MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUỐC TẾ HÓA CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VIỆT NAM 37
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIÚP CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VIỆT NAM THỰC HIỆN QUỐC TẾ HÓA
70
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHLB
CIEM
DN
GTGT
JICA
JBIC
NHNN
R&D
SMEs
SNV
TNHH
UNDP
Vốn ĐK
WEF
Cộng hòa liên bang
Viện Nghiên cứu Kinh tế quản lý trung ương
Doanh nghiệp
hiện chiếm 97% tổng số doanh nghiệp cả nước, đóng góp hơn 40% vào GDP và
đang ngày càng khẳng định vai trò không thể thiếu của mình trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội của đất nước
1
.
Tuy nhiên, trong xu thế hiện nay, quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa đã bước
sang một giai đoạn phát triển mới với tốc độ hết sức nhanh chóng và sâu sắc, nền
kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đã tạo ra không ít
cơ hội cho các doanh nghiệp nói chung và những doanh nghiệp vừa và nhỏ nói
riêng, mặt khác lại đặt các doanh nghiệp vào tình thế phải cạnh tranh khốc liệt hơn.
Là thành phần kinh tế chủ yếu của nước ta, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần ý
thức được tầm quan trọng của việc quốc tế hóa đối với bản thân họ nói riêng và đối
với đất nước nói chung, cũng như những cơ hội và thách thức mà họ phải đối mặt
trong quá trình quốc tế hóa. Việc quốc tế hóa và hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ
đòi hỏi có sự thay đổi mạnh mẽ từ phía chính phủ, mà còn đòi hỏi có sự thay đổi cơ
bản trong chính các doanh nghiệp vừa và nhỏ để nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình, nhằm tận dụng các cơ hội và giảm thiểu các thách thức có thể xảy ra.
Xuất phát từ thực tiễn đó, em đã chọn đề tài “Thực trạng quốc tế hóa của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam” cho bài khóa luận của mình.
1
Báo Đảng Cộng sản Việt Nam: />co_id=30066&cn_id=372691#tgdkLvQqQliT
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận phân tích tình hình quốc tế hóa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Việt Nam trong thời gian qua, trên cơ sở đó tập hợp và đề xuất một số kiến nghị
nhằm tiếp tục khuyến khích và thúc đẩy quá trình quốc tế hóa của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận là lý luận và thực trạng quốc tế hóa
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
Chính phủ về trợ giúp và phát triển SMEs quy định SMEs là “Những đơn vị sản
xuất, kinh doanh độc lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có mức
vốn đăng ký không quá 10 tỷ VND và/hoặc số lao động trung bình hàng năm
không quá 300 người”.
Theo Nghị định này, đối tượng được xác định là SME bao gồm các doanh
nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, các hợp tác xã thành lập và
hoạt động theo luật hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số
109/2004/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Như vậy, tất cả các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong
hai tiêu thức về lao động hoặc vốn được đưa ra trong Nghị định này đều được coi là
SME.
Tuy nhiên, ngày 30 tháng 6 năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Nghị định
số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ với hai điểm mới
nổi bật: một là Nghị định đưa ra định nghĩa mới về SMEs, hai là việc thành lập Quỹ
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Điều 3 của Nghị định định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: “doanh
nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định
pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn
vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối
3
kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là
tiêu chí ưu tiên). Cụ thể như sau:
Quy mô
Khu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
III. Thương
mại và dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến 50
người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50 tỷ
đồng
từ trên 50
người đến 100
người
Kết hợp với bảng phân loại, có thể thấy theo Nghị định, doanh nghiệp nhỏ và
vừa được phân chia dựa theo các tiêu chí: quy mô về vốn, quy mô về số lao động và
khu vực, trong đó quy mô về nguồn vốn được chú trọng hơn. Đây cũng chính là sự
bất hợp lý trong phân loại bởi lẽ tổng nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn
của chủ sở hữu và vốn huy động dưới các hình thức khác nhau, trong khi vốn chủ
sở hữu là tương đối ổn định, được ghi nhận trong điều lệ doanh nghiệp và giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh thì vốn huy động lại thường xuyên biến động. Do
nhau, tuy nhiên chúng vẫn có những yếu tố chung nhất định.
Các nước trên thế giới có các tiêu chí khác nhau để xác định SMEs. Các tiêu chí
đó thường không cố định mà cũng thay đổi tùy theo ngành nghề và trình độ phát
triển trong từng thời kỳ. Ví dụ như ở Đài Loan: Các doanh nghiệp trong lĩnh vực
sản xuất, chế tạo có từ 1 tới 200 lao động được coi là SME, trong khi các doanh
nghiệp trong ngành thương mại – dịch vụ có từ 1 tới 50 lao động. Ở Nhật Bản,
SMEs trong ngành sản xuất chế tạo có từ 1 đến 300 lao động và số vốn kinh doanh
không vượt quá 300 triệu Yên, còn SMEs trong ngành thương mại dịch vụ có số lao
5
động không quá 100 người với số vốn kinh doanh không quá 100 triệu Yên. Ngược
lại ở Mỹ, chỉ có một tiêu chí xác định chung cho SMEs là số lao động không quá
500 người.
1.1.2.2. Tiêu chí xác định SMEs của Việt Nam
Trước năm 1998, Việt Nam chưa có một văn bản pháp luật chính thức nào quy
định tiêu chuẩn cụ thể của SMEs. Giai đoạn này, mỗi một tổ chức đưa ra một quan
niệm riêng về SME nhằm định hướng mục tiêu và đối tượng hỗ trợ hoạt động của tổ
chức mình. Chẳng hạn, tiêu chuẩn SMEs mà Ngân hàng Công thương Việt Nam
đưa ra là những doanh nghiệp có giá trị tài sản dưới 10 tỉ đồng, vốn lưu động dưới 8
tỉ đồng, doanh thu dưới 8 tỉ đồng và số lao động thường xuyên dưới 500 người, tồn
tại dưới bất kỳ hình thức sở hữu nào. Thành phố Hồ Chí Minh lại phân các doanh
nghiệp ra thành doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ, trong đó những doanh
nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỉ đồng, doanh thu hàng năm trên 10 tỉ đồng và lao
động thường xuyên có trên 100 người là những doanh nghiệp có quy mô vừa.
Những doanh nghiệp dưới mức tiêu chuẩn đó là các doanh nghiệp nhỏ. Tổ chức
UNIDO tại Việt Nam lại xác định doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50
lao động, tổng số vốn và doanh thu dưới 1 tỉ đồng, doanh nghiệp vừa là các doanh
nghiệp có số lao động từ 51 đến 200 người, tổng số vốn và doanh thu từ 1 tỉ đến 5
tỉ.
Với định nghĩa về SME được đề cập trong Nghị định 90, Việt Nam đã đưa ra hai
tiêu chí quan trọng nhất là lao động và vốn đăng ký để xác định SMEs, tuy nhiên
giữa các vùng lãnh thổ để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh quy mô
doanh nghiệp giữa các vùng khác nhau.
Tính lịch sử: Trải qua các thời kỳ khác nhau, nền kinh tế của các quốc gia cùng
có những giai đoạn hưng thịnh và suy tàn khác nhau. Một doanh nghiệp lớn trước
đây có thể được coi là vừa hoặc nhỏ trong hiện tại hoặc tương lai và ngược lại. Như
vậy, các tiêu chí phân loại SMEs cũng cần thay đổi theo thời gian cho phù hợp.
1.2. Đặc điểm chung và vai trò của SMEs
1.2.1. Đặc điểm chung của các SMEs [4] ,[10]
Qua việc phân tích các quan niệm về SME của các nước trên thế giới ở trên,
chúng ta có thể thấy hầu hết các nước coi SME là một loại hình doanh nghiệp được
7
phân biệt trên khía cạnh quy mô nhiều hơn mà không phải theo hình thức sở hữu.
Hầu hết SMEs hoạt động trong các ngành thương mại, dịch vụ sử dụng nhiều lao
động. Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, SMEs có những đặc điểm nhất
định trong quá trình hình thành và phát triển. Nhìn chung, SMEs có một số đặc
điểm cơ bản sau:
* Về các điểm mạnh:
- SME dễ khởi sự: Chỉ với một số vốn ít, số lao động không nhiều, diện tích mặt
bằng nhỏ, các điều kiện làm việc đơn giản và một ý tưởng kinh doanh khả thi, hầu
hết SMEs đều có thể dễ dàng bắt đầu. Việc tạo nguồn vốn kinh doanh thường là
một khó khăn lớn đối với các doanh nghiệp,tuy nhiên để khởi nghiệp, SMEs gần
như không đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn ngay trong giai đoạn đầu; do đặc tính
tốc độ quay vòng vốn nhanh nên SMEs có thể huy động vốn từ nhiều nguồn không
chính thức khác nhau như bạn bè, người thân để nhanh chóng biến ý tưởng kinh
doanh thành hiện thực.
- SMEs rất năng động và linh hoạt: Với quy mô vừa và nhỏ, hầu hết SMEs đều
rất năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh
doanh. Trong một số trường hợp nhất định, SMEs còn có thể đón đầu những thay
đổi của thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội, hay các dao động đột biến trên
thị trường. Tính năng động này tạo cho SMEs khả năng tìm kiếm những thị trường
và hiệu quả đạt được trong công việc cũng được nâng cao. Đặc biệt là mối quan hệ
gần gũi, thân thiện đó rất phù hợp với văn hóa của người Châu Á nói chung và của
người Việt Nam nói riêng.
- SMEs dễ dàng đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp.
Do nguồn vốn kinh doanh ít nên SMEs thường đầu tư vào các tài sản cố định
cũng ít, vì thế việc tiến hành đổi mới trang thiết bị cũng dễ thực hiện hơn so với các
doanh nghiệp có quy mô lớn với nhiều tài sản cố định. Tuy nhiên, điều kiện cơ sở
vật chất hạn chế không có nghĩa là hoạt động kém hiệu quả. Với chiến lược phát
triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ vẫn có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như sản xuất
được hàng hóa chất lượng tốt và có sức cạnh tranh cao trên thị trường.
9
- SMEs thường sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới hoặc những lĩnh vực có
mức độ rủi ro cao.
So với những doanh nghiệp lớn, SMEs có quy mô nguồn vốn nhỏ, lượng lao
động sử dụng ít nên có khả năng mạo hiểm hơn. Vì trong trường hợp thất bại thì
thiệt hại đối với SMEs cũng không quá nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể
khôi phục dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, với quy mô nhỏ hơn, nếu SMEs hoạt động
trong cùng lĩnh vực với các doanh nghiệp lớn thì rất khó có thể cạnh tranh được,
nhất là trong sản xuất dây chuyền hàng loạt; do vậy SMEs sẽ dễ dàng chấp nhận
đầu tư vào những lĩnh vực mới. Ở những lĩnh vực đó, SMEs sẽ có cơ hội để cạnh
tranh và phát triển hơn.
* Về các điểm yếu:
Bên cạnh các điểm mạnh được nêu ra ở trên, SMEs cũng có các điểm yếu nhất
định:
- Với quy mô nguồn vốn và lao động nhỏ, SMEs chỉ có thể thực hiện những hoạt
động kinh doanh nhỏ mà thiếu nguồn lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn
hoặc các dự án đầu tư lớn hay mở rộng thị trường.
- Mặc dù quy mô nhỏ và tài sản cố định ít phần nào giúp cho việc đổi mới công
nghệ của SMEs được tiến hành dễ dàng hơn, nhưng việc đầu tư công nghệ mới hoặc
cung cấp cho xã hội một khối lượng đáng kể hàng hóa và dịch vụ, làm tăng GDP cả
nước, góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập trong xã hội, xóa đói giảm nghèo,
tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư của dân cư địa phương, làm cho nền kinh tế năng
động và hiệu quả hơn. Mức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế quốc gia của
SMEs được thể hiện ở mức độ thu hút lao động, vốn đầu tư, tạo ra giá trị gia tăng
trong nền kinh tế.
Hiện nay, vai trò của SMEs được thể hiện ở cả khía cạnh kinh tế và xã hội.
1.2.2.1. Về khía cạnh kinh tế
- SMEs đóng góp vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, góp phần làm tăng GDP.
SMEs hoạt động trong nhiều lĩnh vực, cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng
hóa và dịch vụ khác nhau, đáp ứng nhu cầu sản xuât và tiêu dùng trong nước. Theo
số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2009, SMEs đã đóng góp
11
trên 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của cả nước. Ngoài ra, SMEs Việt Nam
còn cung cấp hầu hết sản phẩm trong nhiều ngành công nghiệp truyền thống thu hút
nhiều lao động như giày dép, chiếu cói, … Từ thực tế trên có thể thấy việc mở rộng
và phát triển SMEs sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm tăng GDP.
- SMEs giúp nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả hơn.
Trong quá trình kinh doanh, nhiều SMEs có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn
kinh doanh một cách hiệu quả hơn như làm đại lý và vệ tinh cho các doanh nghiệp
lớn, cung cấp những bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp lớn
hoặc thâm nhập vào ngõ ngách thị trường mà doanh nghiệp lớn khó có thể với tới
để phân phối các sản phẩm của doanh nghiệp. Ngoài ra, nhờ hoạt động với quy mô
vừa và nhỏ, SMEs có ưu thế là chuyển hướng kinh doanh nhanh từ những ngành
nghề kém hiệu quả sang các ngành khác hiệu quả hơn, thỏa mãn nhu cầu linh hoạt
của dân cư. Chính sự phát triển đó của SMEs đã làm tăng tính cạnh tranh, tính linh
hoạt và giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế.
- SMEs giúp thu hút vốn và khai thác các nguồn lực sẵn có trong dân cư.
Vốn là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, vốn giúp khai thác và phối hợp
các yếu tố sản xuất khác như lao động, đất đai, công nghệ và quản lý để tạo ra lợi
động trong nhiều lĩnh vực và ở những địa bàn khác nhau, do đó việc phát triển
SMEs sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất cả các khía cạnh vùng kinh
tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Trước tiên, đó là sự thay đổi cơ cấu kinh tế
vùng nhờ sự phát triển của các khu vực nông thôn thông qua phát triển các ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xóa dần tình trạng thuần
nông và độc canh. Các công ty lớn thường bỏ qua các khu vực vùng sâu, vùng xa,
vùng kém phát triển vì cho rằng nguồn lợi thu được từ đó không lớn bằng nguồn lợi
thu được từ nơi khác, hay nói cách khác là chi phí cơ hội của vùng đó cao. Tuy
nhiên đối với SMEs thì chi phí cơ hội của các vùng này là chấp nhận được, hơn nữa
họ sẽ không phải cạnh tranh với những tập đoàn lớn như ở các khu đồng bằng, đô
thị. Vì vậy họ sẵn sàng làm việc ở đây nếu có các chính sách ưu đãi thích hợp của
chính quyền địa phương. Nhờ vậy, các doanh nghiệp được phân bổ đều hơn về lãnh
thổ ở cả nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng. Bên cạnh đó, sự phát triển
mạnh của SMEs còn có tác dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự
13
tăng mạnh của các cơ sở ngoài quốc doanh và việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà
nước. Sự phát triển SMEs cũng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông
qua sự đa dạng hóa các ngành nghề và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo. Việc phát
triển SMEs còn có tác dụng duy trì và thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề
truyền thống và sản xuất ra các sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc, khai thác
thế mạnh của đất nước.
- SMEs là cơ sở để hình thành các doanh nghiệp lớn.
Phần lớn các công ty và tập đoàn kinh tế đa quốc gia trên thế giới đều trưởng
thành từ SMEs. Với cách xem xét đó, SMEs chính là nguồn tích lũy ban đầu và là
lồng ấp cho các doanh nghiệp lớn. Do còn thiếu kinh nghiệm và chưa thật hiểu biết
về thị trường nên hầu hết các cơ sở dân doanh ở Việt Nam khi mới ra đời thường
lựa chọn quy mô kinh doanh vừa và nhỏ để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh. Sau một
thời gian tích lũy thêm vốn, kinh nghiệm và khẳng định được vị thế của mình trên
thị trường, họ mới tiến hành mở rộng kinh doanh và phát triển với quy mô lớn hơn.
Ngoài ra SMEs còn là lồng ấp, đào tạo tay nghề và trau dồi kinh nghiệm cho các
nền nông nghiệp thuần nông. Việc phát triển SMEs ở nông thôn là một trong các
biện pháp cơ bản góp phần tăng nhanh thu nhập của các tầng lớp dân cư. Thông qua
việc phát triển SMEs, lao động ở nông thôn sẽ được thu hút vào các doanh nghiệp,
nhờ đó mà thu nhập của dân cư được đa dạng hóa và nâng cao hơn. Công việc ở
những doanh nghiệp này sẽ giúp cho cuộc sống của người dân nông thôn sẽ ổn định
hơn và mức sống của dân cư sẽ được nâng cao, góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm
khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng mức độ công bằng trong
nền kinh tế. Hơn nữa, do có tính năng động và linh hoạt, khi SMEs phát triển sẽ tạo
điều kiện phát huy lợi thế của mỗi vùng, phát triển các ngành và các khu công
nghiệp tạo điều kiện giảm bớt khoảng cách kinh tế giữa các vùng trên toàn quốc,
xóa bỏ mức chênh lệch về thu nhập rất lớn giữa các vùng dân cư.
- SMEs tạo điều kiện phát triển các tài năng kinh doanh.
Ngoài các vai trò như đã nói ở trên, SMEs Việt Nam còn có vai trò trong việc
phát triển các tài năng kinh doanh. Trong nhiều năm qua, đội ngũ cán bộ kinh doanh
đã gắn với cơ chế bao cấp, chưa có kinh nghiệm làm việc nhiều trong nền kinh tế thị
trường. Với quy mô nhỏ, tính cạnh tranh chưa cao SMEs có tác dụng đào tạo, chọn
15
lọc và thử thách đội ngũ doanh nhân. Sự ra đời của SMEs làm xuất hiện nhiều tài
năng trong kinh doanh, đó là các doanh nhân thành đạt biết cách làm giàu cho bản
thân mình và cho xã hội. Bằng sự tôn vinh những doanh nhân giỏi, kinh nghiệm
quản lý của họ sẽ được nhân ra và truyền bá tới những doanh nhân khác trong xã
hội dưới nhiều kênh thông tin khác nhau, qua đó sẽ tạo ra thêm nhiều tài năng mới
cho đất nước. Như vậy, SMEs có vai trò không nhỏ trong việc đào tạo lớp doanh
nhân mới ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới.
- SMEs giúp giữ gìn, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống, bảo vệ
bản sắc dân tộc.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các ngành nghề truyền thống
đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệu của những sản phẩm được sản xuất
hàng loạt. Để có thể cạnh tranh được với những xí nghiệp sản xuất hàng loạt, những
người thợ thủ công không thể đương đầu một cách riêng lẻ, thay vào đó, họ phải
cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế được nâng cao rõ rệt. Thế kỷ 20, sản
xuất vật chất tạo ra của cải gấp 15 lần thế kỷ 19, lớn hơn toàn bộ khối lượng của cải
vật chất của 2000 năm trước cộng lại. Điều này cho thấy hoạt động kinh tế trong
giai đoạn hiện nay phát triển mạnh mẽ và rộng lớn như thế nào. Tính chất và trình
độ xã hội hóa của lượng sản xuất ngày càng cao, đã và đang tiếp tục phá vỡ rào cản
giữa các quốc gia, giao lưu kinh tế đang mở rộng trên quy mô toàn cầu.
Nền kinh tế thế giới chỉ có thể hình thành và hoạt động hiệu quả trên cơ sở trình
độ dân trí và trình độ người lao động được nâng cao. Trình độ nhận thức và năng
lực tổ chức quản lý điều hành sản xuất, phân công lao động xã hội được mở rộng
trên quy mô toàn thế giới.
Nền kinh tế thế giới đang thay đổi nhanh chóng với một số đặc trưng cơ bản như
sau:
- Sự phát triển chưa từng có của phân công lao động quốc tế và các công ty
xuyên quốc gia. Một trong những lực lượng thúc đẩy quá trình phân công lao động
quốc tế theo chiều sâu là các công ty xuyên quốc gia. Để tồn tại và phát triển trong
sự cạnh tranh quốc tế, các công ty xuyên quốc gia đã thực hành phương châm kinh
doanh là lấy thế giới làm công xưởng, các nước làm kho hàng, thông qua việc phân
công quốc tế để phát huy ưu thế của mình.
17
- Tốc độ tăng trưởng của mậu dịch quốc tế cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế.
- Quy mô lưu động vốn quốc tế tăng lên nhanh chóng. Lưu thông quốc tế về
nguồn vốn đạt tới quy mô chưa từng có.
- Các lĩnh vực hợp tác kinh tế trên thế giới không ngừng được mở rộng. Hợp tác
kinh tế được mở rộng về mậu dịch, từ đầu tư đến việc chuyển nhượng và bảo hộ sở
hữu trí tuệ, chuyển dịch sức lao động đều trở thành những nội dung được quan tâm
trong hợp tác kinh tế thế giới.
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu
hết các lĩnh vực, thúc đẩy sự hợp tác và tăng sức cạnh tranh giữa các nước. Để có
thể tồn tại và phát triển được trong môi trường quốc tế với quy mô lớn và tính cạnh
tranh cao, các quốc gia nói chung và các doanh nghiệp nói riêng cần thiết phải tiến
triển kinh tế của toàn bộ nền kinh tế nói chung cũng như của doanh nghiệp nói
riêng. Vốn là yếu tố tiền đề để từ đó có thể kết hợp các yếu tố khác như lao động,
đất đai, công nghệ, quản lý. Vốn có vai trò lớn trong việc đầu tư trang thiết bị, cải
tiến công nghệ, nâng cao tay nghề cho người lao động và mở rộng quy mô sản xuất.
Bởi vậy, khi doanh nghiệp tiến hành quốc tế hóa thì yếu tố cần được quan tâm đầu
tiên là vốn. Để tiến hành quốc tế hóa, doanh nghiệp cần có một lượng vốn đáng kể
để cải tiến công nghệ, cải tiến sản phẩm cũ và sáng tạo ra các sản phẩm mới sao cho
phù hợp với nhu cầu của thị trường quốc tế chứ không chỉ riêng thị trường nội địa
như trước. Hơn nữa, sau khi sản xuất sản phẩm, doanh nghiệp sẽ mất một lượng vốn
lớn để xúc tiến, quảng cáo sản phẩm của mình tại thị trường ngoài nước.
Bởi vậy, một khi tiến hành quốc tế hóa, các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu
kỹ lưỡng nhau cầu vốn cần có và tăng cường đầu tư vốn. Tuy nhiên khó khăn về
vốn vẫn là tình trạng chung của các doanh nghiệp nước ta, đặc biệt là các SMEs.
Điều này không có gì là mới mẻ và cũng không xa lạ với các nước đang phát triển
như nước ta. Để có thể có đủ vốn cho quá trình quốc tế hóa, các doanh nghiệp cần
phải tiếp cận các nguồn tín dụng. Song đối với một nền kinh tế có khu vực tài chính
còn nhiều hạn chế như Việt Nam thì đó là một vấn đề không dễ giải quyết.
b. Tăng cường đổi mới công nghệ
Tiến bộ khoa học công nghệ đang dần trở thành yếu tố quan trọng nhất trong các
yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong xu thế quốc tế hóa,
19
toàn cầu hóa. Từ năm 2000, Diễn đàn kinh tế thế giới đã nâng trọng số cho yếu tố
khoa học công nghệ và sáng tạo kinh tế từ 1/9 lên 1/3, thể hiện ý nghĩa quan trọng
của yếu tố này
2
. Khoa học công nghệ quyết định phẩm cấp của sản phẩm, cũng như
năng suất lao động.
Một doanh nghiệp có năng lực công nghệ cao không chỉ là doanh nghiệp được
trang bị thiết bị máy móc hiện đại mà còn là doanh nghiệp có một đội ngũ cán bộ kỹ
thuật cũng như công nhân giỏi, doanh nghiệp có thể nhanh chóng nắm bắt và làm
d. Tiếp cận và tạo lập thương hiệu tại thị trường mới
Thương hiệu của doanh nghiệp là cảm nhận tổng thể về chất lượng, môi trường,
uy tín và giá trị đăng sau một cái tên, một cái logo của doanh nghiệp. Thương hiệu
cũng có thể coi như một phát ngôn viên của doanh nghiệp. Phát ngôn viên này đại
diện cho những gì đặc trưng, tinh túy của doanh nghiệp. Gắn với thương hiệu phải
là chất lượng, là uy tín. Thương hiệu là tài sản vô cùng giá trị và lâu bền của người
sở hữu. Nó là kinh nghiệm tích lũy mà người tiêu dùng nhận thức được về một công
ty, những con người tạo nên công ty đó và sản phẩm của nó. Tóm lại thương hiệu
không chỉ là cái tên doanh nghiệp, thương hiệu nói lên tất cả các yếu tố của doanh
nghiệp mà người ta cảm nhận được và ghi nhớ. Tạo dựng được thương hiệu, hình
ảnh của doanh nghiệp trong lòng người tiêu dùng là một vũ khí mạnh hơn bất kỳ
một phương pháp quảng cáo nào. Để có thể tồn tại và tồn tại một cách bền vững
trên thị trường quốc tế thì doanh nghiệp cần coi trọng việc duy trì và bảo vệ thương
hiệu của mình trên thị trường hiện tại, tiếp cận và tạo lập thương hiệu doanh nghiệp
trong lòng người tiêu dùng ở những thị trường ngoài nước.
1.3.2. Tác động của quốc tế hóa
Ngày nay, quốc tế hóa đã trở thành xu hướng tất yếu, là con đường mà Việt
Nam nói riêng và các doanh nghiệp nói chung đang hướng tới. Quá trình này sẽ có
tác động rất phức tạp đến nền kinh tế của nước ta cũng như tới các doanh nghiệp, có
cả những tác động tích cực lẫn tác động tiêu cực, mang lại cả thời cơ lẫn thách thức
cho chúng ta. Vì thế chúng ta cần nắm bắt rõ con đường này sẽ thay đổi chúng ta
như thế nào để có thể thích nghi và phát triển tốt.
21
1.3.2.1. Đối với nền kinh tế nói chung
Quốc tế hóa sẽ thúc đẩy rất mạnh, rất nhanh sự phát triển và xã hội hóa của các
lực lượng sản xuất, quá trình đó có thể đưa lại sự tăng trưởng kinh tế cao do hoạt
động giao thương diễn ra trên quy mô rộng hơn, cách thức và hàng hóa cũng đa
dạng hơn. Nó sẽ góp phần làm chuyển biến cơ cấu kinh tế của quốc gia. Quốc tế
hóa sẽ giúp truyền bá, chuyển giao trên quy mô ngày càng lớn những thành quả mới
mẻ, những đột phá sáng tạo về khoa học và công nghệ, về tổ chức và quản lý, về