Bộ văn hóa-thể thao và du lịch
Vụ gia đình báo cáo tổng kết đề tài kh&cn cấp bộ
đánh giá thực trạng năng lực
chăm sóc, giáo dục trẻ em của các
gia đình khu vực nông thôn phía bắc
chủ nhiệm đề tài: ngô thị ngọc anh
1. Quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước liên quan đến bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 16
2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về nâng cao năng lực cho các bậc cha
mẹ trong việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ
em 17
3. Hệ thống văn bản chính sách liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em 18
4. Nhận xét về hệ thống văn bản chính sách của Đảng và Nhà nước đối với
vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 19
III. Các yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, kỹ năng của các gia đình trong
công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo d
ục trẻ em 19
CHƯƠNG II. KẾT QUẢ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH BẢO VỆ, CHĂM
SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH TẠI ĐỊA BÀN 23
I. Thông tin chung về người trả lời 23
1. Tuổi 23
2. Giới tính 23
3. Dân tộc, tôn giáo người trả lời 24
4. Học vấn 24
5. Nghề nghiệp 25
6. Tình trạng hôn nhân 25
7. Số thế hệ và số thành viên trong gia đình 26
8. Điều kiện sống của các gia đình 26
II. Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia
đình: 31
2
1. Vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ 31
1.1. Về bảo vệ trẻ em 31
5.3. Việc tiếp cận thông tin của cha mẹ v
ề giáo dục trẻ em 109
III. Nhu cầu của các bậc cha mẹ trong việc nâng cao năng lực về bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em 116
1. Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng 116
2. Nhu cầu được cải thiện các điều kiện sống 125
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 128
I. Những phát hiện chính: 128
II. Kết luận: 131
III. Khuyế
n nghị: 132
1. Với Nhà nước 132
2. Với cơ quan quản lý nhà nước về gia đình: 133
3. Với các cơ quan giáo dục xã hội: 133
4. Với các gia đình: 134
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÁO 135
PHỤ LỤC 1 : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA BÀN KHẢO SÁT 137
3
I. Tỉnh Hà Tây 138
1. Huyện Quốc Oai 138
2. Xã Đồng Quang 139
3. Xã Sài Sơn 140
II. Tỉnh Hòa Bình 141
1. Huyện Yên Thủy 142
2. Xã Yên Lạc 142
3. Xã Hữu Lợi 144
III. Tỉnh Thái Bình 146
1. Huyện Kiến Xương 146
2. Xã Thanh Tân 147
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi con người sinh ra và lớn lên, nơi thế
hệ trẻ được chăm lo cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức và nhân cách để hội nhập
vào cuộc sống cộng đồng xã hội. Tuy không phải là thiết chế duy nhất có vai
trò bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhưng môi trường gia
đình bao giờ
cũng là môi trường quan trọng nhất. Bởi bản chất của việc bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em xuất phát từ tình thương yêu không tính toán, từ trách
nhiệm gìn giữ nòi giống, duy trì và phát triển truyền thống văn hoá gia đình
và của dân tộc.
Trong gia đình, trẻ được truyền thụ những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ
năng sống qua chính thực tế cuộc sống, qua những thành viên trong gia đ
ình.
Vì vậy, những kiến thức, kỹ năng trẻ học được thường gắn với những tình
huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Có thể coi gia đình là trường học
đầu tiên, là môi trường nuôi dưỡng, giáo dục đặc biệt đối với sự phát triển của
trẻ. Vì vậy, trong ba lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục trẻ, chúng ta
có thể khẳng định gia đình giữ vị trí trung tâm. Điều đó xuất phát t
ừ những
đặc trưng của giáo dục gia đình.
Cùng với quá trình phát triển của đời sống xã hội, chức năng bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em của gia đình cũng dần biến đổi. Sự biến đổi này
nền sản xuất cũng như đời sống văn hoá xã hội, phong tục tập quán của người
dân. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực có lịch sử văn hoá lâu đời – xuất thân từ
cái nôi văn hoá vùng đồng bằng sông Hồng do vậy những kiến thức dân gian
có ảnh hưởng nhiề
u tới việc chăm sóc và giáo dục trẻ em. Và tại một số vùng,
một số địa phương, việc tiếp cận những kiến thức và kỹ năng mới trong việc
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn hạn chế. Điều này dẫn tới việc các
gia đình gặp khó khăn trong việc tiếp nhận nội dung và phương pháp phù hợp
trong chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em.
Đề tài "Đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ em của
các gia đình khu vực nông thôn phía Bắc" nhằm tìm hiểu thực trạng kiến
thức, kỹ năng trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của các gia đình
tại khu vực này, đồng thời tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, kỹ
năng của các gia đình, từ đ
ó xác định các nhu cầu đối với việc được nâng cao
kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ để đề xuất giải
pháp nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em cho các
gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Ở nước ngoài:
Hầu hết các nước, dù là ở vùng
địa lý, văn hoá khác nhau nhưng đều
thống nhất chung một quan điểm rằng môi trường tốt nhất để bảo vệ, chăm
sóc và nuôi dưỡng trẻ em là gia đình. Trên thế giới, rất nhiều công trình
nghiên cứu, ấn phẩm đã được xuất bản với nội dung cung cấp những kiến
thức, kỹ năng cho các bậc cha mẹ làm tốt việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ
em. N
ăm 1989, nhà xuất bản Doubleday – Anh xuất bản cuốn “Vì sao cha mẹ
tốt mà con lại hư” – “Why good parents have bad kids” của tác giả E. Kent
Hayes đã đề cập tới việc để có một người con khoẻ mạnh, có ích và thành đạt
12 năm 2005). Tại hai diễn đàn này, các nước tham gia thu
ộc các châu lục đã
khẳng định: "gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội, có vị trí và vai trò rất quan
trọng trong việc nuôi dưỡng, hình thành nhân cách của mỗi người".
2.2. Ở Việt Nam:
Trong một vài năm gần đây đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu
có liên quan đến vấn đề năng lực của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em. Tiêu biểu là một số công trình nghiên cứ
u sau:
Đề tài “Vị trí, vai trò của gia đình trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc,
giáo dục trẻ em” do GS.TS. Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm. Đề tài tiến hành
trong 02 năm từ 1999-2000 và trên các tỉnh thuộc 3 khu vực Bắc, Trung,
Nam. Kết quả nghiên cứu đã khái quát được thực trạng việc chăm sóc sức
khoẻ cho trẻ em về ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, về tiêm chủng, nhận thức
đúng về trách nhi
ệm của gia đình phải chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em. Đồng
thời một vấn đề quan trọng cũng đã được các tác giả đề cập đến đó là sự
quan tâm của gia đình đối với các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí. Tuy
7
nhiên, đề tài chưa đi sâu nghiên cứu về vai trò của gia đình trong việc chăm
sóc, giáo dục trẻ em, nhất là việc đề xuất các mô hình hoạt động nâng cao
kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của gia đình.
Đề tài “Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong
gia đình và cộng đồng sau 10 năm đổi mới” do PGS.TS. Lê Khanh làm chủ
nhiệm. Đề tài tiến hành đ
iều tra 579 gia đình, 175 cán bộ và triển khai tại Bắc
Kạn, Phú Thọ, Thái Bình, Hà Nội, ngoài ra còn sử dụng một số số liệu nghiên
cứu tại các địa bàn như Bến Tre, TP. Hồ Chí Minh. Đề tài đã đánh giá được
thực trạng nhận thức của gia đình, cán bộ về công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo
các chính sách thực hiện cho trẻ em trong các gia đình nghèo và trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để các em có thể tiếp cận các dịch vụ chăm sóc
8
giáo dục mầm non miễn phí. Tuy nhiên, dự án chủ yếu mới chỉ tìm hiểu về
thực trạng tình hình chăm sóc và giáo dục trẻ thơ, và có hỗ trợ cho các gia
đình nghèo, khuyến nghị miễn phí học cho các cháu. Vấn đề tìm hiểu về năng
lực, các kỹ năng chăm sóc, giáo dục con cái của các bậc cha mẹ vẫn còn
chưa được nghiên cứu sâu.
Nhìn chung, các dự án, đề tài đã tiến hành nghiên cứu mới chỉ d
ừng lại
ở các khía cạnh khác nhau về vai trò, vị trí, biện pháp của gia đình trong việc
chăm sóc, giáo dục trẻ em. Chưa có dự án, đề tài nào nghiên cứu chuyên biệt,
đi sâu tìm hiểu vấn đề năng lực của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ
em. Thêm nữa, cho tới nay, chưa có một mô hình nào được xây dựng nhằm
cung cấp và nâng cao kiến thức, kỹ năng cho các gia đình, giúp các gia đình
thực hiện tốt hơn chứ
c năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
3. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em của các gia đình tại một số tỉnh thuộc khu vực nông thôn phía Bắc
nhằm xây dựng mô hình củng cố và nâng cao kiến thức, kỹ năng cho các gia
đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dụ
c trẻ em thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em của các gia đình. Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng kiến
thức và kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình.
huyện, mỗi huyện chọn 2 xã để khảo sát nghiên cứu.
- Tại Hà Tây: xã Sài Sơn và xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai.
- Tại Hòa Bình: xã Yên Lạc và xã Hữu Lợi, huyện Yên Thủy.
- Tại Thái Bình: xã Thanh Tân và xã Bình Nguyên, huyện Kiến Xương.
* Thời gian nghiên c
ứu:
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7 năm 2007 đến tháng 6 năm 2008.
6. Phạm vi nghiên cứu
Kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một vấn
đề có phạm vi rộng. Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên
cứu làm rõ thực trạng kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em của các gia đình cũng như xác định các yếu tố ảnh h
ưởng tới thực trạng
này theo các chỉ báo đã được xây dựng. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp can
thiệp nhằm củng cố và nâng cao kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em trong các gia đình.
7. Phương pháp nghiên cứu:
7.1.Phương pháp phân tích tài liệu:
- Tổng hợp và phân tích hệ thống các quan điểm, chính sách về giáo
dục gia đình; kiến thức, kỹ năng bảo vệ, ch
ăm sóc, giáo dục trẻ em của các
gia đình ở trên thế giới và Việt Nam.
- Tổng hợp và phân tích hệ thống các công trình nghiên cứu, các kết
quả điều tra khảo sát, các báo cáo tổng hợp về tình hình kinh tế xã hội chung
của địa bàn nghiên cứu. Tổng quan các kết quả nghiên cứu khoa học đã được
thực hiện có liên quan đến đề tài để đánh giá được những thành tựu, hạn chế
của đề tài và vấ
n đề nghiên cứu đặt ra.
10
thể
d. Xử lý số liệu
Số liệu thô được nhập bằng chương trình Epidata sau đó chuyển sang
chương trình SPSS For Windows 13.0 (Statistic Package for Social Sience) để
xử lý và phân tích số liệu. Số liệu sau khi xử lí được biểu thị dưới dạng bảng
tần số và bảng tương quan, cùng một số chỉ số thống kê được rút ra theo yêu
cầu cần phân tích, lý giải của đề tài.
Các t
ư liệu định tính thu được qua các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận
nhóm được tổng hợp, phân tích.
11
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
8.1. Về lý luận
- Hệ thống hoá các quan điểm về vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em trong gia đình; các lực lượng tham gia vào quá trình này. Đặc biệt tập
trung nghiên cứu sâu các quan điểm của Đảng và hệ thống các văn bản chính
sách của Nhà nước Việt Nam liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em.
- Góp phần làm rõ hệ
thống khái niệm: bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trong điều kiện xã hội công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nông thôn khu vực
đồng bằng sông Hồng hiện nay.
8.2. Về thực tiễn
- Nhận diện thực trạng kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em trong gia đình khu vực nông thôn phía Bắc.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng bảo vệ
, chăm
Khái niệm trẻ em đã được đề cập trong Tuyên bố Giơnevơ (1924) và
Tuyên bố của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em (1959), Tuyên bố thế giới về
quyền con người (1968), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
(1966) và nhiều công ước quốc tế khác. Trẻ em là một thuật ngữ
nhằm chỉ
một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự
phát triển con người. Đó là những người chưa trưởng thành, còn non nớt về
thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể
cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước c
ũng như sau khi ra đời. Về vị
thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội
nhập xã hội với tư cách là những chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng là
đối tượng cần được gia đình và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục. Theo điều 1 của Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, "Trẻ em có
nghĩa là người dưới 18 tuổi, tr
ừ trường hợp Luật pháp áp dụng với trẻ em đó
có quy định tuổi thành niên sớm hơn".
Tại Việt Nam, khái niệm trẻ em cũng được đề cập tại nhiều văn bản
pháp quy như: Luật Phổ cập giáo dục, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động, Bộ
luật dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em Tuỳ thuộc vào t
ừng luật và căn cứ vào quyền lợi và nghĩa vụ tốt
nhất của trẻ em mà các văn bản này xác định độ tuổi đối với trẻ em có sự khác
biệt. Quy định trẻ em là "công dân Việt Nam dưới 16 tuổi" sẽ tạo điều kiện
để tập trung hơn cho những đối tượng thuộc nhóm tuổi nhỏ. Tuy nhiên, trong
thực tiễn hoạt động, lứa tuổi 16 - 18 vẫn c
ần được coi là trẻ em. Vì đây là lứa
tuổi thuộc nhóm vị thành niên mà công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em cần đặc biệt quan tâm.
2. Bảo vệ trẻ em
Giáo d
ục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo
dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách,
những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức
cho họ các hoạt động và giao lưu.
5. Các lực lượng tham gia chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em
- Nhà trường: Nhà trường là một thiết chế chăm sóc, bảo vệ và giáo dục
chuyên biệt, có những đặc trưng như:
Mang tính ý th
ức (tự giác) và có mục đích rõ ràng; được tổ chức và
diễn ra theo kế hoạch đào tạo xác định.
Nội dung chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trong nhà trường được chọn lọc
một cách khoa học, cơ bản và sắp xếp có hệ thống. Đó là những giá trị văn
hoá của nhân loại và của dân tộc được thể hiện dưới dạng hệ thống các tri
thức về tự nhiên, xã h
ội và con người; hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo; hệ thống
các thái độ và niềm tin Nội dung được truyền thụ và lĩnh hội bằng hệ thống
phương pháp và phương tiện mang tính khoa học. Mặc dù, hoạt động chủ đạo
trong nhà trường cũng phụ thuộc vào từng cấp học nhưng trong ba nội dung:
chăm sóc, bảo vệ và giáo dục thì nội dung giáo dục mang tính chủ đạo.
Hoạt
động chăm sóc, bảo vệ và giáo dục của nhà trường do giáo viên
và các cán bộ quản lý nhà trường tổ chức và thực hiện. Trẻ em (học sinh) là
14
chủ thể của hoạt động giáo dục, trong quan hệ hợp tác thầy - trò. Hoạt động
của hai loại chủ thể này quy định lẫn nhau trong quá trình đi đến mục tiêu xác
định.
- Gia đình: Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là một trong những
chức năng cơ bản của gia đình. Đặc biệt, do sự phát triển của xã hội, nhất là
bảo vệ trẻ em, Hội đồng giáo dục các cấp, các tổ chức xã hội và đoàn thể
phục vụ cho nhà trường, qua các hoạt động ngoài nhà trường, các hoạt động
tham quan, cắm trại
- Mối quan hệ giữ
a các lực lượng: Mục đích của gia đình và xã hội (bao
gồm cả nhà trường) là thống nhất với nhau. Song mục tiêu chăm sóc, bảo vệ
và giáo dục của gia đình rất linh hoạt và thay đổi theo thời gian, phụ thuộc
15
vào sự biến đổi và phát triển của trẻ, vào sự vận động và phát triển của xã hội
xung quanh, vào chính cuộc sống của gia đình và những định hướng giá trị
của gia đình.
Mặc dù không có một chương trình, kế hoạch nhất định được soạn thảo
thành văn bản như ở nhà trường, nhưng chăm sóc, bảo vệ và giáo dục gia đình
có nội dung hết sức phong phú, kéo dài mãi trong cuộ
c sống của trẻ.
Trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì ba lực lượng
trên đều tham gia và nhằm tới một mục đích chung đó là xây dựng một lực
lượng lao động hội tụ đầy đủ các yếu tố đức và tài, đủ năng lực đáp ứng nhu
cầu phát triển của xã hội.
6. Gia đình
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về gia đình tuỳ thuộc vào t
ừng
giai đoạn lịch sử; tuỳ thuộc từng góc độ nghiên cứu, xem xét; tuỳ thuộc
hướng tiếp cận.
“Gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự
phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em” (Liên hiệp quốc:
Tuyên bố về tiến bộ xã hội trong phát triển của Liên hiệp quốc).
“Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở
các quan hệ hôn
tình cảm, quyền lợi, trách nhiệm và có những ràng buộc có tính pháp lý được
Nhà nước thừa nhận, bảo vệ (khi xã hội có nhà nước).
Những đặc trưng cơ bản của gia đình: Là một đơn vị xã hội đặc biệt
được hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi
dưỡng; Thực hiện các chức n
ăng sinh học, kinh tế, văn hoá, xã hội, tín
ngưỡng ; Các thành viên quan hệ với nhau trên cơ sở những định ước, quy
định rõ ràng về sự được phép, sự cấm đoán; Các thành viên có mối liên hệ với
nhau về tình cảm, quyền lợi, trách nhiệm; Các thành viên có những ràng buộc
có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận, bảo vệ.
Với những đặc trưng cơ bản như vậy, rõ ràng gia đình có vị trí, vai trò
đặc biệt quan trọ
ng không chỉ đối với bản thân mỗi con người mà còn đối với
cả quốc gia và toàn xã hội.
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, gia đình thực hiện
nhiều chức năng như: sinh đẻ, phát triển kinh tế…. Và chức năng bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em là chức năng quan trọng của gia đình. Trong các
thành viên, yếu tố thuộc gia đình thì các bậc cha mẹ là những thành viên có
vai trò quyết định đối với sự phát tri
ển của trẻ. Vì không ai hiểu con bằng bố
mẹ (trừ những trường hợp gia đình không có bố mẹ).
II. Quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước liên quan đến
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình
1. Quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước liên quan đến
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một truyền thống tố
t đẹp của
dân tộc Việt Nam. Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà ra đời, dưới chế độ dân chủ nhân dân, truyền thống đó càng
được nhân dân ta gìn giữ và phát huy. Nhà nước đã kịp thời thể chế hoá các
e) Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị, của toàn xã hôi, trước tiên là củ
a mỗi gia đình và cộng đồng
g) Thực hiện công bằng xã hội, không phân biệt đối xử trong bảo vệ
chăm sóc và giáo dục trẻ em
h) Bảo đảm tính khoa học và nghệ thuật trong bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em.
2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về nâng cao năng lực cho các bậc
cha mẹ trong chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em
Chỉ thị số 49 - CT/TW ngày 21 tháng 02 năm 2005 về “xây dự
ng gia
đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Ban Bí thư trung ương
khóa IX yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, đoàn thể các cấp thực hiện tốt
nhiệm vụ sau: " Tăng cường công tác giáo dục đời sống gia đình. Cung cấp
tới từng gia đình các kiến thức, kỹ năng sống, như: kỹ năng làm cha mẹ, kỹ
năng ứng xử giữa các thành viên trong gia
đình với nhau và với cộng đồng.
Trong giáo dục, phải kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp
của gia đình Việt Nam gắn với xây dựng những giá trị tiên tiến của gia đình
trong xã hội phát triển." (Nguồn: Chỉ thị số 49 - CT/TW ngày 21 tháng 02
18
năm 2005 về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, trang 4).
Quyết định 201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
đã nêu rõ Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010 là: " nâng cao chất
lượng chăm sóc giáo dục trẻ, tạo cơ sở để trẻ phát triển toàn diện về thể chất,
tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; mở rộng hệ thống nhà trẻ trên mọi địa bàn dân cư,
đặc biệt ở nông thôn và những vùng khó khăn; tăng cường các hoạt động phổ
19
4. Nhận xét về hệ thống văn bản chính sách của Đảng và Nhà nước đối
với vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Như phần trên đã trình bày, Đảng và Chính phủ Việt Nam rất quan tâm
đến vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Hệ thống văn bản pháp luật
khá đầy đủ, luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã quy đị
nh rõ ràng
quyền và trách nhiệm của các lực lượng, đặc biệt là gia đình trong việc bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tuy nhiên, hệ thống văn bản chính sách của
Đảng và Nhà nước ta liên quan đến vấn đề nâng cao năng lực (kiến thức và kỹ
năng) cho các bậc cha mẹ trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cụ
thể là hoạt động phổ biến, tuyên truyền kiến thức cho các bậc cha m
ẹ đã có
nhưng chưa đầy đủ và trong thực tế cuộc sống, việc thực thi các văn bản
chính sách đó cũng chưa triệt để và hiệu quả.
Một điều đáng buồn là vấn đề giáo dục gia đình, nâng cao kỹ năng làm
cha làm mẹ ai cũng quan tâm nhưng chưa Bộ, ngành nào triển khai hoạt động
có hiệu quả, các hoạt động chồng chéo nhau vào theo các mảng nội dung
trong lĩ
nh vực thuộc mình quản lý chứ chưa có tác động nào mang tính hệ
thống, tổng quát. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên cũng
xuất phát từ sự thiếu hụt của hệ thống chính sách và sự buông lỏng quản lý
của Chính phủ và chính quyền các cấp.
III. Các yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, kỹ năng của các gia đình trong
công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
* Các yếu t
ố chủ quan của chủ thể giáo dục – cha mẹ:
- Kiến thức và kỹ năng của mỗi người dựa trên cơ sở tư chất - là những đặc
điểm riêng của cá nhân về giải phẫu sinh lý bẩm sinh của bộ não, của hệ
các quan hệ về tình cảm, việc chă
m sóc giáo dục con cái, các tập quán về thờ
phụng tổ tiên mà mỗi thành viên trong gia đình chấp nhận, tuân theo và có
nghĩa vụ thực hiện.
Những đặc trưng của văn hoá gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến nhận
thức, thái độ, hành vi của các bậc cha mẹ trong giáo dục đạo đức con trẻ. Điều
này còn có thể gọi là tác động "luân hồi" từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Theo số li
ệu báo cáo năm 2001 của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ
em, tình trạng trẻ em hư, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội có chiều hướng
gia tăng ở nước ta, đặc biệt ở các thành phố lớn, đang là nỗi lo của mỗi gia
đình và toàn xã hội. Trong số trẻ em làm trái pháp luật, 30% ở trong các gia
đình có bố mẹ nghiện ma tuý, ham mê cờ bạc; 21% trong gia đình làm ăn phi
pháp; 8% có anh chị có tiền án, tiền sự; 10,2% mồ côi cả cha l
ẫn mẹ; 32% mồ
côi bố hoặc mẹ; 7,3% có bố mẹ ly hôn. Những số liệu trên cho chúng ta thấy:
môi trường gia đình đã tác động ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức và kỹ năng
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục con trẻ tại gia đình, mà kết quả của năng lực
yếu kém đó là hành vi vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội của những đứa trẻ.
* Các y
ếu tố thuộc môi trường xã hội:
- Chính sách và chương trình của Nhà nước
Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước quản lý gia đình bằng hệ thống
luật pháp và chính sách. Vì vậy, các chính sách và chương trình của Nhà nước
tác động rất lớn đến năng lực làm cha mẹ ở các gia đình. Ở đây, chúng ta phải
xác định rõ sự phân cấp trách nhiệm và quyền lợi giữa gia đình - chính quyền
- cộng đồng. Bản thân các bậ
c cha mẹ là chủ thể của quá trình tự trau dồi
năng lực làm cha làm mẹ và cũng là đối tượng thụ hưởng các tác động từ phía
chính quyền và cộng đồng. Chính quyền là chủ thể quản lý, điều phối các tác
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá và hội nhập quốc tế tạo ra nhiều cơ
hội và điều kiện, đồng thời cũng đặt gia đình trước nhiều khó khăn, thách thức
trong việc thực hiện chức năng b
ảo vệ, chăm sóc và giáo dục con em mình.
Khi đời sống xã hội hoà nhập với thế giới, hệ thống giá trị xã hội cũng
như định hướng giá trị trong từng con người cũng thay đổi. Những giá trị đạo
đức có ý nghĩa quan trọng trước kia thì ngày nay đã ít nhiều thay đổi. Bản
thân nội hàm từng khái niệm đạo đức cũng thay đổi và vị trí thang bậc của hệ
thống giá trị đạ
o đức cũng thay đổi.
Mặt trái của cơ chế thị trường và lối sống thực dụng đã tác động mạnh
đến các điều kiện để các thành viên trong gia đình thực hiện chức năng bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục con trẻ của mình. Ngày càng có nhiều bậc cha mẹ
không có đủ thời gian dành cho bữa cơm gia đình. Ngôi nhà chỉ là nơi để ngủ.
Việc kiểm soát hành vi của con cái cũng gi
ảm sút trong khi môi trường xã hội
xung quanh trẻ em có nhiều cám dỗ, tiềm ẩn nguy cơ làm hư hỏng trẻ em.
22
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, trong điều kiện cơ chế kinh tế thị trường,
không chỉ có các bậc cha mẹ nghèo mải lo kiếm tiền sinh kế, mà ngay cả các
bậc cha mẹ khá giả cũng ỷ vào đồng tiền để thay thế sự quan tâm của mình
đối với con cái trong việc chăm sóc sức khoẻ, học tập và tu dưỡng đạo đức
của con trẻ.
Sự phân tầng xã hội và phân hoá giàu nghèo d
ưới tác động của nền
kinh tế thị trường sẽ dẫn đến những biến đổi rất đa dạng của gia đình, làm nảy
sinh nhiều vấn đề mới liên quan đến việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Trong khi một số nhóm trẻ em có được những điều kiện vật chất và tinh thần
tốt từ phía gia đình để phát triển thì những nhóm trẻ em khác lạ
Phần viết này cung cấp một số đặc điểm cơ bản về nhân khẩu - xã hội
của người trả lời bảng hỏi, gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp,
tôn giáo, dân tộc, tình trạng hôn nhân. Đồng th
ời, phần viết cũng đề cập đến
một số đặc điểm kinh tế – xã hội của gia đình mà họ đang sinh sống: số thế
hệ, tình hình kinh tế gia đình, điều kiện sống (nhà ở, nhà vệ sinh, nguồn nước
sinh hoạt hàng ngày, đồ dùng trong gia đình).
1. Tuổi
Trong số 600 đại diện cha/ mẹ tham gia trả lời bảng hỏi, có 288 người
có con ở nhóm tuổi dướ
i 6 tuổi và 310 người có con ở nhóm 6-16 tuổi.
Tính trung bình, tuổi của cha mẹ có con dưới 6 tuổi là 31,5 tuổi. Người
cao tuổi nhất là 48 tuổi, thấp nhất là 21 tuổi. Bảng 1 còn cho thấy, có 50%
tuổi của cha mẹ có con dưới 6 tuổi trên 31 tuổi và 50% cha mẹ có con dưới 6
tuổi dưới 31 tuổi.
Bảng 1. Độ tuổi của người trả lời
Cha mẹ có con Tuổi trung bình Tuổi trung vị Tuổi lớn nhấtTuổi nhỏ
nhất
N
Dưới 6 tuổi 31,53 31 48 21 288
Từ 6 đến 16
tuổi
39,75 39 66 27 310
Tổng 35,79 35 66 21 598
Ở nhóm cha mẹ có con từ 6 đến 16 tuổi, người cao tuổi nhất là 66 tuổi,
thấp tuổi nhất là 27 tuổi, tuổi trung bình là 39 tuổi (bảng 1). Trong ba địa bàn
khảo sát, tỉnh Hà Tây và tỉnh Hòa Bình có độ tuổi trung bình của người trả lời
xấp xỉ nhau (34 tuổi), độ tuổi này của người trả lời ở Thái Bình cao hơn (37
(%)
Dõn tc
H Tõy Hũa Bỡnh Thỏi Bỡnh Tng
Kinh 100,0 29,7 100,0 76,3
Mng 0 69,3 0 23,3
Nựng 0 1,0 0 0,3
N 200 202 198 600
V tụn giỏo, cú 68% ngi tr li khụng theo tụn giỏo no. S ngi
theo o Pht l 27,3%, Thiờn Chỳa Giỏo l 2,7%, Pht Giỏo Hũa Ho l
1,3%. Trong ú, ngi theo o Pht cao nht l Thỏi Bỡnh 41,4%, ngi
khụng theo tụn giỏo no tp trung cao nht Hũa Bỡnh (88,1%).
4. Hc vn
Phn ln cha m trong mu nghiờn cu cú trỡnh hc vn t trung hc
c s tr lờn (94%). Trỡnh hc vn thp nht ca cha m l tiu hc nhng
cng ch
cú 6% (xem bng 4). Trong s 3 a bn iu tra, Ho Bỡnh l ni cú
t l ngi cú hc vn trỡnh tiu hc cao nht (14,9%). Ngc li, H
Tõy l ni cú t l ngi cú trỡnh hc vn cp trung cp/ cao ng cao
nht (22% so vi 5% v 3%).