hội chứng đau thần kinh tọa - Pdf 13

HỘI CHỨNG ĐAU THẦN KINH TỌA
BS. LÊ TỰ PHƯƠNG THẢO
MỤC TIÊU
Biết rõ các phương pháp khám LS.
Chẩn đoán được các trường hợp TK tọa theo rễ L5 và rễ S1.
Hiểu rõ ý nghĩa các xét nghiệm cận lâm sàng.
I. NHẮC LẠI GIẢI PHẪU SINH LÝ
Dây TK tọa là dây TK lớn nhất trong cơ thể
Nó xuất phát trong khung chậu nhờ sự hợp nhất của các rễ L4, L5, S1, S2, S3
Thần kinh tọa từ chậu hông chạy ra đi xuống ở mông, đùi và đến khoeo chân chia ra hai
nhánh tận :
**Thần kinh mác chung (hông khoeo ngoài) : là nhánh ngoài
**Thần kinh chày (TK hông khoeo trong) : là nhánh trong
Đau TK tọa (sciatic neuropathy hoặc sciatica) là danh từ dùng rộng rãi ám chỉ tình trạng đau
ở chi dưới thường đi kèm với đau lưng.
Thông thường khi nói đến “Đau TK tọa” người ta có thể nghĩ đến bệnh lý ở bất cứ phần nào
của các rễ L4, L5, S1 và S2. Nó có thể do các tổn thương tại dây tọa, tại màng tủy, tại cột
sống, tại khung chậu hoặc thường gặp nhất là do thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ). TVĐĐ L4-L5,
L5-S1 gặp trong 90% trường hợp TVĐĐ cột sống thắt lưng.
Rễ L5 là rễ hay bị tổn thương nhất. Một trong những lý do là do khít chặt rễ L5 trong lỗ liên
hợp: rễ L5 có đường kính to nhất và lỗ liên hợp lại nhỏ hơn các lỗ liên hợp khác ở vùng thắt
lưng
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM KHÁM LÂM SÀNG
Triệu chứng của tổn thương rễ nổi bật nhất là triệu chứng về cảm giác.
A. Triệu chứng chủ quan:
1) Đau thắt lưng (đau lưng dưới):
Khoảng 95% BN đau thần kinh tọa có biểu hiện đau thắt lưng (đau lưng dưới) từng đợt kéo
dài nhiều ngày hoặc nhiều tháng trong tiền sử của bệnh. Người ta nghĩ rằng có thể những đợt
đau lưng hoặc “căng lưng” này tương ứng với những tổn thương cấp tính của đĩa đệm.
Đau lưng do tổn thương đĩa đệm có thể thoái lui sau nhiều ngày, nhiều tuần, nhưng nó cũng
có thể chuyển sang đau thần kinh tọa (đau lan xuống chân) trong vòng vài giờ hoặc vài ngày.

Đợt đau theo rễ có thể xảy ra sau khi khiêng vật nặng hoặc làm những công việc bình thường
hoặc chẳng do nguyên nhân nào cả.
**Các yếu tố làm tăng hoặc làm giảm đau : đau tăng lên khi cử động, khi
xoay người đột ngột, khi đứng dậy, khi đi lại. Tư thế gây ra đau thường là gập người ra trước
hoặc gập người sang bên và trong tình trạng gắng sức (rặn). Ho hoặc hắt hơi thường làm tăng
đau. Chính vì vậy bệnh nhân có khuynh hướng tránh các cử động đột ngột và chọn tư thế
giảm đau thích hợp (ví dụ như khi đứng bệnh nhân dồn sức nặng lên chân bên lành, chân bên
bệnh hơi gập lại, cột sống có thể vẹo sang một bên).
Đa số BN giảm đau ở tư thế nằm và tăng đau ở tư thế đứng.
Đau ban đêm có thể là một triệu chứng nổi bật ở những BN đau TK tọa mãn tính.
***Đau rễ do thoát vị sau bên thường là nguyên nhân hay gặp nhất và do đó đau TK tọa
thường là một bên.
*** Đau rễ do thoát vị trung tâm (giữa) có thể là đau rễ hai bên, thường là một bên nặng
hơn, nhưng đau có thể thay đổi bên này bên kia và có thể kèm theo đau sâu vùng chậu và đau
tinh hoàn.
2
3) Dị cảm, loạn cảm : dị cảm và loạn cảm có phân bố giống như cảm giác đau
(nhưng khó xác định vị trí phân bố chính xác) và tăng lên khi ho, rặn, hắt hơi.
4) Rối loạn tiêu tiểu :
+Rối loạn tiểu tiện thường hiếm gặp. Nếu có hỏi kỹ thì một số BN có thể cho biết có
dòng tiểu bị yếu hoặc có khó khăn trong lúc bắt đầu đi tiểu.
Bí tiểu có thể là giai đoạn cuối của đau TK tọa tiến triển hoặc xảy ra khi có TVĐĐ
cấp tính, thường xảy ra trong vòng 48 giờ. Trong một vài trường hợp hiếm gặp bí tiểu là triệu
chứng duy nhất của TVĐĐ giữa, chẩn đoán có thể bị sai lạc trong một thời gian dài. Đau bộ
phận sinh dục có thể đi kèm với bí tiểu.
Mất cảm giác vùng hoành chậu cũng hay gặp (do các rễ cùng (sacral roots) chi phối). Tiên
lượng của bàng quang ở những BN này phụ thuộc vào tốc độ chèn ép rễ hơn là mức độ nhanh
chóng giải ép (mặc dù giải phẫu trễ thường rất khó hồi phục). Sự hồi phục xảy ra từ từ sau 2-
3 năm (khoảng 80% BN hồi phục hoàn toàn).
+BN có đau dây tọa cấp thường bị bón do đi cầu gây đau.

chân bên bệnh sau). Bình thường ta có thể nâng cao chân lên đến 80- 90
0
. Trong trường hợp
bệnh lý, khi nâng chưa đến 60
0
, đau sẽ xuất hiện ở lưng hoặc lan dọc theo phân bố của rễ bị
tổn thương, hoặc bệnh nhân có cảm giác căng ở vùng thắt lưng, vùng mông, vùng đùi, vùng
khoeo, và có thể kèm theo tê, dị cảm phân bố theo rễ bị tổn thương  gọi là Lasègue (+) (Ví
dụ Lasègue (+) ở 30
0
)
Đây là dấu hiệu quan trọng gần như lúc nào cũng có trong đau thần kinh tọa (dương tính
trong các trường hợp đau theo rễ S1, L5 và hầu hết đau rễ L4). Độ nhạy của nghiệm pháp
Lasègue vào khoảng 0,80 (tức là cứ 10 trường hợp đau TK tọa thì có đến 8 trường hợp
nghiệm pháp Lasègue dương tính, hay nói cách khác ít có trường hợp âm giả). Tuy nhiên độ
chuyên biệt của nghiệm pháp này chỉ khoảng 0,40 có nghĩa là trong 10 trường hợp Lasègue
dương tính thì chỉ có 4 trường hợp có tổn thương rễ L5-S1 thực sự, còn lại là những trường
hợp dương giả.
Để có thể thấy rõ đau, ta có thể gập thêm bàn chân bệnh nhân, hoặc gập ngón chân cái của
bệnh nhân  bệnh nhân sẽ thấy đau tăng lên (do chúng ta làm căng rễ TK nhiều hơn)
Khi Lasègue <40
0
 gợi ý có đĩa đệm thoát vị chèn ép vào rễ TK.
Ngoài ra nghiệm pháp Lasègue còn có một giá trị quan trọng khác : đó là dùng để theo dõi
diễn tiến điều trị. Ví dụ Lasègue từ 20
0
chuyển sang 50
0
sau điều trị nội khoa bệnh nhân có
đáp ứng với điều trị.

bàn chân .
 Phì đại cơ : một số trường hợp thay vì teo cơ lại thấy cơ tăng kích thước . Đó là do sự
phì đại bù trừ của những sợi cơ vẫn còn nhận sự chi phối các nhánh TK. Cơ phì đại
thường yếu đi nhưng cũng có những trường hợp sức cơ vẫn còn bình thường.
6) Giảm hoặc mất phản xạ gân cơ :
- Mất hoặc giảm PX gân gót xảy ra trong 60% trường hợp tổn thương rễ S1.(rễ S1 có vai trò
trong cung phản xạ gân gót)
- Ngược lại rễ L5 không đóng vai trò gì trong cung phản xạ gân gối lẫn gân gót.
Chúng ta không có phản xạ gân cơ chuyên biệt nào để chứng tỏ có tổn thương rễ L 5.
Như vậy tổn thương rễ L5 trên nguyên tắc không làm thay đổi phản xạ gân cơ ở chi
dưới. Tuy nhiên người ta ghi nhận giảm PX gân gót cũng xảy ra trong 1/3 trường hợp
TVĐĐ L4-L5, có lẽ do tổn thương túi chứa rễ S 1 trong ống sống (intrathecal pan of
S1 root).
Nhìn chung trên lâm sàng khi có tổn thương S1 người ta thường tìm thêm dấu hiệu mất phản xạ gân gót, còn
khi có tổn thương L5 người ta nghĩ rằng phản xạ gân cơ (PX gối, gót) hầu như là bình thường.

- Nếu BN bị dây tọa S1 hai bên thì PX gân gót có thể mất cả hai bên. (Lưu ý rằng cần phải
chẩn đoán phân biệt với mất PX gót hai bên là do BL TK ngoại biên chẳng hạn như viêm đa
dây tk)
III. CÁC XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG
1) X-Q cột sống thắt lưng: (X-Q quy ước)
Tối thiểu phải có 3 tấm: 1 tấm De Seze (chụp thẳng lấy các đốt sống thắt lưng và khung
chậu, cho bệnh nhân chụp ở tư thế đứng, chụp hình lấy từ đốt sống D12 trở xuống; ở phía
dưới phải lấy được cả 2 đầu xương đùi hai bên), 1 tấm thẳng (ở tư thế nằm, tập trung vào đĩa
đệm L5-S1) và 1 tấm nghiêng (chụp đứng, từ D12 trở xuống).
Bình thường các đĩa đệm tăng bề dày dần dần từ L1 đến L5, giảm bề dày ở L5-S1. Đĩa đệm
dày nhất là L4-L5.
Hình De Seze cho biết cột sống có ở đường giữa không?; hai chân có bất đối xứng ?; có dị
dạng xương cùng ?; xương cùng có nằm ngang ?;, đường nối hai mào chậu có ngang qua L4-
L5 ?; khớp cùng chậu có tách rời ra hay bị dính lại (cùng hóa đốt sống L 5)?, bóng cơ thăn

chếch 3/4 hai bên.
Ưu điểm: khảo sát động học gập, ngửa hoặc được sử dụng khi cả CT và MRI không khẳng
định chắc chắn chẩn đoán.
Hạn chế: không thấy được thoát vị bên
20% BN bình thường lại có hình ảnh bất thường trên chụp bao rễ do đó cần
phối hợp kỹ LS và CLS.
3) Chụp cắt lớp điện toán, chụp cộng hưởng từ:
Ngày nay thường người ta cho chụp cộng hưởng từ, chụp cắt lớp điện toán khi bệnh nhân đã
được điều trị nội khoa đúng đắn 2-3 tháng mà vẫn còn đau. Lựa chọn giữa cộng hưởng từ và
chụp cắt lớp điện toán tùy vào tuổi và tùy vào phim X-Q quy ước.
Nếu bệnh nhân trẻ, phim X-Q quy ước thấy gần như bình thường  nên chọn chụp cộng
hưởng từ. Nếu bệnh nhân lớn tuổi, phim X-Q quy ước thấy có chồi xương, có hiện tượng
thoái hóa cột sông nhiều nên chọn chụp cộng hưởng từ.
Chụp cắt lớp điện toán và chụp cộng hưởng từ giúp phát hiện TVĐĐ chính xác hơn, và giúp
chẩn đoán phân biệt với những nguyên nhân khác.
6
Hạn chế: Cho hình ảnh dương giả 20%, âm giả 30% trường hợp.
50% BN >40 tuổi và 20% BN<40 tuổi không triệu chứng lâm sàng lại có lồi
đĩa đệm trên hình ảnh chụp cắt lớp điện toán.
Do đó cần phối hợp với bệnh cảnh lâm sàng và các xét nghiệm khác như chụp bao rễ cản
quang ở các tư thế gập, ngửa.
4) Điện cơ (ít dùng)
IV. CÁC NGUYÊN NHÂN THƯỜNG GẶP
TVĐĐ, thoái hóa cột sống là 2 nguyên nhân chủ yếu gây ra hội chứng đau tk tọa
Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như : viêm nhiễm do lao, K di căn cột sống, hẹp ống
sống, u vùng chậu, áp-xe vùng chậu, xuất huyết sau phúc mạc…
V. ĐIỀU TRỊ
Chủ yếu dành cho bệnh cảnh thoát vị đĩa đệm
Nội khoa : Nghỉ ngơi: 1-3 ngày đối với những BN có dấu hiệu TK khi thăm khám
Kháng viêm: sử dụng kháng viêm không steroid hoặc aspirine (lợi ích hai loại

7
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status