2.3.2 Nghiên cứu công nghệ tách chiết, trích ly saponin từ rau

32
2.3.2.1 Xác định kích thước nguyên liệu thích hợp 32
2.3.2.2 Nghiên cứu lựa chọn dung môi thích hợp 32
2.3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ dung môi đến quá trình

chức năng sử dụng hoạt chất saponin từ cây rau má
50
2.3.4.1.1 Lựa chọn công nghệ sản xuất cháo ăn liền thông thường 50
2.3.4.1.2 Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất cháo ăn liền chức
năng có bổ sung saponintừ rau má
57
2.3.4.2 Nghiên cứu công nghệ sản xuất đồ uống tan nhanh chức
năng có bổ sung hoạt chất sinh học saponin từ rau má
59
2.3.4.2.1
Lựa chọn công nghệ sản xuất đồ uống tan nhanh
59
2.3.4.2.2 Xây dựng công nghệ sản xuất đồ uống tan nhanh chức
năng có bổ sung saponin từ rau má
60
2.3.5 Sơ bộ tính giá thành cho sản phẩm có sử dụng saponin từ
rau má
64
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Đề tài được thực hiện theo hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ mã số 84.08. RD/ HĐ-KHCN giữa Bộ Công Thương và Viện Công
nghiệp thực phẩm ký ngày 28 tháng 1 năm 2008.
1.2 Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng một số cây cỏ để làm thực phẩm và
để đ
iều trị bệnh tật và vết thương. Theo dòng lịch sử đã hình thành các nền y dược
học cổ truyền nổi tiếng ở Trung Quốc, Ai Cập, Ấn Độ, châu Âu, châu Mỹ La
tinh,… từ chỗ chỉ biết khai thác các cây cỏ hoang dại để sử dụng, con người đã
biết trồng trọt nhiều loại cây lương thực, thực phẩm và các cây dùng làm thuốc,
mỹ phẩm,…
Rau má (Centella asiatica) không những là thành phầ
n thực phẩm - thức ăn
và thức uống bổ mát đặc trưng của văn hóa ẩm thực Việt Nam mà còn là một cây
nhiệt đới đã được sử dụng trong các nền dược học dân gian để trị một số bệnh như
phỏng, bệnh về tĩnh mạch và ung loét ngoài da.
Trước nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về các sản phẩm tự nhiên
có hoạt tính bề mặt và hoạt tính sinh họ
c, nhu cầu về nghiên cứu sử dụng saponin
càng được chú trọng trong những năm gần đây. Đặc biệt saponin có trong rau má
là các triterpen glycozit rất hữu ích cho sức khỏe, dinh dưỡng và sắc đẹp. Sản
phẩm chiết xuất từ rau má đã được ứng dụng rộng rãi làm thuốc lành sẹo, làm liền
các vết mổ, vết thương, chữa loét, bỏng mà không để lại sẹo,…
Định hướng mục tiêu của đề tài
Xây dự
ng được quy trình công nghệ tách chiết và tinh sạch hoạt chất
saponin từ rau má để ứng dụng trong sản xuất dược phẩm và sản xuất một số thực
phẩm chức năng.
1.3 Nôi dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề tài sẽ thực hiện các nội dung nghiên cứu

vùng hải đảo, ven biển đến vùng núi, ở độ cao dưới 1800m. Loại cây này ưa ẩm,
h
ơi chịu bóng, thường mọc thành đám ở vườn, bờ đê, nương rẫy, bờ ruộng và ven
rừng. Vào mùa mưa ẩm, rau má sinh trưởng rất mạnh, nhanh và khoẻ. Cây ra hoa
quả nhiều vào cuối mùa hè đầu mùa thu, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Do khả
năng đẻ nhánh khoẻ, cây thường tạo thành từng đám dày đặc.
Thân
Thân cây rau má gầy và nhẵn, là loại thân bò lan, màu xanh lục hay lục ánh
đỏ, có rễ ở các mấu. Nó có các lá hình thận, màu xanh v
ới cuống dài và phần đỉnh
lá tròn, kết cấu trơn nhẵn với các gân lá dạng lưới hình chân vịt. Lá có cuống dài

mọc ra từ gốc hoặc từ các mấu. Lá hơi tròn, có mép khía tai bèo. Phiến lá có gân
dạng lưới hình chân vịt. Các lá mọc ra từ cuống dài khoảng 5-20 cm

Hoa
Hoa rau má có màu từ ánh hồng tới đỏ, mọc thành các tán nhỏ, tròn gần
mặt đất. Mỗi hoa được bao phủ một phần trong 2 lá bắc màu xanh. Các hoa lưỡng
tính này khá nhỏ (nhỏ hơn 3 mm), với 5-6 thùy tràng hoa. Hoa có 5 nhị và 2 vòi
nhụy. Quả có hình mắt lưới dày dặc, đây là điểm phân biệt nó với các loài trong
chi Hydrocotyle có qu
ả với bề mặt trơn, sọc hay giống như mụn cơm.
Rễ
Bộ rễ bao gồm các thân rễ, mọc thẳng đứng. Chúng có màu trắng kem và
được che phủ bằng các lông tơ ở rễ.
Rau má là loại cây dễ trồng, dễ thích nghi với nhiều loại đất khác nhau, chỉ
cần vùng đất đó có độ ẩm cao. Trồng rau má không đòi hỏi phải cầu kỳ ít đầu tư
như nh
ững loại cây trồng khó tính khác, cho thu hoạch quanh năm, cứ 30 - 40
ngày cắt một lần.

Hình 3.1: Một số giống rau má được trồng tại Việt Nam

1.4.1.2 Thành phần, cấu trúc và tính chất của một số hoạt chất trong rau má
Về thành phần hóa học, rau má chứa khá nhiều chất có hoạt tính sinh học
như: saponin, các phytosterol, dầu không bền (vallerin, camphor, cineol), các
khoáng chất (Ca, Fe, Mg, Mn, P, Zn,…), các loại vitamin (B1, B2, B3, C và K),
amino axit cần thiết (glutamic, serin, threonin, alanin, lysin, histidin), tannin và
alkaloid có tên là hydrocotylin [1,3].
Hình 3.2: Cấu trúc phân tử saponin rau má

Thành phần saponin trong rau má là các triterpen glycozit bao gồm:
asiaticosid, asiatosid, axit asiatic, axit madecassic, madicassosid, oxyasiaticosid,
brahminosid, brahmoside, centellosid [6,28]. Tuy nhiên, có 4 loại triterpen chủ yếu
và quan trọ
ng là axit asiatic (chiếm 30%), axit madecassic (chiếm 30%),

Giống Rau má mèo

Giống Rau má cọng tím
Giống Rau má mỡ
Sa
p
onin
(
Centella asiatica
)
asiaticosid và madicassosid (chiếm 35%), 4 loại chất này được xem như các chất

u công trình nghiên cứu và kết quả lâm sàng đều cho thấy
dịch chiết rau má có khả năng kích hoạt các tiến trình sinh học trong việc phân
chia tế bào và tái tạo mô liên kết giúp vết thương chóng lành và mau lên da non.
Hiên nay rau má đã được sử dụng rất đa dạng dưới hình thức thuốc tiêm, thuốc bột,
Madecassoside
thuốc mở để điều trị tất cả các chứng bệnh về da như vết bỏng, vết thương do chấn
thương, do giải phẩu, cấy ghép da, những vết lở lâu lành, vết lở do ung thư, bệnh
phong, vẩy nến… [1, 6,10].

Bảng 3.1. Thành phần chính và tính chất sinh học của saponin rau má
[15,16,20].
Tên chất
Công
thức hóa
học
Trọng
lượng
phân tử
Tính chất sinh học
Axit Asiatic
C
30
H
48
O
5
488,70

943,1
- Tái tạo biểu bì: Kích thích sự hình thành
collagen.
- Chống lão hóa: Củng cố và tăng cường các
đặc điểm cơ lý của da một cách tự nhiên.
- Chống viêm: Giúp quá trình hồi phục và điều
hòa của biểu bì da
Madecassosid
C
48
H
78
O
20
948,6
- Tái tạo biểu bì: Kích thích và điều hòa sự
hình thành collagen bởi tế bào sợi, điều hòa
cân bằng trong quá trình hình thành biểu bì,
tạo cân bằng giữa sự tái tạo và biệt hóa các tế
bào sừng
- Chống lão hóa: Củng cố và tăng cường các
đặc điểm cơ lý của da một cách tự nhiên.
- Chống viêm: Giúp quá trình hồi phục và điều
hòa của biểu bì da.
- Tái tạo biểu bì: Điều hòa cân bằng trong quá
trình hình thành biểu bì, tạo cân bằng giữa sự
tái tạo và biệt
Đối với tuần hoàn huyết, những hoạt chất của rau má có tác dụng cải thiện
vi tuần hoàn ở các tĩnh mạch, mao mạch, bảo vệ lớp áo trong của thành mạch và
làm gia tăng tính đàn hồi của mạch máu. Do đó rau má cũng hữu ích trong các

theo liên kết glycozit [2].
Hình 3.4: Sơ đồ hai thành phần chính của Saponin [2,22]
 Phần khung: được gọi là Sapogenin hay Aglycon (phần cấu trúc không
đường), phần này kỵ nước và tồn tại ở hai dạng:
- Dạng triterpen C
30
: Có chứa dạng đơn vị terpen C
10
để hình thành khung
xương, được gọi là triterpen saponin
- Dạng steroid aglycon: thay thế một số gốc tạo ra khung C
27
có tính chất
steroid, được gọi là steroid saponin
Ngoài ra, trong một số loài thực vật khung Aglycon còn được gắn thêm
nhóm nitrogen, do đó chúng thể hiện tính chất hóa học và dược lý của các sản
phẩm alkaloid tự nhiên [14].


Tính chất của aglycon và các nhóm chức năng trên khung aglycon, số nhóm
cũng như đặc điểm của các loại đường có thể biến động mạnh dẫn đến sự khác
nhau của các nhóm hợp chất [16].
1.4.2.1.2 Tính chất
Trong tự nhiên các saponin từ các nguồn thực vật khác nhau, có sự đa dạng
về mặt tính chất vật lý, hóa học và đặc điểm sinh học cũng rất khác nhau, nhưng
đa số chúng đều có những đặc điểm cơ bản sau:
Tính chất vật lý

(a)
(b)
Khi hoà tan vào nước có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch
tạo nhiều bọt, có tính chất phá huyết, độc đối với động vật máu lạnh nhất là đối
với cá, tạo thành phức với cholesterol, có vị hắc [11].
Đa số các hoạt chất saponin có liên quan đến vị đắng, song một số saponin
lại có vị ngọt cao như saponin có trong rễ cây cam thảo là axít glycyrhizic một
chất có độ ngọt hơn 50 lần so với đường [12].
Các saponin đều là các chất hoạt quang, điểm nóng chảy của các sapogenin
thường rất cao (khoảng 200
0
C).
Tính tan là nhân tố quan trọng đối với hoạt tính sinh học và quá trình tách
chiết của saponin. Mức độ tăng tính tan phụ thuộc vào cấu trúc của monodesmosid
saponin, và tỷ lệ thành phần, nồng độ của bidesmosit saponin. Dạng
monodesmosid, bản thân ít tan trong nước (dạng tinh chế) và có thể được tách
chiết dễ hơn do tác động lên tính tan của các hoạt chất đi kèm [12]. Ngoài ra, tính
tan của saponin cũng bị ảnh hưởng bởi đặc tính của dung môi tách chiết, nhiệt độ,
pH,. nước, ví dụ như: với nồng độ ethanol từ 30-100%, tính tan của soyasaponin
Bb (soyasaponin I) đạt giá trị cực đại (tại 60% ethanol).
Tính chất hóa học

dường như thể hiện mạnh đối với đường tĩnh mạch, và yếu hơn nhiều khi qua con
đường tiêu hóa. Điều này được cho rằng bởi khả năng cơ thể hấp thu saponin kém
và hoạt tính phân hủy hồng cầu thấp khi có mặt thành phần huyết tương.
Đặc điểm làm giảm nồng độ cholesterol của saponin cũng đã được nghiên
cứu trên động vật (gia cầm, chuột, khỉ) và thử nghiệm trên người. Nó được đánh
giá là ngăn chặn sự hấp thu cholesterol từ ruột non hoặc ngăn sự tái hấp thu axít
mật [11].
Tác động làm giảm cholesterol máu của saponin trong khẩu phần thức ăn
của người được sự minh chứng bằng các nghiên cứu sinh thái học tại các cộng
đồng dân cư khác nhau. Một tỷ lệ rất thấp người mắc bệnh tim mạch trong cộng
đồng người Batemi và Maasai Tây phi mặc dù họ ăn rất nhiều chất béo. Một phần
trong khẩu phần ăn của họ chứa nhiều chất saponin với polyphenol, phytosteroid
và chất xơ [12].
Tác dụng chống ung thư của triterpen và các steroid saponin cũng đã được
nhiều nghiên cứu đề cập như ginsenosid, saikosaponin-d, diosgenin, và axit
glycyrhizic,… đã được xác định là những hoạt chất có tiềm năng chống ung thư và
đang được tuyển chọn bởi Viện nghiên cứu ung thư National Cancer Institute's
(NCI -Mỹ) trong chương trình nghiên cứu sản xuất thuốc chống ung thư [8,12].
Một số Aglycones có hoạt tính chống ung thư bao gồm:
• Dạng triterpen saponin điển hình từ rễ và ngọn hoa của cây nhân sâm, được
công bố có tác dụng kháng virut, (anti-HIV), chống ung thư, kháng khuẩn,
kháng antimalarial, chống viêm nhiễm, anthelmintic, và các đặc tính chống oxy
hóa
• Axit betulinic và axit oleanolic có trong cây cúc thuộc chi Silphium, một trong
những gốc aglycon (dạng triterpen saponin) điển hình được nghiên cứu và
công bố là có khả năng chống virut (anti-HIV), chống viêm nhiễm.
1.4.2.2 Các nguồn saponin có trong tự nhiên
Sự hiện diện của saponin đã được thông báo trên 100 họ thực vật, hơn 150
chi và 2.000 loài, có khoảng >70% họ thực vật trong giới thực vật có chứa saponin
[9,19]. Ở thực vật, chúng được tìm thấy ở nhiều bộ phận khác nhau của cây như: lá,

gốc, các bộ phận của thực vật, các yếu tố môi trường và điều kiện trồng trọt cùng
các quá trình phát triển của thực vật, các biện pháp xử lý sau thu hoạch như bảo
quản và chế biến [5,9,13].
1.4.2.3 Ứng dụng của Saponin
Do saponin có những đặc điểm sinh, lý và hóa học khác nhau nên nó được
khai thác và ứng dụng trong hàng loạt các ngành khác nhau như: thực phẩm (đồ
uống, bánh kẹo), nông nghiệp, mỹ phẩm và dược phẩm
Ngoài hai nguồn saponin đã thương mại hóa là saponin từ cây Bồ hòn và
cây ngọc giá thì hàng loạt các loại thực vật khác như: đậu tương, hạt chè, hạt dẻ
cũng đã và đang được sử dụng làm nguồn saponin thương mại. Các ứng dụng
dược phẩm của saponin làm nguyên liệu cho sản xuất hocmon, các tá dược tác
dụng hệ miễn dịch và sử dụng như là các loại thuốc. Saponin cũng là thành phần
chính trong các sản phẩm chăm sóc sức khỏe tự nhiên như các loại dịch chiết từ
cây cỏ [13,24,28].
1.4.2.3.1 Ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm
Saponin đã được Cục kiểm nghiệm thực phẩm và thuốc của Mỹ (US Food
and Drug Administration, 2003) công nhận là chất phụ gia thực phẩm của Mỹ
trong mục 172.50 – Chất có hương tự nhiên và các chất cố định hương, các
saponin này được chiết xuất từ cây ngọc giá và vỏ cây bồ hòn [1,11].
Bộ Sức khỏe và các vần đề xã hội của Nhật Bản, đã công nhận saponin là
một trong các phụ gia thực phẩm có nguồn gốc tự nhiên và được phép sử dụng ở
Nhật Bản, bao gồm saponin đậu tương được thủy phân bởi enzim, dịch chiết từ
Sâm, Chè, quả Bồn hòn và cây Ngọc giá [16].
Dịch chiết saponin từ cây bồ hòn được cộng đồng Châu Âu xác định như là
chất tạo bọt trong nước và đồ uống không cồn – tên chất là E999, sử dụng
200mg/ml (Hội đồng Châu âu, 1996) [18].
Một số saponin của rau chân vịt, măng tây, củ cải, sồi và các loại đậu có tác
động kích thích lên hệ tiêu hóa, chúng giúp cơ thể hấp thu các chất khoáng quan
trọng. Saponin từ đậu tương đã và đang được sản xuất ứng dung rộng rãi như là
một trong các thực phẩm chức năng và thực phẩm dinh dưỡng [1,11].

saponin trong công nghiệp dược phẩm như những tá dược để tăng cường hấp thu
các hoạt chất khác cũng được nhiều hãng đăng ký bảo hộ.
1.4.2.3.4 Ứng dụng trong y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Các nghiên cứu khoa học đã xác nhận dùng rau má bằng cách uống hay
thoa đắp ngoài da giúp vết thương mau lành, kể cả các vết thương khi giải phẫu,
các vết ung nhọt và cả vết lở loét.
Đối với những người thừa cân (béo phì), xơ vữa động mạch máu nếu ăn rau
má lâu dài sẽ có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong máu và do đó làm cho
các mạch máu mềm mại trở
lại, hạn chế được những tai biến do xơ vữa động mạch
máu gây ra (như co thắt động mạch vành tim hay nhồi máu cơ tim, co thắt mạch
máu não hay vỡ mạch máu não).
Nền y học hiện đại đã chiết xuất lấy hoạt chất từ rau má làm thuốc chống
sẹo lồi, làm vết thương mau lành, giảm bớt chứng giãn tĩnh mạch chi dưới Tuy
lấy từ rau má nhưng loại thuố
c này khá đắt vì phải qua nhiều công đoạn chế biến
khá phức tạp.
Các hạt của cây thuộc bộ bồ hòn Sapindus mukorossi, được sử dụng trong y
học như các loại thuốc có tác động đến hệ hô hấp, kích thích sự long đờm, gây nôn
(do đặc điểm chất tẩy rửa tác động lên dạ dầy), ngừa thai, và được sử dụng làm
thuốc để điều trị sự tiế
t nước miếng quá mức, chứng động kinh, và chứng đau nửa
đầu
Saponin được tin tưởng là có ích đối với con người trong điều hòa
cholesterol. Người Maasai ăn súp pha với vỏ và rễ đắng của cây chứa saponin,
Bệnh tim mạch hầu như không xuất hiện trong cộng đồng người Maasai, và nồng
độ cholesterol của họ chỉ bằng 1/3 mức trung bình của dân Mỹ Điều này đã được
giải thích bởi cholesterol m
ật được tiết ra vào hệ tiêu hóa, đa số chúng sẽ được hấp
thu lại về cơ thể. Nhung sự có mặt của saponin kết hợp với axit mật và cholesterol,

cho chó và mèo ăn cây ngọc giá sẽ làm giảm mùi ở phân chúng Hình 3.7: Một số ứng dụng của saponin

Hạt cây xà phòng có hoạt tính trừ sâu nhẹ, nó được sử dụng để loại trừ chấy
rận trên da đầu, hạt này cũng có hoạt tính kháng vi sinh vật và có hiệu quả cho hệ
thống khử trùng và xử lý nước thải, được sử dụng để làm phục hồi trong trường
hợp đất bị nhiễm độc. Nó cũng được sử

xuất từ rau má, giá rao bán là 25 đô la Mỹ (500 mg/viên nén, hộp 60viên)
Do rau má có rất nhiều công dụng nên ở các nước như Indonesia, Philippin,
Sri Lanca, Madagasca người ta đã tiến hành trồng rau má với quy mô lớn. Mỗi
năm các nước này xuất ra thị trường thế giới hàng trăm tấn rau má để làm thuốc
hoặc nước giải khát.
1.4.3.2 Việt Nam
Thị trường tiêu thụ
rau má ở Việt Nam rất lớn, không chỉ phục vụ cho nhu
cầu bữa ăn hàng ngày, còn là sản phẩm chế biến sinh tố, nước giải khát, được
nhiều người ưa thích. Tuy nhiên vẫn chủ yếu là dùng nguyên cây ép lấy nước hoặc
sao, sấy khô. Việc nghiên cứu chiết tách tạo chế phẩm giầu hoạt chất có chức năng
sinh học từ rau má chưa được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi.
Trong nhữ
ng năm gần đây, các công ty Y Dược như: Vimedimex, Dược
Hậu Giang, Dược 3/2, đã cho ra thị trường sản phẩm thương mại là cao rau má
(hàm lượng saponin khoảng 5-7%) dùng để giải độc, giải nhiệt, thông tiểu, lọc
máu, lợi sữa, nhuận gan, điều hòa các rối loạn chức năng làm lành da, tác dụng
lên mô liên kết giúp cho các mô tái tạo nhanh chóng.
Tại Viện Công nghiệp thực phẩm cũng đã nghiên cứu, sản xuất và đưa ra
thị trường sản phẩm như: Rau má tan, Rau má FOS dạng bột uống liền, tuy nhiên
những sản phẩm này là sản phẩm thô.
Ở Việt Nam, nguồn rau má trồng và mọc tự nhiên khá dồi dào, nhưng hiện
nay mới chỉ được khai thác sử dụng tại chỗ, chưa trở thành mặt hàng thương mại
lớn. Hy vọng trong tương lai không xa, các sản phẩm, các hoạt chất quý được tách
chiết từ rau má sẽ được khai thác hiệu qu
ả và có thể xuất ra thị trường thế giới.


chất phenolic và các chất tương tự khác, do đó không dễ để kết tinh và càng khó
thu được tinh thể [21].
Việc mô tả đặc trưng của các saponin tinh khiết cũng gặp nhiều thách thức
do không có đủ lượng tinh thể cần thiết (thường chỉ thu được saponin dạng vô
định hình). Đ
iểm nóng chảy không rõ ràng và thường xảy ra sự phân hủy. Do đó,
việc xác định các tính chất của mẫu không tinh khiết không chỉ dành cho giá trị
điểm nóng chảy, góc quay quang mà cần cả các hằng số vật lý khác. Để thu được
kết quả tốt hơn, cần tiến hành phân tách saponin bằng sắc ký lớp mỏng TLC hoặc
sắc ký lỏng cao áp HPLC. Song việc làm này cũng gặp nhiều khó khắn do chưa rõ
thời gian lưu của từng saponin [18,19].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status