Phân tích sự phân chia lợi nhuận giữa các tâp đoàn tư bản. Từ đó rút ra ý nghĩa thực tế - Pdf 13

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đề bài: Phân tích sự phân chia lợi nhuận giữa các tâp đoàn tư bản. Từ đó rút
ra ý nghĩa thực tế.
LỜI NÓI ĐẦU
Sự phát triển của Việt Nam cũng như của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN)
khác được đánh dấu bằng sự chuyển hướng trong tư tưởng, nhận thức của các Đảng
và Nhà Nước về Chủ Nghĩa Xã Hội(CNXH) và con đường đi lên CNXH. Ở Việt
Nam, từ sau những năm đổi mới đến nay mới chỉ có hơn 25 năm, đó thực sự chỉ là
một khoảng thời gian rất ngắn so với lịch sử phát triển của một dân tộc, một đất
nước.
Tuy nhiên, trong 25 năm đó, Việt Nam đã có những sự thay đổi và phát triển vượt
bậc. Từ một nước nghèo đói và thiếu ăn quanh năm, luôn phải trông chờ vào các
khoản viện trợ, trợ giúp của các nước khác, Việt Nam đã trở thành một nước xuất
khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan). Các nghành sản xuất Công-Nông
Nghiệp và Dịch Vụ đã đạt được những thành quả đáng kể, đời sống của nhân dân
được cải thiện vv... Có được sự phát triển đó, chính là nhờ sự đổi mới trong nhận
thức, tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH. Trong số những nhận thức đó,
đặc biệt quan trọng, là sự đổi mới trong nhận thức về của lợi nhuận mà một khía
cạnh là nhận thức rõ bản chất sự phân chia lợi nhuận của các tập đoàn tư bản. Từ sự
phân chia đó để nhận định rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa
tư bản độc quyền nhà nước. Việt Nam đang hội nhập sâu hơn với quốc tế, đặc biệt
là chủ nghĩa tư bản phương Tây. Hiểu rõ bản chất lợi nhuận và cách phân chia lợi
nhuận trong thế giới tư bản không những giúp chúng ta định hướng đúng con đường
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn giúp chúng ta hội nhập sâu
sắc và luôn tìm được hướng đi đúng đắn và có lợi cho sự phát triển đất nước.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong phạm vi cho phép của bài viết và do hiểu biết còn hạn chế nên bài viết này
khó tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ dẫn, giúp đỡ
của thầy giáo để em có được những nhận thức đúng đắn hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.

không chỉ được đầu tư vào mỗi quá trình sản xuất mà còn phải chi phí cho cả quá
trình bán hàng do vậy lợi nhuận của nhà tư bản Công nghiệp sẽ bị giảm đáng kể.
Còn tư bản Thương nghiệp trong giai đoạn này,hay còn được gọi là Thương nghiệp
cổ xưa với chức năng lưu thông hàng hoá dựa trên cơ sở “mua rẻ, bán đắt” và vì vậy
lợi nhuận Thương nghiệp lúc này thực chất là kết quả của việc “ăn cắp và lừa đảo”.
Ta có thể thấy rõ điều này qua quan điểm của trường phái trọng thương, cho rằng
lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá, cho rằng “không một người
nào thu được lợi mà không làm thiệt kẻ khác”.
Nhưng trong giai đoạn TBCN, do nhu cầu của sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá
thì Công nghiệp và Thương nghiệp hay nói rộng hơn là quá trình sản xuất và lưu
thông không thể tách biệt độc lập mà đã trở nên phụ thuộc, gắn kết lẫn nhau. Lúc
này thì tư bản Thương nghiệp, thực chất “là một bộ phận của tư bản Công nghiệp
tách rời ra, phục vụ qúa trình lưu thông hàng hoá của nhà tư bản Công nghiệp”. Khi
đó, với sự hình thành của tư bản Thương nghiệp thì cả tư bản Công nghiệp và tư
bản Thương nghiệp đều thu được những lợi ích mà được thể hiện ra là lợi nhuận
Công nghiệp và lợi nhuận Thương nghiệp. Đối với tư bản Thương nghiệp, mặc dù
chỉ tham gia vào lĩnh vực lưu thông, tức là chỉ tham gia vào việc thực hiện giá trị,
trong đó có giá trị thặng dư, chứ không hề tham gia vào quá trình sản xuất ra giá trị
nhưng vẫn thu được một phần lợi nhuận. Phần lợi nhuận này được gọi là lợi nhuận
Thương nghiệp. Nếu chỉ xét tới vai trò của tư bản Thương nghiệp là thực hiện giá
trị của hàng hoá mà tạm thời bỏ qua chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong lĩnh
vực lưu thông của nó thì đúng là tư bản Thương nghiệp không hề tạo ra giá trị và
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giá trị thặng dư do vậy nhìn bề ngoài có thể lầm tưởng lợi nhuận Thương nghiệp là
do mua rẻ, bán đắt mà có. Tuy nhiên, lợi nhuận Thương nghiệp thực chất, “là một
phần giá trị trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản
Công nghiệp nhường cho nhà tư bản Thương nghiệp”.
Sở dĩ nhà tư bản Công nghiệp chịu nhường và phải nhường một phần của thặng dư
mà mình chiếm đoạt được hay một phần lợi nhuận của mình cho nhà tư bản Thương

tích ví dụ sau:
Một nhà Tư bản Công nghiệp có một lượng tư bản là 800 với cấu tạo: 700c +
100v với tỉ suất giá trị thặng dư: m’ = 100% => giá trị hàng hóa là: 700c + 100v +
100 = 900
Tỉ suất lợi nhuận nghành Công nghiệp sẽ là:
P’CN = 100/800 * 100% = 12,5%
Bây giờ, nếu có thêm một nhà tư bản Thương nghiệp bỏ ra 200 để mua hàng hoá
=>lúc đó ta có tỉ suất lợi nhuận bình quân sẽ bằng:
100 *100% = 10%
800 + 200
Theo tỉ suất lợi nhuận chung mới này thì phần lợi nhuận Công nghiệp và lợi nhuận
Thương nghiệp tương ứng sẽ bằng:
LnCN = 800 * 10% = 80
LnTN = 200 * 10% = 20
Khi đó nhà tư bản Thương nghiệp sẽ mua hàng hoá từ nhà tư bản Công nghiệp với
giá thấp hơn giá trị:
800 + 80 = 880 (<900)
và sẽ bán với giá đúng bằng giá trị và thu được lợi nhuận Thương nghiệp:
880 + 20 = 900
Như vậy là, với sự hình thành tỉ suất lợi nhuận chung giữa hai ngành Công
nghiệp và Thương nghiệp thì lợi nhuận Thương nghiệp đã được thực hiện. Với sự
xuất hiện của lợi nhuận Thương nghiệp trong xã hội tư bản, đã hình thành nên hai
loại giá cả sản xuất là giá cả sản xuất Công nghiệp và giá cả sản xuất thị trường. Nó
cũng góp phần che dấu thêm một mức nữa quan hệ bóc lột TBCN.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
b/ Lợi tức cho vay và lợi nhuận ngân hàng:
Như trên đã phân tích, tư bản Thương nghiệp là một bộ phận tư bản Công nghiệp
tách ra, phục vụ quá trình lưu thông hàng hoá của nhà tư bản Công nghiệp. Còn tư
bản cho vay, thực chất cũng là một bộ phận của tư bản Công nghiệp được tách ra

Như trên đã phân tích, nhà tư bản cho vay cho người khác sử dụng lượng tư bản
tiền tệ nhàn rỗi của mình không phải do lòng tốt hay vì một cái gì khác mà chỉ đơn
thuần là để kiếm lời. Chính vì vậy mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho
vay một số tiền nào đó, khoản tiền này được gọi là lợi tức và nó dược trích từ phần
lợi nhuận thu được của nhà tư bản đi vay sau khi anh ta sử dụng lượng tư bản đi
vay vào quá trình sản xuất.
Vậy lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho
nhà tư bản cho vay căn cứ vào món tiền mà nhà tư bản cho vay đã đưa cho nhà tư
bản đi vay sử dụng. Như vậy thì xét cho cùng nguồn gốc của lợi tức chính là phần
giá trị thặng dư mà nhà tư bản Công nghiệp chiếm đoạt của người lao động.
Với sự hình thành của tư bản cho vay và tương ứng với nó là lợi tức cho vay thì
lúc này phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản Công nghiệp và tư bản Thương
nghiệp thu được không còn thuộc hoàn toàn về họ mà phần lợi nhuận bình quân đó
được chia ra thành lợi tức cho vay là khoản đem trả cho nhà tư bản cho vay, phần
còn lại sau khi trả lợi tức được gọi là thu nhập của chủ xí nghiệp. Lượng lợi tức
đem trả nhiều hay ít tuỳ theo quan hệ cung cầu về tư bản cho vay và nó phụ thuộc
vào tỉ suất lợi tức, là tỉ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức và tổng số tư bản tiền tệ
cho vay.
Nếu kí hiệu lợi tức là Z còn tỉ suất lợi tức là Z’ thì ta có:
Z’ = ( Z/tư bản cho vay) * 100%
Phần lợi tức cao hay thấp là do tỉ suất lợi tức quy định, đến lượt nó thì tỉ suất lợi
tức lại bị quy định bởi các yếu tố:
Giới hạn cao nhất của tỉ suất lợi tức chính là tỉ suất lợi nhuận bình quân do vậy mà
sự thay đổi của tỉ suất lợi nhuận bình quân cũng dẫn tới sự thay đổi thuận chiều
tương ứng của tỉ suất lợi tức. Cũng chính vì vậy cho nên, vì tồn tại quy luật giảm
dần của tỉ suất lợi nhuận do đó tỷ suất lợi tức cũng có xu hướng giảm dần.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tỉ suất lợi tức phụ thuộc vào mối quan hệ cung cầu về tư bản cho vay.
Nói tóm lại, xuất phát từ việc nảy sinh mối quan hệ tín dụng TBCN cho nên đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status