LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
LỜI NÓI ĐẦU
Nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý là đòi hỏi khách quan đối với
các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Đây là một vấn đề hết sức phức
tạp và có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi lẽ những đối tượng của nó là những
người làm việc trong lĩnh vực quản lý, những người làm công tác chuẩn bị và
lãnh đạo hoạt động sản xuất kinh doanh về mọi mặt, mà hoạt động lao động của
họ có tác dụng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chung của doanh
nghiệp, ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu quản lý.
Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý trong doanh nghiệp là nhằm hoàn
thiện quá trình sản xuất kinh doanh với chất lượng cao, tiết kiệm tối đa thời
gian lao động, sử dụng có hiệu quả các yếu tố cấu thành của quá trình kinh
doanh, đồng thời làm cho bộ máy quản lý năng động, gọn nhẹ, hoạt động nhịp
nhàng và đạt hiệu quả cao.
Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý không phải là một việc làm đơn giản,
mà nó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu một cách kỹ lượng dựa trên những luận cứ
khoa học. Hoàn thiện tổ chức lao động, phối hợp và sử dụng lao động một cách
hợp lý và có hiệu quả là một vấn đề lớn và có ý nghĩa quan trọng trong phát
triển kinh tế và tăng năng suất lao động.
Ở nước ta ngành Bưu chính - Viễn thông đã có từ khá lâu, song Công ty
dịch vụ viễn thông chỉ mới ra đời cách đây vài năm. Do vậy, phần lớn bộ máy
quản lý các đơn vị thuộc Công ty còn nhiều mặt hạn chế và kém năng động.
Việc hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý các đơn vị này có ý nghĩa quan trọng
cho sự phát triển của Công ty dịch vụ viễn thông.
Trung tâm dịch vụ viễn thông khu vực I là đơn vị trực thuộc Công ty,
cũng như nhiều đơn vị khác, bộ máy quản lý còn nhiều tồn tại cần giải quyết.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài: “ Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý ở
Trung tâm dịch vụ viễn thông khu vực I” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp.
Nội dung của bài viết này bao gồm các phần chính như sau:
Chương 1: Lý luận cơ bản và ý nghĩa của việc hoàn thiện tổ chức bộ
của hệ thống.
Quản lý con người gồm nhiều chức năng phức tạp. Bởi vì con người chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố: yếu tố sinh lý, yếu tố tâm lý, yếu tố xã hội... Các
33
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
yếu tố này luôn tác động qua lại hình thành nhân cách con người. Vì vậy, muốn
quản lý tốt, con người phải vừa là một nhà tổ chức, vừa là nhà tâm lý, vừa là
nhà xã hội, vừa là nhà chiến lược.
Do đó, có thể kết luận rằng quản lý đóng một vai trò rất quan trọng trong
việc phối hợp các hoạt động mang tính chất cộng đồng nói chung và mỗi hoạt
động sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp nói riêng để đạt hiệu quả
tối ưu.
1.1.1.2. Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là những hoạt động riêng biệt của quản lý, thể hiện
những phương pháp tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm
thực hiện những mục tiêu quản lý.
Việc phân loại chức năng quản lý nhằm làm cho quá trình quản lý được
trọn vẹn ở từng chức vụ quản lý, ở từng cấp quản lý trong doanh nghiệp. Nó tạo
điều kiện để xác định khối lượng công việc và số lượng lao động quản lý, từ đó
làm cơ sở để tổ chức bộ máy theo hướng chuyên tinh, gọn nhẹ, công tác quản
lý được tiến hành có khoa học và phân bố lao động một cách hợp lý.
Có hai cách phân loại chức năng quản lý như sau:
Theo nội dung quá trình quản lý, quản lý được chia thành 5 chức năng
sau:
• Chức năng dự kiến (kế hoạch hóa): Là dự đoán có căn cứ khoa học sự
phát triển có thể xảy ra của quá trình phát triển sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, từ đó lập ra kế hoạch hành động cho doanh nghiệp.
• Chức năng tổ chức: Là kết hợp, liên kết các bộ phận riêng rẽ trong
doanh nghiệp thành một hệ thống, kết hợp các yếu tố sản xuất với nhau để tiến
Bộ phận quản lý bao gồm các chức năng quản lý, đội ngũ cán bộ nhân
viên quản lý, các phương tiện quản lý và hệ thống các phương tiện quản lý.
Bộ phận bị quản lý bao gồm hệ thống các phân xưởng, các bộ phận sản
xuất, hệ thống máy móc thiết bị, các phương tiện công nghệ.
Hai bộ phận này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn
nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất. Có thể minh họa mối quan hệ giữa chủ
thể quản lý và đối tượng quản lý qua sơ đồ sau:
77
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
Chủ thể quản lý
Đối tượng quản lý
Các mục tiêu Mối quan hệ ngược
Chủ thể quản lý trên cơ sở các mục tiêu đã xác định, tác động lên đối
tượng quản lý bằng những quyết định quản lý của mình và thông qua hành vi
quản lý - mối quan hệ ngược mà chủ thể quản lý có thể điều chỉnh quyết định
đưa ra.
Trong mỗi một tổ chức, một doanh nghiệp khi được thành lập đều có bộ
phận chịu trách nhiệm điều hành những công việc thuộc phạm vi chuyên môn
của bộ phận đó và tổng thể các bộ phận chuyên trách như vậy đã tạo nên bộ
máy quản lý doanh nghiệp.
1.1.2. Lao động quản lý
1.1.2.1. Khái niệm
Theo C.Mác: “ Lao động quản lý là một dạng lao động đặc biệt của lao
động sản xuất, để hoàn thành các chức năng sản xuất khác nhau, cần thiết phải
có quá trình đó ”.
Lao động quản lý là những cán bộ quản lý đang làm việc trong các đơn
vị sản xuất kinh doanh; có nhiệm vụ điều hành sản xuất, trao đổi, mua bán một
số loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, đồng thời
tạo công ăn việc làm và thu nhập cho cả tập thể đơn vị mình.
1111
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
1.1.2.3. Chức năng của lao động quản lý
Lao động quản lý bao gồm các chức năng sau:
+ Nhân viên quản lý kỹ thuật: Là những người được đào tạo ở các trường
kỹ thuật hoặc đã được rèn luyện trong thực tế sản xuất, có trình độ tương
đương được cấp trên thừa nhận bằng văn bản, đồng thời phải là người trức tiếp
làm công tác kỹ thuật, trực tiếp chỉ đạo hướng dẫn kỹ thuật trong doanh nghiệp.
Loại này bao gồm:
- Giám đốc hoặc Phó Giám đốc kỹ thuật, Quản đốc hoặc Phó quản đốc
phụ trách kỹ thuật, Trưởng phòng và Phó phòng, Ban kỹ thuật.
- Các kỹ sư, kỹ thuật viên, nhân viên làm ở phòng kỹ thuật.
+ Nhân viên quản lý kinh tế: Là những người làm công tác tổ chức, lãnh
đạo, quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như:
- Giám đóc hoặc Phó Giám đốc phụ trách về kinh doanh, Kế toán trưởng.
- Các cán bộ, CNV công tác ở các phòng, ban, bộ phận như: kế toán, tài
vụ, kế hoạch, thống kê, lao động - tiền lương...
Ngoài ra, nếu phân theo vai trò thực hiện chức năng quản lý, lao động
quản lý được chia thành:
+ Cán bộ lãnh đạo: Là những người lao động quản lý trực tiếp thực hiện
chức năng lãnh đạo. Bao gồm: Giám đốc, Phó Giám đốc, Quản đốc, Phó quản
đốc, các Trưởng ngành, Đốc công, Trưởng và Phó các phòng ban trong bộ máy
quản lý doanh nghiệp.
Nói tóm lại, cán bộ lãnh đạo là những người lao động quản lý được chính
thức giao quyền hạn và trách nhiệm điều khiển những người khác hoàn thành
công tác.
+ Các chuyên gia: Là những lao động thực hiện công việc chuyên môn,
không thực hiện chức năng lãnh đạo trực tiếp. Bao gồm: các cán bộ kinh tế, kỹ
thuật viên, cán bộ thiết kế và các cộng tác viên khoa học (nếu có) hoạt động của
Thứ tư, Phải đảm bảo chuyên tinh, gọn nhẹ và có hiệu lực.
1515
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
1.1.4. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
1.1.4.1. Khái niệm
Nếu hiểu một cách khái quát nhất, cơ cấu phản ánh sự cấu tạo và hình
thức bên trong của một hệ thống. Một trong những nội dung đầu tiên và rất
quan trọng của tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp là xác định cơ cấu tổ chức
bộ máy quản lý.
Cơ cấu bộ máy quản lý là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ
và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa, được giao những nhiệm
vụ nhất định và được bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện chức năng quản lý hệ
thống. Cơ cấu bộ máy quản lý được hình thành bởi các bộ phận quản lý và các
cấp quản lý.
Hiểu một cách khác, cơ cấu là sự phân chia tổng thể ra các bộ phận nhỏ
hơn theo những tiêu thức chất lượng khác nhau. Những bộ phận đó thực hiện
từng chức năng riêng biệt nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau phục vụ mục
tiêu chung của tổ chức.
Tổ chức là một chỉnh thể hoạt động tương đối độc lập, riêng rẽ, có mục
tiêu riêng, có bộ phận hợp thành.
Tổ chức là sự liên kết những cá nhân, những quá trình hoạt động trong
hệ thống nhằm hoàn thiện mục đích đề ra của hệ thống, dựa trên cơ sở các
nguyên tắc, quy tắc quyết định quản trị.
1.1.4.2. Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Lý thuyết và thực tế quản trị doanh nghiệp đã hình thành nên nhiều cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý theo nhiều cấp khác nhau, mỗi kiểu cơ cấu gọi là
một hệ thống cơ cấu tổ chức doanh nghiệp. Mỗi hệ thống cơ cấu tổ chức trong
doanh nghiệp là sự phân chia các cấp quản trị mà ở đó các nơi làm việc được
phân cấp với nhau theo quan hệ phân quyền (uỷ quyền), ra mệnh lệnh. Mối
- Quy trách nhiệm rõ ràng, cho phép giải quyết công việc nhanh chóng, gọn nhẹ.
- Duy trì tính kỷ luật và kiểm tra.
- Người lãnh đạo chịu hoàn toàn trách nhiệm về các kết quả hoạt động
của cấp dưới quyền.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chế độ “ thủ trưởng”.
Nhược điểm:
- Để cơ cấu này phát huy được thì đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến
thức toàn diện, tổng hợp mọi vấn đề, có có quyết đoán.
- Không sử dụng được người có trình độ chuyên môn cấp dưới.
- Không tận dụng được sự tư vấn của các chuyên gia.
- Khi cần thiết liên hệ giữa các thành viên của các tuyến thì việc báo cáo
thông tin đi theo đường cong.
2/ Hệ thống cơ cấu chức năng:
Hệ thống cơ cấu chức năng hay còn gọi là hệ thống cơ cấu nhiều tuyến,
được Taylor xây dựng trong phạm vi phân xưởng. Trong phân xưởng người lao
động nhận nhiệm vụ không phải từ cấp trên (đốc công) mà nhiều cấp khác
nhau, trong đó mỗi cấp trên có một chức năng quản lý nhất định. Với tư cách
thiết lập mối quan hệ giao nhận nhiệm vụ như thế, hệ thống cơ cấu chức năng
đã bỏ qua tính thống nhất của giao nhận nhiệm vụ. Có thể mô tả cơ cấu này qua
sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Hệ thống cơ cấu chức năng
Người lãnh đạo chức năng A
Người lãnh đạo chức năng B
Người lãnh đạo
Người lãnh đạo chức năng C
Đối tượng quản lý
Đối tượng quản lý
2121
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
n¨ng
¨
ăng A
Người lãnh đạo chức năng B
Người lãnh đạo chức năng C
Người lãnh đạo cấp 2
Người lãnh đạo chức năng A
Người lãnh đạo chức năng B
Người lãnh đạo chức năng C n
Ng-êi l·nh ®¹o chøc
n¨ng
ăng
Đối tượng quản lý
Đối tượng quản lý
Đối tượng quản lý
2525
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
Ở đây lãnh đạo tổ chức được sự giúp đỡ của các phòng ban chức
năng trong việc ra quyết định để hướng dẫn, điều khiển và kiểm tra,
truyền mệnh kệnh theo tuyến đã được quy định. Người lãnh đạo các
phòng, ban chức năng không có quyền ra quyết định cho người thừa hành
ở các tuyến.
Ưu điểm:
- Tận dụng được ưu điểm của hai loại cơ cấu trực tuyến và chức năng.
- Phát huy được năng lực chuyên môn của các bộ phận chức năng.
- Đồng thời vẫn đảm bảo quyền chỉ huy của hệ thống trực tuyến.
Nhược điểm:
- Do có quá nhiều bộ phận chức năng nên lãnh đạo tổ chức thường phải
họp hành nhiều, gây căng thẳng và lãng phí thời gian.
- Nếu tham mưu tốt sẽ giúp người lãnh đạo ra quyết định hợp lý, ngược
lại nếu tham mưu không có năng lực, không có trình độ sẽ gây trở ngại và nguy
hiểm.
2929
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
1.1.4.3. Những phương pháp hình thành cơ cấu tổ chức quản lý doanh
nghiệp
Xác định phân cấp đúng đắn chức năng quản lý và nắm vững kiến thức
về các kiểu cơ cấu là tiền đề để hoàn thiện cơ cấu tổ chức hiện có cũng như
hình thành, xóa bỏ hay sửa đổi một cơ cấu tổ chức nào đó nếu thiếu sự phân
tích khoa học, theo ý muốn chủ quan, phiến diện thường gây ra nhiều tai hại.
Yêu cầu tối thiểu trước khi hình thành một doanh nghiệp là phải xác định
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh một cách rõ ràng, dự kiến số cán bộ đủ để hoàn
thành nhiệm vụ và xác định đúng vị trí của bộ phận mới này trong hệ thống bộ
phận đã có của doanh nghiệp .
Qua lý luận và thực tiễn hoàn thành cơ cấu đến nay đã hình thành nhiều
quan điểm và cơ cấu tổ chức quản lý. Sau đây là những quan điểm hình thành
cơ cấu tổ chức quản lý:
Quan điểm 1: Việc hình thành cơ cấu tổ chức quản lý bao giờ cũng bắt
đầu từ việc xác định mục tiêu và phương hướng phát triển. Trên cơ sở này việc
tiến hành tập hợp các yếu tố của cơ cấu tổ chức và xác lập mối quan hệ qua lại
giữa các yếu tố đó. Quan điểm này đi từ tổng hợp đến chi tiết, được ứng dụng
với các cơ cấu tổ chức hiện đang hoạt động.
Quan điểm 2: Việc hình thành cơ cấu tổ chức quản lý phải bắt đầu từ việc mô
tả chi tiết hoạt động của tất cả các đối tượng quản lý và xác lập các mối liên hệ
thông tin rồi sau đó mới hình thành cơ cấu tổ chức quản lý. Quan điểm này đi từ chi
tiết đến tổng hợp và được ứng dụng trong việc hình thành cơ cấu tổ chức mới.
Quan điểm 3: Việc hình thành cơ cấu tổ chức theo phương pháp hỗn hợp,
tức là sự kết hợp một cách hợp lý cả hai quan điểm trên. Trước hết phải đưa ra
năng, nhiệm vụ và mối quan hệ);
- Quy định hoạt động của cơ cấu tổ chức quản lý (điều lệ,
nội quy, quy chế);
Đối với việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức đang hoạt động, cần phải bắt đầu
nghiên cứu kỹ lượng cơ cấu hiện tại và tiến hành đánh giá hoạt động của nó
3333
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
theo những căn cứ nhất định. Cơ cấu tổ chức quản lý và các bộ phận của nó
thường được biểu thị dưới dạng sơ đồ. Từ đó sẽ chỉ rõ quan hệ phụ thuộc của
từng bộ phận và từng chức năng mà nó phải thi hành.
1.1.5. Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức bộ máy quản
lý doanh nghiệp
1.1.5.1. Vai trò của bộ máy quản lý
Quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp đều thực hiện
những mục tiêu nhất định, đòi hỏi phải có lực lượng điều hành toàn bộ quá
trình tổ chức thực hiện. Đó chính là lực lượng quản lý doanh nghiệp và hình
thành nên bộ máy quản lý doanh nghiệp. Để đảm bảo sự thống nhất, ăn khớp
trong điều hành tổ chức kinh doanh thì mỗi doanh nghiệp ít nhất phải có một
thủ trưởng trực tiếp chỉ đạo lực lượng quản lý, thưc hiện nhiệm vụ bố trí, sắp
xếp nhân viên quản lý cho phù hợp vào từng nhiệm vụ cụ thể, đảm bảo sự phối
hợp nhịp nhàng giữa các thành viên trong cơ cấu, nhằm khai thác khả năng
chuyên trí sáng tạo của mỗi thành viên trong việc thực hiện các mục tiêu đã đề
ra như năng suất, chất lượng hạ giá thành, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp ...
Như vậy, trong mỗi doanh nghiệp nếu không có bộ máy quản lý thì không có
một lực lượng nào có thể tiến hành nhiệm vụ quản lý, ngược lại không có quá
trình tổ chức nào được thực hiện nếu không có bộ máy quản lý
Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết tới phân công và hiệp tác
lao động. C.Mác đã coi việc xuất hiện của quản lý là kết quả tất yếu của sự
chuyển đổi nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập thành một quá
Xuất phát từ mục tiêu của doanh nghiệp, xác định các lĩnh vực hoạt
động cần quản lý, từ đó sẽ hình thành sự phân cấp quản lý giữa các phòng
ban chức năng. Mỗi phòng ban chức năng đảm nhận một chức năng riêng
3737
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
biệt và chịu sự điều tiết, chi phối của lãnh đạo doanh nghiệp. Nội dung
này bao gồm:
1/ Phân tích và xây dựng các chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
chức năng
Căn cứ vào các đặc trưng khác nhau mà phân chia nhiệm vụ cho các
phòng ban chức năng. Các nhiệm vụ và đối tượng cùng loại được tập hợp vào
cùng một phòng ban, nhưng thực hiện các công việc không giống nhau. Chẳng
hạn, người phụ trách lĩnh vực kinh tế của doanh nghiệp có thể thực hiện nhiều
công việc khác nhau như: công tác kế hoạch hóa, công tác nghiên cứu thị
trường, công tác mua sắm và công tác tiêu thụ sản phẩm... Nếu sắp xếp vào
cùng một phòng ban số nhiệm vụ thì phòng ban đó sẽ thực hiện một số loại
công việc nhưng trên các đối tượng khác nhau, như công tác kế hoạch hóa
nhưng ở các cấp khác nhau (cấp doanh nghiệp, cấp phân xưởng cấp ngành, tổ
sản xuất và từng nơi làm việc).
2/ Phân công chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng phòng ban
Việc phân chia chức năng nhiệm vụ của mỗi phòng ban xuất phát từ
nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó sẽ chia thành nhiều bộ phận
đảm nhận các chức năng khác nhau, sự liên kết các bộ phận đó sẽ xuất hiện sự
phân công lao động và một trình tự hoạt động của doanh nghiệp.
Nhiệm vụ xây dựng bộ máy quản lý là phân chia nhiệm vụ chung của
doanh nghiệp thành nhiều nhiệm vụ bộ phận ở các cấp quản lý khác nhau, sau
đó liên kết các nhiệm vụ bộ phận đó hình thành từng phòng ban cụ thể. Mỗi
phòng ban sẽ thực hiện một nhiệm vụ xác định.
Để đạt được điều đó bước đầu cần phân tích nhiệm vụ, rồi tổng hợp các
làm giảm bộ máy quản lý cấp cao nhất của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trách
nhiệm quản lý của nhân viên dưới quyền đòi hỏi phải có nghệ thuật quản lý con
người cao hơn so với việc tập trung quyền lực ở một số ít người. Bên cạnh đó
nó cũng đòi hỏi số lượng lớn lao động chuyên môn có đầy đủ điều kiện để đảm
4141
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
đương nhiệm vụ đó. Mặt khác phi tập trung cũng dẫn đến nguy cơ sự thiếu trật
tự trong doanh nghiệp, do đó thiếu bao quát của lãnh đạo doanh nghiệp và sự
chia nhỏ giới hạn nhiệm vụ. Ngoài ra, các nguyên tắc này không phát huy được
các ưu điểm hợp lý hóa của phân chia lao động.
b) Tổng hợp nhiệm vụ
Là phối hợp các bộ phận nhiệm vụ đã được hình thành trong khuôn khổ
phân tích nhiệm vụ sao cho làm xuất hiện các đơn vị lao động (phòng, ban) và
xâu nó thành cơ cấu tổ chức doanh nghiệp. Với ý nghĩa đó mỗi phòng ban là
một tế bào của cơ cấu tổ chức doanh nghiệp nói chung và tổ chức bộ máy quản
lý nói riêng. Nó tập hợp nhiệm vụ bộ phận vào lĩnh vực lao động và nhiệm vụ
cho một người lao động.
Không có câu trả lời chung cần bao nhiêu nhiệm vụ bộ phận và loại
nhiệm vụ nào cho một phòng ban độc lập. Mục tiêu của việc thành lập phòng
ban là tính toán nhiệm vụ cùng loại mà người phụ trách và nhân viên trong
phòng ban đó có thể đảm nhận đươc. Hạn chế của phương pháp này là tính đơn
điệu có thể hạn chế hứng thú của nhân viên trong mỗi phòng ban.
Như vậy việc xây dựng phòng ban từ đó tạo ra các bộ phận trong bộ máy
quản lý doanh nghiệp sao cho thù hợp với tính chất hoạt động của mỗi doanh
nghiệp được dựa trên phân tích và tổng hợp nhiệm vụ.
1.1.6.2. Lựa chọn cơ cấu bộ máy quản lý
Trên cơ sở đòi hỏi về quy mô, cơ cấu, đặc điểm ngành nghề kinh doanh,
mức độ phức tạp của môi trường kinh doanh mà doanh nghiệp tiến hành xác
định cơ cấu bộ máy quản lý. Cơ cấu phải hợp lý và có tính hệ thống, tạo thành
a) Công tác tuyển chọn
Con người vừa là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vừa vận hành tổ
chức và quyết định sự thắng bại của tổ chức. Do vậy, con người là nguồn
lực quan trọng nhất đối với bất kỳ tổ chức nào để nó hoạt động có hiệu
4545
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành
Kinh tế lao động
quả. Sự thành công của một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều phụ thuộc
vào yếu tố hiệu suất của người lao động.
Lao động, đặc biệt là lao động quản lý là lực lượng quyết định phần
lớn sự thành công của doanh nghiệp. Việc tuyển chọn nhân viên bổ sung
vào lực lượng quản lý là một việc làm hết sức quan trọng. Việc tuyển
chọn lao động quản lý không chỉ căn cứ vào năng lực, trình độ quản lý mà
còn phải dựa trên tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị.
Tuyển chọn đúng người, đúng việc bổ sung vào những chỗ còn trống
và khuyết thiếu trong doanh nghiệp là một việc làm hết sức khó khăn.
Trước hết doanh nghiệp cần xác định những vị trí còn trống và khuyết
thiếu trong các phòng ban chức năng trong bộ máy quản lý của doanh
nghiệp để bổ sung lao động quản lý. Nguồn này có thể xuất phát từ thị
trường lao động, nội bộ doanh nghiệp, doanh nghiệp khác và các trường
đại học. Từ đó doanh nghiệp xây dựng nên các tiêu chuẩn cho đối tượng
cần tuyển chọn của mình.
Hình thức tuyển chọn có thể theo các phương pháp: trắc nghiệm, phỏng
vấn hoặc kết hợp cả hai. Qua các cuộc thi này doanh nghiệp sẽ sàng lọc ra các
lao động quản lý phù hợp nhất với những chức vụ còn thiếu trong doanh
nghiệp.
b) Công tác thuyên chuyển - đề bạt:
Thuyển chuyển người lao động nhằm kích thích khả năng giỏi nhiều
nghề và linh hoạt. Mục đích cốt yếu của việc thuyên chuyển là nâng cao hiệu
quả trong công việc đạt tới mục tiêu và hoàn thiện tổ chức doanh nghiệp. Tuy
họ khi được bố trí vào một công việc mới gắn với quyền hạn và trách nhiệm họ
phải đảm nhận; doanh nghiệp sẽ tiến hành đề bạt lao động quản lý dưới các
hình thức: Đề bạt thẳng hay đề bạt ngang, để nhằm khuyến khích tăng hiệu quả
toàn diện của tổ chức và hỗ trợ sự phát triển toàn diện nguồn lực quản lý cho
toàn doanh nghiệp nói chung và bộ máy quản lý nói riêng.
4949