Trình bày quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện quyết định quản lý - Pdf 13

Câu 05: Trình bày quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện quyết định quản lý. Phân tích một
quyết định tại địa phương ?
BÀI LÀM
Một trong những chức năng của quản lý là ra quyết định quản lý. Quyết định quản lý liên
quan đến thành bại, đến hiệu quả cao thấp của toàn bộ quá trình quản lý. Quyết định quản lý
được coi là sản phẩm của người lãnh đạo quản lý, người lãnh đạo thể hiện tài năng của mình là
ở khâu ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản lý. Vì vậy, để có quyết định chính
xác, đúng đắn, khả thi và hiệu quả, người quản lý phải nắm vững các đặc điểm, vài trò và yêu
cầu của quyết định quản lý, phương pháp xây dựng và tổ chức thực hiện quyết định một cách
khoa học. Bằng những kiến thức về khoa học quản lý, chúng ta hãy phân tích làm rõ các nội
dung trên.
Quyết định quản lý là hành vi có tính chất chỉ thị do một cơ quan hay một người đưa ra
nhằm định hướng, tổ chức hoạt động của tập thể lao động thực hiện mục tiêu quản lý. Ra quyết
định là việc lựa chọn các mục tiêu cũng như nguồn lực và đề ra các phương pháp thực hiện để
đạt được mục tiêu đó.
Quyết định quản lý ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý bởi vì một quyết định đúng đắn,
kịp thời sẽ đem lại sự giàu có, phát triển ngược lại nếu quyết định sai và không đúng lúc có thể
gây trì trệ, ách tắt và nhiều khi dẫn đến phá sản. Mặt khác chu kỳ sống của một quyết định quản
lý thường trải qua 5 giai đoạn, để phát huy tối đa hiệu quả của quyết định, người lãnh đạo quản
lý phải lựa chọn và ra quyết định kịp thời ngay tại điểm quyết định phát huy tác dụng ở mức
cao nhất và phải thay đổi quyết định khi quyết định thể hiện sự trì trệ, kìm hãm sự phát triển.
Do quyết định quản lý là sản phẩm của chủ thể quản lý nên nội dung của nó thường chứa
đựng ý chí chủ quan của người quản lý chi phối như : cá tính, quan điểm, trình độ năng lực
nhận thức và vận dụng quy luật của người lãnh đạo quản lý. Cho nên, để đảm bảo cho các quyết
định quản lý có chất lượng thì khi đề ra các quyết định phải dựa trên các cơ sở khách quan. Đó
là : yêu cầu của quy luật khách quan tác động tới đối tượng quản lý; đặc điểm và xu thế phát
triển của đối tượng quản lý và điều kiện vật chất và thời gian có thể thực hiện quyết định. Quyết
định quản lý cũng mang những đặc điểm khác như : do chủ thể quản lý ban hành và chỉ đề ra
khi các vận đề đã chín muồi, quyết định hướng trực tiếp vào tổ chức, hoạt động của đối tượng
quản lý và có liên quan trực tiếp tới quá trình thu nhận, xứ lý thông tin, lựa chọn phương tiện
hoạt động và cuối cùng là phải được hình thành trên cơ sở hiểu biết quy luật và sự vận động

xác định mức độ ưu tiên (trọng số) cho từng tiêu chí đã đặt ra.
Giai đoạn chủ yếu : bước đầu tiên của giai đoạn này thực hiện thu thập thông tin để làm rõ
nhiệm vụ cần giải quyết (bao gồm những thông tin về môi trường, thị trường, công nghệ, thông
tin về các yếu tố mang tính chính trị :áp lực của nhóm lợi ích, nghiệp đoàn, nhà nước...). Trên cơ
sở các thông tin đã thu thập, nhà quản lý sẽ chọn và mời những chuyên gia, những nhà chuyên
môn sâu cùng tham gia xây dựng chính thức các nhiệm vụ và các phương án giải quyết vấn đề,
thực hiện việc phân tích, so sánh, đánh giá hiệu quả và khả năng đáp ứng của các phương án
đối với các mục tiêu mong đợi nhằm chọn ra phương án tối ưu và cuối cùng là ban hành quyết
định quản lý. Để chọn lựa phương án tối ưu, trước khi đưa ra quyết định cuối cùng, người lãnh
đạo quản lý cần thiết phải tham khảo ý kiến tập thể và các chuyên gia, bảo đảm tinh thần dân
chủ thực sự và tập trung đúng nghĩa. Mặt khác, trong thực tế khi ban hành một quyết định quản
lý, ít khi gặp những trường hợp vấn đề đặt ra hoàn toàn mới, do đó, người lãnh đạo trước khi ra
quyết định mới cần phải đánh giá lại nội dung và kết quả thực hiện của các quyết định cũ trên
cả 2 mặt : cái được và cái chưa được, phân tích nguyên nhân và những kinh nghiệm rút ra từ đó,
những yếu tố hợp lý nào cần phải được giữ lại. Kinh nghiệm thực tế cũng cho thấy rằng một
quyết định đúng đắn là quyết định có căn cứ và sự phân tích tình hình một cách cụ thể, không
chỉ phân tích tình huống mà còn phân tích xu hướng phát triển của vấn đề. Đối với những quyết
định mà đối tượng thực hiện và chịu sự tác động là lực lượng đông đảo trong xã hội thì khi
chuẩn bị ra quyết định quản lý, nhà quản lý phải quan tâm tới nhân tố xã hội ảnh hưởng tới quá
trình tổ chức thực hiện quyết định như: điều kiện thực hiện, trình độ nhận thức và phản ứng,
thái độ của người thực hiện, chính sách của Nhà nước, phát triển công nghệ, mục tiêu, thị
trường… Trong trường hợp ở phạm vi nhỏ, tính chất công việc đơn giản có thể cho phép người
lãnh đạo bỏ qua một số bước nào đó trong các bước kể trên.
Quá trình tổ chức thực hiện quyết định được bắt đầu kể từ khi quyết định được cấp thẩm
quyền phê duyệt. Bước đầu tiên trong quá trình này là lập kế hoạch triển khai thực hiện quyết
định, sau đó tổ chức tuyên truyền giải thích nội dung, mục đích, ý nghĩa của quyết định đến
những đối tượng thực hiện quyết định. Quá trình triển khai nội dung quyết định cần làm rõ các
vấn đề : thực hiện cái gì ? tại sao thực hiện ? ai thực hiện ? Thực hiện ở đâu ? thời gian thực
2
hiện ? và thực hiện bằng cách nào ? Việc tuyên truyền giải thích phải được thực hiện sâu rộng

- nhà ở tại đô thị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách đền bù, giải toả, quy
hoạch, chỉnh trang đô thị cũng như các quan hệ giao dịch khác của người dân (thế chấp, chuyển
nhượng ...). Rõ ràng việc gắn cả 2 quyền này vào cùng một giấy chứng nhận sẽ thuận tiện hơn
cho người dân khi thực hiện các quyền (chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp
vốn ...) và cũng phù hợp xu thế hình thành một thị trường bất động sản ở nước ta. Tuy nhiên
bản thân của 2 quyền này có những điểm khác nhau rất cơ bản : đó là đối với quyền sở hữu nhà
thì người chủ sở hữu có thể toàn quyền định đoạt tài sản của mình, họ có thể thế chấp, chuyển
nhượng, thừa kế phần tài sản này cho bất cứ đối tượng nào mà pháp luật không cấm, tuy nhiên
về quyền sử dụng đất đai thì khác, quyền của người sử dụng đất sẽ có những giới hạn nhất định,
do đó có những trường hợp có thể pháp luật về nhà ở, dân sự không cấm nhưng đối với pháp
luật đất đai thì không được phép chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp... Mặt khác, nội dung của
Nghị định còn giao cho cả 2 ngành Xây dựng và Địa chính trong phạm vi chức năng của mình
3
tổ chức thực hiện, mỗi ngành với nhân lực và nội dung quản lý riêng nên ban hành hướng dẫn
lại chưa thống nhất. Do đó, Nghị định này còn hạn chế về tính khoa học và tính thống nhất.
Về tính khả thi, tính toàn diện và tính linh hoạt thì thực tế cho thấy rằng phương án tổ chức
thực hiện mà Nghị định đưa ra là phải có sự phối hợp của cả hai cơ quan xây dựng và địa chính
cùng thực hiện, quản lý hồ sơ lưu và bản lưu giấy chứng nhận cũng ở cả hai đơn vị, điều này
trên thực tế gây rất nhiều phiền hà cho người dân vì khi có thay đổi nội dung trên giấy chứng
nhận thì phải đến cả 2 cơ quan để xác nhận. Mặt khác, do mỗi cơ quan chức năng quản lý khác
nhau nên cơ quan nào cũng muốn giấy chứng nhận phải thể hiện đầy đủ những thông tin mình
cần quản lý, điều đó càng làm cho quy trình thực hiện khó khăn hơn nhiều. Lực lượng thực hiện
của 2 bên cũng không đồng nhất nên cùng một nhà và đất ấy phải đo vẽ nhà đất 2 lần. Ngoài ra,
có rất nhiều hồ sơ nhà đất chưa đủ điều kiện cấp giấy nên để được hợp thức hóa cấp giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì người dân phải cùng một lúc phải nộp một
khoản tiền khá lớn vừa nhà, vừa đất. Bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng có khi chủ nhà hợp
pháp về đất nhưng do nhà xây dựng lấn chiếm không gian hoặc xây dựng trái phép và không
phù hợp với quy hoạch nên không được cấp quyền sở hữu nhà, do đó người chủ nhà này cũng
không được cấp GCN. Từ những vướng mắc trên cho thấy rằng tính khả thi và tính toàn diện
của Nghị định là rất thấp và sau 10 năm ban hành cả nước cũng chỉ mới cấp được không quá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status