Phân tích thống kê TSCĐ và đầu tư dài hạn của công ty cổ phần thiết bị điện - Pdf 13

1
CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THỐNG KÊ TSCĐ VÀ
ĐẦU TƯ DÀI HẠN TRONG DOANH NGHIỆP
1. Lý thuyết về TSCĐ và quản lý TSCĐ ở doanh nghiệp
1.1 Khái niệm và đặc điểm của TSCĐ
Để có thể tiến hành được hoạt động sản xuất kinh doanh bất cứ doanh nghiệp nào
cũng cần có đầy đủ ba yếu tố về lao động là: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và
sức lao động. Khác với các đối tượng lao động (nguyên vật liệu, sản xuất dở dang,
bán thành phẩm…) thì các tư liệu lao động (như máy móc, thiết bị, nhà xưởng,
phương tiện vận tải…) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác
động vào đối tượng lao động biến đổi nó theo mục đích của mình. Đó là các tư liệu
lao động chủ yếu được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh
doanh như: máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, các công trình kiến
trúc, các khoản đầu tư mua sắm TSCĐ hữu hình… TSCĐ của doanh nghiệp là những
tài sản có giá trị lớn, thông thường một tư liệu lao động được coi là TSCĐ phải đồng
thời thảo mãn hai tiêu chuẩn cơ bản:
- Một là, phải có thời gian sử dụng tối thiểu từ 1 năm trở lên
- Hai là, phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức cố định, tiêu chuẩn này được quy định
riêng đối với từng nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với mức giá của từng
thời kỳ.
Ở nước ta hiện nay theo quy định 206/2009/QĐ - BTC của Bộ tài chính quy định.
* Tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ hữu hình.
Mọi tư liệu lao động là tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống
gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ kết hợp với nhau để cùng thực hiện một hay một số
chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống
không hoạt động được, nên nếu thoả mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn sau thì được coi là tài
sản cố định:
- Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
- Có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên
- Nguyên giá tài sản được xác định một cách tin cậy

Theo phương pháp này TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành hai loại:
- TSCĐ hữu hình
Là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện bằng hình thái vật chất cụ thể có
giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
mà vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như: nhà xưởng, máy móc thiết bị,
phương tiện vận tải, vật kiến trúc…
- TSCĐ vô hình
3
Là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã
được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như
chi phí thành lập doanh nghiệp , chi phí sử dụng đất…
Ý nghĩa: Cách phân loại này cho ta thấy được cơ cấu đầu tư vào TSCĐ hữu hình
và vô hình từ đó lựa chọn các quyết định đầu tư hoặc cơ cấu dầu tư cho phù hợp và
hiệu quả nhất.
* Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng
- TSCĐ đang dùng: Là những TSCĐ của doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, hoặc các hoạt động phúcc lợi, sự nghiệp hay an ninh quốc phòng
của doanh nghiệp.
- TSCĐ chưa dùng: Là những tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh
hay các hoạt động khác của doanh nghiệp, song hiện tại chưa cần dùng còn dự trữ để sử
dụng sau này.
- TSCĐ không cần dùng chờ thanh lý: Là những TSCĐ đã hết thời hạn sử dụng
hay những TSCĐ không cần thiết, không phù hợp với nhiệm vụ sản xuát kinh doanh của
doanh nghiệp cần thanh lý, nghượng bán để thu hồi vốn đầu tư bỏ ra ban đầu.
Ý nghĩa: Cách phân loại này giúp các nhà quản lý biết được tình hình tổng quát về
số lượng, chất lượng TSCĐ hiện có, VCĐ tiềm tàng, hoặc ứ đọng, từ đó tạo đIũu kiện
cho phân tích, kiểm tra, đánh giá tiềm lực sản xuất cần khai thác và tìm cách thu hồi.
* Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng.
- TSCĐ định thco mục đích sản xuất kinh doanh: Là những TSCĐ hữu hình và vô
hình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp.

lao động chủ yếu được ví như “hệ thống xương cốt bắp thịt của quá trình SXKD”.
TSCĐ là khí quan để con người thông qua đó tác động vào đối tượng lao động biến nó,
bắt nó phục vụ cho con người.
* Đối với con người
Con người được hưởng thành quả cuối cùng của một hệ thống TSCĐ tiên tiến. Nhờ
có TSCĐ hiện đại mà quá trình sản xuất sẽ rút ngắn, lao động của con người thuận lợi
hơn, đỡ nặng nhọc hơn và có năng suất lao động cao hơn, kết quả sản xuất lớn hơn, do
đó mà điều kiện làm việc và đời sống được nâng cao.
* Đối với doanh nghiệp
Trình độ trang thiết bị TSCĐ quyết định năng lực sản xuất lao động, chi phí giá
thành, chất lượng sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thương trường. Nếu doanh nghiệp nào trang bị máy móc, thiết bị hiện đại, áp dụng quy
trình công nghệ tiên tiến sẽ giảm được mức tiêu hao nguyên vật liệu và cho ra những sản
phẩm chất lượng tốt và có sức hút cao đối với khách hàng.
* Đối với xã hội
Trình độ công nghệ sản xuất ở mức độ nào thì nói lên trình độ phát triển của lực
5
lượng sản xuất ở mức độ tương ứng và là căn cứ phân biệt thời đại này với thời đại
khác. Phương thức sản xuất cổ truyền khác phương thức sản xuất hiện đại ở chỗ sản
xuất như thế nào và sản xuất bằng cái gì. Chính lực lưọng sản xuất đã thúc đẩy quan hệ
sản xuất phát triển và làm thay đổi phương thức sản xuất.
Từ những phân tích trên ta càng thấy rõ được vai trò quan trọng của TSCĐ trong
hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy mà TSCĐ phải luôn được duy trì, kéo dài
tuổi thọ và đầu tư đổi mới công nghệ.
1.4. Kết cấu TSCĐ
Với mỗi cách phân loại trên có ý nghĩa khác nhau nhưng ở chúng có ý nghĩa
chung quan trọng đó là cho phép đánh giá, xem xét kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp
theo các tiêu thức khác nhau giúp cho nhà quản lý tính toán chính xác số tiền trích lập
quỹ khấu hao. Do vậy kết cấu TSCĐ là tỷ trọng giữa nguyên giá của một loại TSCĐ nào
đó chiếm trong tổng nguyên giá toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất

phẩm sản xuất trong kỳ.
Việc khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp có thể được thực hiện theo nhiều
phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng. Việc lựa chọn
phương pháp khấu hao đúng đắn là nội dung quan trọng trong việc quản lý TSCĐ trong
doanh nghiệp.
Thông thường có những phương pháp tính khấu hao sau:
* Phương pháp khấu hao tuyến tính (khấu hao đường thẳng)
Đây là phương pháp khấu hao bình quân theo thời gian sử dụng. Theo phương pháp
này mức khấu hao cơ bản hàng năm của TSCĐ được tính theo công thức:
Mức khấu hao =
Nguyên giá TSCĐ
Thời gian sử dụng TSCĐ
Ưu nhược điểm:
+ Ưu điểm: Phương pháp này đơn giảm, dễ tính, dễ hiểu. Doanh nghiệp có thể ổn định
chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm do mức khấu hao được phân bổ đều qua các
năm.
+ Nhược điểm: Do TSCĐ phải chịu nhiều các yếu tố tác động tới nên trong những thời
kỳ khác nhau TSCĐ có những hao mòn khác nhau. Vì vậy phương pháp này không đem
lại cho người quản lý những thông tin chính xác về mức độ hao mòn thực tế của TSCĐ
trong các thời kỳ sử dụng khác nhau.
- Điều kiện áp dụng: Các TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh đều được trích khấu
hao theo phương pháp này. Đây là phương pháp khấu hao khá đơn giản và được áp dụng
hầu hết cho các TSCĐ trong doanh nghiệp.
* Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần.
7
Theo phương pháp này số tiền khấu hao từng năm của TSCĐ được xác định bằng
cách lấy giá trị còn lại của TSCĐ đầu năm tính khấu hao nhân với một tỷ lệ khấu hao
cố định hàng năm, có thể được xác định qua công thức:
Công thức: Mki = Gđi * Tkh
Trong đó: Tkh = Tk * Hs

Hiệu quả sử dụng TSCĐ là một phần của công tác đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
8
doanh nhưng để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình, các doanh nghiệp
phải cố gắng tối đa trên nhiều lĩnh vực trong đó phải tìm ra cách nâng cao hiệu quả sử
dụng TSCĐ của mình.
Vậy: ‘Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh
nhằm mục đích sinh lời tối đa với chi phí thấp “.
2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay là rất cần thiết, nó
quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ các
lý do chủ yếu sau đây:
- Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp đó là lợi nhuận. Bất kỳ một
doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới mục tiêu
cuối cùng là lợi nhuận. Nó là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nhất nói lên kết quả nhiều mặt
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là nguồn tích luỹ cơ bản để
doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng.
- Xuất phát từ vị trí, vai trò của TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh. TSCĐ
là thành phần cơ bản chiếm tỷ trọng lớn trong vốn sản xuất. Do đó việc nâng cao hiệu
qủa sử dụng TSCĐ sẽ làm cho hiệu quả vốn sản xuất tăng lên. Đó cũng chính là mục
tiêu và đạt tới của việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ. Bởi hiệu quả
sử dụng TSCĐ là chỉ tiêu chất lượng phản ánh những cố gắng, những biện pháp hữu
hiệu về kỹ thuật, về tổ chức quản lý trong doanh nghiệp nhằm thúc đẩy sản xuất phát
triển. Hiệu quả sử dụng TSCĐ thể hiện ở việc nâng cao hiệu suất sử dụng vốn cố định,
tài sản cố định, tăng tỷ suất lợi nhuận vốn cố định,… nhằm tăng lợi nhuận.
Ngoài ra, nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ chính là việc thực hiện yêu cầu của
Nhà nước về việc hạch toán đầy đủ của các doanh nghiệp.

Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Doanh thu thuần
Nguyên giá TSCĐ bình quân
Hiệu quả sử dụng TSCĐ =
Lợi nhuận
Nguyên giá TSCĐ bình quân
Chỉ tiêu này cho ta thấy rõ hơn về tính hiệu quả của việc sử dụng TSCĐ, cứ một
đồng nguyên giá TSCĐ sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Thông qua hệ thống các chỉ tiêu đánh giá trên ta thấy nâng cao hiệu quả sử dụng
TSCĐ chính là việc khai thác triệt để khả năng hiện có của doanh nghiệp như: phát huy
hết công suất của máy móc thiết bị, tăng cường công tác quản lý và sử dụng tài sản cố
định để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho
10
doanh nghiệp.
2.5. Biện pháp chủ yếu nhằm tổ chức quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ
trong doanh nghiệp
- Làm tốt công tác đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cố định, xem xét kỹ hiệu quả
kinh tế của vốn đầu tư xây dựng cơ bản:
Hiệu quả sử dụng TSCĐ trước hết phụ thuộc vào chất lượng của công tác đầu tư
mua sắm TSCĐ. Bởi vậy, trước khi đầu tư phải nghiên cứu kỹ lưỡng, kiểm tra về điều
kiện khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, điều kiện cung cấp vật tư, khả năng
tận dụng và công suất của TSCĐ. TSCĐ được đầu tư mới phải phù hợp với trình độ phát
triển của khoa học kỹ thuật theo hướng tiên tiến hiện đại, và phải phù hợp với yêu cầu
và khả năng khai thác của doanh nghiệp.
Căn cứ vào việc xác định tỷ lệ hợp lý giữa các loại máy móc thiết bị, giữa các
khâu của quy trình công nghệ và tổng số TSCĐ hiện có để lập ra kế hoạch điều chỉnh cơ
cấu và kế hoạch đầu tư theo hướng đồng bộ hoá thiết bị sẵn có, cải tạo thiết bị máy móc
cũ, thải loại những máy móc thiết bị mà chi phí sửa chữa lớn hơn mua sắm lớn (không
có hiêu quả kinh tế) đồng thời có kế hoạch đầu tư mua sắm mới thay thế một phần hoặc
toàn bộ tài sản cố định. Bên cạnh đó xác định chính xác những tài sản cố định không

chức và hoạt động của Tổng công ty được phê chuẩn tại Nghị định số 51/CP ngày
1/8/1995 của Chính Phủ. Công ty là một bộ phận cấu thành của hệ thống tổ chức và hoạt
động của Tổng công ty trong các lĩnh vực khác nhau nhằm tăng cường tích tụ tập trung
phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất để thực hiện những mục tiêu kế
hoạch của Nhà nước do Tổng công ty giao cho.
Tên giao dịch: “POST & TELECOMMUNICATION EQUIPMENP COMPANY
(POSTEF)”
Tên viết tắt : “POSTEF”
Điện thoại : 04.8621269
Fax : 04.8621268
Công ty cổ phần Thiết Bị Bưu Điện - Hà Nội là một Doanh nghiệp được thành lập
từ năm 1954 với tên gọi ban đầu là: Nhà máy Thiết Bị Bưu Truyền Thanh.
Năm 1967 theo quyết định số 389/QĐ ngày 16/6/1967 của Tổng cục Bưu Điện đã
tách rời nhà máy Bưu Truyền thanh ra làm 4 nhà máy trực thuộc bao gồm nhà máy 1, 2,
3, 4.
Đầu những năm 70, do yêu cầu phát triển thông tin của Tổng cục bưu điện đã sát
nhập nhà máy 1, 2, 4 thành một nhà máy hạch toán độc lập theo quyết định số 157/QĐ.
Đến tháng 12/1986 do yêu cầu của Tổng cục Bưu Điện nhà máy lại một lần nữa
tách ra thành 2 nhà máy sản xuất kinh doanh ở cả 2 khu vực:
+ Nhà máy thiết bị Bưu Điện ở 61 Trần Phú - Ba Đình - Hà Nội
+ Nhà máy vật liệu điện tử loa âm thanh 63 Nguyễn Huy Tưởng – Thanh Xuân - Hà Nội
Sau khi có quyết định 217/HĐBT, Công ty thực hiện hoạt động kinh doanh tự
chủ về mặt tài chính một cách năng động và có hiệu quả.
Đến đầu năm 1995, Công ty trở thành một thành viên độc lập thuộc Tổng công
ty Bưu chính - viễn thông, theo quyết định thành lập doanh nghiệp số 202/QĐ - TCBĐ
ngày 15/3/1995, giấy phép kinh doanh số 105.985 ngày 20/3/1995 do trọng tài kinh tế
13
cấp, số hiệu tài khoản TK 10A009 Ngân hàng công thương Ba Đình - Hà Nội.
Căn cứ quyết định số 46/2/2010/QĐ - BBCVT ngày 15/11/2010 của Bộ Bưu chính
viễn thông chuyển Nhà máy thiết bị Bưu Điện thành Công ty cổ phần thiết bị Bưu Điện.

quyết định thực hiện quản lý vĩ mô chỉ đạo chung toàn bộ hoạt động của Công ty, các
phân xưởng là các bộ phận trực tiếp tham gia sản xuất sản phẩm.
* Ban giám đốc
- Giám đốc Công ty: là người lãnh đạo cao nhất của Công ty, chịu trách nhiệm
cao nhất về hoạt động của Công ty, chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả sản xuất
kinh doanh trước pháp luật, có nghĩa vụ đối với Nhà nước trong quản lý tài sản, tránh
để thất thoát tài sản.
- Phó giám đốc: gồm có phó giám đốc kỹ thuật và phó giám đốc sản xuất, là
người đại diện lãnh đạo về chất lượng sản phẩm, là người trợ giúp cho giám đốc về
mặt kỹ thuật, chỉ đạo trực tiếp các đơn vị thực hiện IOS trong Công ty. Các phó
giám đốc là người trợ lý cho Giám đốc và theo dõi điều hành các công việc dựa trên
quyền quyết định của Giám đốc.
* Các phòng ban
Công ty có 12 phòng ban, đây là hệ thống quản lý theo chức năng, thông qua
trưởng phòng đến từng nhân viên.
* Phòng đầu tư - phát triển
* Phòng vật tư
* Phòng công nghệ kỹ thuật
* Phòng tổ chức lao động tiền lương
* Phòng kế toán tài chính
* Phòng điều động sản xuất
* Ban nguồn
* Phòng marketing (trọng tâm tiếp thị)
* Phòng KCS
* Phòng kế hoạch kinh doanh
* Trung tâm bảo hành sản phẩm
* Phòng hành chính, bảo vệ
Qua cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty ta thấy công tác tổ chức quản lý tương đối
hợp lý nhằm chuyên môn hoá trong sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm,
phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Công ty có tới 3 trung tâm tiếp thị Bắc, Trung, Nam

tư: Tính lương trên cơ sở đơn giá tiền lương do phòng tổ chức lao động tiền lương gửi
lên, hạch toán lương và trích bảo hiểm, kinh phí công đoàn theo tỷ lệ quy định, thanh
toán lương, phụ cấp cho công nhân viên Công ty.
16
- Kế toán thành phẩm và tiêu thụ: Theo dõi tình hình nhập - xuất - tồn kho thành
phẩm trên cơ sở các chứng từ, xác định kết quả kinh doanh, theo dõi thuế gía trị gia tăng
đầu ra.
- Kế toán vật tư và thống kê tài sản: Theo dõi chi tiết, tổng hợp tình hình nhập -
xuất - tồn kho vật liệu, công cụ dụng cụ theo từng kho. Do đặc điểm sản xuất sản phẩm
của Công ty đòi hỏi nhiều chủng loại vật tư khác nhau nên công tác kế toán vật liệu có
khối lượng công việc khá lớn.
Hệ thống sổ kế toán của Công ty: Thông tin trên báo cáo đảm bảo độ tin cậy.
Hình thức và các chỉ tiêu trên báo cáo đúng theo chế độ kế toán quy định. Tuy nhiên
việc áp dụng hệ thống sổ kế toán theo hình thức NKCT chưa thực sự thống nhất.
Hiện nay, Công ty áp dụng hình thức kế toán NKCT nhưng hệ thống sổ kế toán
Công ty một số sử dụng theo hình thức nhật ký chung. Điều này có thể thuận tiện cho
công tác kế toán nhưng việc sử dụng không thống nhất sẽ gây khó khăn cho những
người có thẩm quyền khi tiến hành kiểm tra sổ sách của Công ty.
II. Phân tích thống kê TSCĐ và đầu tư dài hạn của công ty cổ phần thiết bị điện
1. Kết quả sản xuất kinh doanh trong những năm gần đây
Trong thời gian gần đây tình hình hoạt động của Công ty vẫn còn gặp nhiều khó
khăn do bỡ ngỡ và còn lúng túng trong cơ chế thị trường, sản phẩm trong nước chưa đáp
ứng được nhu cầu của người thành phố, thêm vào đó sản phẩm nội địa bị cạnh tranh
khốc liệt với hàng Trung Quốc, Thái Lan. Tuy vậy với sự nỗ lực của Ban Giám Đốc và
toàn thể cán bộ công nhân viên nên mọi người đều có việc làm ổn định, thu nhập cao,
doanh thu tăng đều qua các năm. Trên thực tế Công ty đã không ngừng đào tạo nguồn
lực, có các biện pháp khuyến khích người lao động cả về vật chất lẫn tinh thần nên ngân
sách lao động ngày càng cao dẫn đến chất lượng lao động ngày càng tăng. .
17
2. Thực trạng TSCĐ của công ty

86.996.061 79.9 87.996.545
80,06101.572.690 79,87
1.000.484 1.15
13.576.145 15,42
Tổng 108.894.987 100 109.938.003
100127.189.359 100
1.043.016 0.95
17.251.356 15,69
(Nguồn phòng Tài chính kế toán)
Qua bảng trên cho thấy TSCĐ của Công ty được hình thành từ ba nguồn chính: nguồn
ngân sách, tự bổ xung, nguồn khác. Tính đến ngày 31/12/2011 thì tổng nguồn TSCĐ là
127,189 tỷ đồng trong đó nguồn đóng góp của các cổ đông là chủ yếu, chiếm 79,87%.
Nguồn ngân sách chiếm 4,95%, còn nguồn tự bổ xung chiếm 15,18%. Điều này chứng
tỏ Công ty hoàn toàn chủ động không phụ thuộc nhiều vào nguồn Ngân sách cấp nên có
nhiều thuận lợi trong việc sản xuất kinh doanh. Trong thời gian tới Công ty cần huy
động nhiều TSCĐ hơn nữa để đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển.
3. Tình hình quản lý và sử dụng TSCĐ
3.1. Tình hình mua sắm TSCĐ
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì việc tăng cường đổi mới trang thiết bị
được coi là một lợi thế để chiếm lĩnh thị trường. Một hệ thống được trang bị máy móc
hiện đại, đồng bộ sẽ góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp đối
với các doanh nghiệp khác. Các doanh nghiệp trong ngành bưu chính viễn thông cũng
không nằm ngoài số đó. Nắm bắt được tình hình này Công ty cổ phần thiết bị Bưu Điện
đã nỗ lực cố gắng không ngừng để hoàn thiện và đổi mới trang thiết bị của mình.
18
Bảng II: Tình hình tăng giảm TSCĐ năm 2011
STT
Chỉ tiêu Số tiền
1 Nguyên giá TSCĐ đầu năm 127.189.561
2 TCSĐ tăng trong năm 17.982.469

- Do TSCĐ chuyển sang TSCĐ không cần dùng
- Do chuyển thành công cu dụng cụ
- Lý do khác
74.929.638
3.502.351
9.619.326
22.994.431
517.115
38.296.415
4. Số khấu hao lũy kế cuối năm 22.229.655
19
Qua bảng tổng hợp tăng giảm hao mòn TSCĐ của Công ty thì số tiền khấu hao luỹ
kế đầu năm của Công ty là 82.929.980 ngàn đồng, trong năm số khấu hao luỹ kế tăng
lên 14.227.313 ngàn đồng trong đó các lý do chính như: do trích khấu hao TSCĐ là
8.013.671 ngàn đồng, do trích khấu hao TSCĐ tăng mới là 763.733 ngàn đồng và một
số lý do khác là 5.431.909. Tuy nhiên số khấu hao luỹ kế giảm trong năm lại rất lớn
(74.929.638 ngàn đồng), trong đó do TSCĐ chuyển sang TSCĐ không cần dùng là
22.994.431 ngàn đồng, do góp vốn liên doanh 9.619.326 ngàn đồng và một số lý do
khác. Qua phân tích ở bảng V cho thấy TSCĐ của Công ty đã quá cũ kỹ, Công ty cần có
biện pháp đổi mới nhanh chóng để phục vụ sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn
4. Cơ cấu TSCĐ
Để có được đánh giá về cơ cấu TSCĐ của Công ty, ta sử dụng bảng số liệu sau:
Bảng IV cơ cấu TSCĐ của Công ty
Chỉ tiêu
Năm 2009
Năm 2010 Năm 2011
1.TSCĐ hữu hình
-Nguyên giá
-Hao mòn
-Giá trị còn lại

5.1. Tình hình trang bị TSCĐ
Bảng V: Tình hình trang bị TSCĐ
Chỉ tiêu Năm 2009
Năm 2010 Năm 2011
So Sánh
2010-2009 2011-2010
Nguyên gia TSCĐ(đ)
128.077.123
127.189.561 99.943.607
-887.562
-27.245.954
Số công nhân sx bình
quân (người)
650
601 586
-49
-15
Trình độ trang bị chung
T TSCĐ (đ/người)
222.169,5
211.629,9 170.552,2
-10.539,6
- 41.077,7
Qua bảng trên ta thấy: trình độ trang bị chung TSCĐ từng năm của Công ty có
chiều hướng giảm dần. Năm 2010 hệ số này đạt 211.629,9 (VNĐ/người), nhưng đến
năm 2011 hệ số này giảm xuống còn 170.552,2 (VNĐ/người), điều này có thể được lý
giải như sau:
- Năm 2009 nguyên giá TSCĐ bình quân là 127.189.561 ngàn đống, đến năm 2011
chỉ tiêu này giảm xuống còn 99.943.607 ngàn đồng (giảm 27.245.954 ngàn đồng).
- Số công nhân sản xuất giảm do một số cán bộ đã đến tuổi về hưu và trong thời gian

Do nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, từ năm 2010 Công ty đã tiến hành xây
dựng mới một số nhà xưởng phục vụ cho việc sản xuất các mặt hàng chủ yếu. Năm
2011 Công ty đã đầu tư xây mới và mua sắm TSCĐ với số tiền 1.814.546 ngàn đồng,
đến năm 2010 con số này tăng lên đáng kể (5.072.056 ngàn đồng).
Đồng thời với việc mở rộng quy mô, Công ty cũng đã không ngừng đầu tư cho
máy móc thiết bị dùng phục vụ cho sản xuất kinh doanh nhằm đưa ra thị trường những
sản phẩm chất lượng tốt, tính cạnh tranh cao. Năm 2010 Công ty đã đầu tư mua sắm
mới một số máy móc thiết bị với trị giá là 2.715.844 ngàn đồng, đến năm 2011 thì
con số này tăng lên mức 4.063.275 ngàn đồng.
Riêng đối với TSCĐ thuê tài chính Công ty cũng đã đầu tư xây mới với số tiền
822.988 ngàn đồng, tuy nhiên đến năm 2011 do chưa được tận dụng triệt để TSCĐ
thuê tài chính nên Công ty đã giảm số tiền này xuống còn 748.171 ngàn đồng.
5.4. Tình hình sử dụng TSCĐ
Bảng VI: Tình hình sử dụng TSCĐ
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011
So sánh
Chênh lệch %
Giá trị sản xuất công nghiệp 238.460.508 245.010.307 6.549.799 2,7
Doanh thu thuần 282.771.093 298.876.706 16.105.613 5,69
Tổng lợi nhuận trước thuế 21.030.798 18.067.416 -2.963.382 -5,9
Nguyên giá bình quân TSCĐ 127.189.561 99.943.607 -27.245.954 -8,57
Mức giá trị SXCN tính cho 1 đồng
NG
1,87 2,45 0,58 1,31
Mức doanh thu thuần tính cho 1
1đồng NGBQ
2,22 2,99 0,77 0,34
Mức lợi nhuận trước thuế tính
1 đcho 1 đồng NGBQ
0,165 0,18 0,015 0,9

nghề công nhân và nghiệp vụ của cán bộ quản lý để nâng cao năng suất lao động, nâng
cao chất lượng sản phẩm. Công ty luôn chứng tỏ là một đơn vị năng động và không
ngừng vươn lên thông qua các kết quả tăng trưởng đạt được. Với số vốn ban đầu của
tổng công ty cấp và được bổ sung từ lợi nhuận để lại hàng năm, Công ty đã mở rộng quy
23
mô sản xuất. Mặc dù vốn cố định có tỷ trọng thấp nhưng Công ty vẫn huy động tối
đa mọi nguồn lực để đầu tư đổi mới trang thiết bị, máy móc phương tiện vận tải
truyền dẫn, nhà xưởng… Trong năm 2010, Công ty đã tăng cường đầu tư cho TSCĐ
một khoản rất lớn: 78,054 tỷ đồng, tăng 22,244 tỷ đồng (23,49%) so với năm 2009. Các
loại máy móc hiện đại như máy cắt, đột dập, máy băng chuyền, các dây chuyền sản
xuất PVC cứng, dây chuyền phục vụ phân xưởng bưu chính cũng được đầu tư đổi mới.
Trong các phòng quản lý, Công ty hầu như trang bị toàn bộ máy vi tính, máy fax và các
máy móc chuyên dụng khác, giúp cho cán bộ quản lý làm việc hiệu quả hơn và công tác
giao dịch, tiếp cận khách hàng cũng thuận lợi hơn.
- Với bề dày gần 50 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành trong thời gian qua
toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty đã tự mình đạt được một bề dầy thành
tích đáng khích lệ. Nhờ đó Công ty đã hoà nhập tốt cơ chế thị trường mới, từng bước
nắm bắt được nhu cầu thị trường, cải tiến máy móc thiết bị, đào tạo tay nghề cho công
nhân và trình độ lãnh đạo của đội ngũ quản lý năng động sáng tạo. Phần lớn đội ngũ cán
bộ của Công ty là các kỹ sư về điện tử, tin học, vô tuyến điện, các cử nhân kinh tế và
Công ty hầu như không có lao động giản đơn.
* Những tồn tại:
Do sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đã làm sản phẩm bưu chính
viễn thông luôn thay đổi và để theo kịp với sản phẩm ngoại nhập Công ty phải đầu tư
liên tục và khấu hao nhanh khiến sản phẩm phải bán với giá cao mới có lãi hoặc chịu
giảm lợi nhuận, tăng tiêu thụ. Điều này gây áp lực với Công ty trong việc quản lý chặt
chẽ chi phí, Hơn nữa Công ty có nhập về một số vật tư từ nước ngoài nên chi phí
nguyên vật liệu lớn, từ đó cũng đội chi phí sản xuất của Công ty lên cao hơn…
Trong năm 2011 mặc dù có sự tăng lên trong đầu tư cho TSCĐ nhưng hiệu quả
sử dụng TSCĐ và vốn cố định có bị giảm sút. Điều này là do công suất của máy móc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status