Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Viện khoa học nông nghiệp việt nam
Báo cáo tổng kết chuyên đề
Kết quả xây dựng mô hình phòng trừ
cây trinh nữ thân gỗ năm 2006
Thuộc đề tài độc lập cấp nhà nớc
Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây
trinh nữ thân gỗ (mimosa pigra l.) ở việt namMã số: ĐTĐL 2005/02
Chủ nhiệm đề tài: TS . nguyễn hồng sơn
Mã số: ĐTĐL 2005/ 02
Thuộc chơng trình: Đề tài độc lập cấp nhà nớc
Hà Nội 10/ 2006
2
Kết quả xây dụng mô hình phòng trừ cây trinh
nữ thân gỗ
mimosa pigra
năm 2006
I. Đặt vấn đề
Trong khuôn khổ thực hiện đề tài độc lập cấp nhà nớc Nghiên cứu các
biện pháp tổng hợp phòng trừ cây TNTG (Mimosa pigra
L
.) ở Việt Nam
năm 2005, đề tài đã tiến hành các thí nghiệm để đánh giá đợc hiệu quả kỹ
Ally 20DF để diệt cây con mới mọc; (6). chặt + đốt; (7). chặt + phun thuốc trừ
cỏ chọn lọc; (8). chặt + phun thuốc trừ cỏ huỷ diệt; (9). chặt sau đó ngâm ngập
lũ; (10). trồng cây cạnh tranh + phun thuốc trừ cỏ.
3
II. 3. Phơng pháp xây dựng mô hình:
Mỗi mô hình bao gồm 10 biện pháp
khác nhau để so sánh hiệu quả kỹ thuật, kinh tế, u và nhợc điểm khi triển
khai trên diện rộng.
Kỹ thuật tác động đối với từng mô hình nh sau:
(1). Mô hình chặt:
Chọn ô đại diện cho mức độ xâm nhiễm, sinh trởng và
phát triển của cây TNTG tại vùng thí nghiệm. Sau đó dùng dao sắc hoặc kéo
chuyên dụng chặt sát gốc cách mặt đất khoảng 5 10 cm. Thu dọn thân cây
sau chặt và theo dõi khả năng mọc tái sinh của cây sau chặt 1 tháng, 2 tháng.
(2). Mô hình chặt + ngâm lũ:
Trớc khi lũ về khoảng 10 15 ngày tiến hành
chặt cây, phơng pháp chặt tơng tự nh áp dụng với mô hình chặt. Sau khi
chặt xong thì ngâm ngập trong lũ.
(3). Mô hình đốt:
Ttrớc khi đốt phải tiến hành chặt cây TN để tạo đờng băng và
tập trung phơng tiện cũng nh lực lợng phòng cháy. Đồng thời phải tiến hành
tới nớc ớt đậm xung quanh đờng băng để tạo ẩm nhằm ngăn ngừa sự lây lan
của lửa sang khu vực xung quanh. Trong khi đốt phải sử dụng các máy bơm chuyên
dụng liên tục bơm nớc nhằm mục đích chống cháy lan ra khu vực xung quanh.
Để tiến hành biện pháp đốt, phải phun xăng pha dầu hoả lên tán cây với
lợng 600 - 800lit/ ha tuỳ từng khu vực cụ thể. Sau đó châm lửa đốt. Khi đốt chú
ý châm lửa ngợc theo chiều gió.
(4). Mô hình chặt kết hợp với đốt: Tơng tự nh mô hình chặt, sau khi chặt
khoảng 15 20 cây đã khô thì gom lại thành từng đống nhỏ, phun thêm dầu và
(10). Mô hình trồng cây cạnh tranh:
- Cây Tràm úc:
đợc tiến hành tại lòng hồ Hoà Bình và Thác Bà.
Chọn
những vị trí cây trinh nữ mới bắt đầu xâm lấn với mật độ thấp (< 2cây/ m
2
) tiến hành
trồng cây tràm úc với khoảng cách: hàng cách hàng: 1m; cây cách cây : 1,5m
(khoảng 6.500 7.000cây/ ha). Cây tràm giống có chiều cao khoảng 50cm (35
60cm). Giai đoạn đầu cây tràm cha có khả năng che phủ 100% diện tích nên mức
độ cạnh tranh của chúng đối cây trinh nữ mới mọc là không đáng kể. Vì vậy, sau khi
trồng tràm cần phải chăm sóc và có biện pháp phòng trừ cây trinh nữ mới mọc
(khoảng 1 2 năm) cho đến khi cây tràm đã khép tán hoặc chúng đạt đợc một chiều
cao nhất định đủ để cạnh tranh với sự phát triển của cây trinh nữ mới mọc.
- Mô hình gieo cỏ cạnh tranh: Đợc tiến hành tại vờn quốc gia Tràm
Chim và Nam Cát Tiên. Các loài cỏ dại đợc sử dụng là cỏ bản địa thuộc nhóm
Hoà thảo, cói lác và cây điên điển. Cỏ đợc gieo và trồng ngay sau khi nớc lũ rút
tại các vùng cây con mọc rải rác.
- Mô hình canh tác cây trồng trên các vùng đất canh tác bán ngập: Đợc
tiến hành tại Hoà Bình. Các cây trồng đợc sử dụng bao gồm lúa, ngô và lạc.
5
Trớc mùa lũ tiến hành chặt cây TNTG trởng thành, sau đó ngâm ngập lũ. Sau
khi nớc rút, dọn sạch xác cây và gieo các loài cây trồng trên. Tiến hành các hoạt
động chăm sóc kết hợp với phòng trừ cỏ dại để trừ cây TN cũng nh các loài khác.
Trên lúa và ngô, phun thuốc trừ cỏ Ally 20DF sau khi trồng 25-30 ngày. Trên lạc,
tiến hành xói xáo và nhổbổ sung các cây TN mới mọc.
4 tháng toàn bộ số cây bị chặt trớc đó đã cao gần bằng các cây trớc chặt,
các cây mọc tái sinh đã ra hoa và kết quả.
Sau khi chặt, do bộ tán phía trên bị giảm diện tích che phủ nên ở hầu hết
các điểm trình diễn, cây con đã nhanh chóng mọc từ hạt, đặc biệt là ở các khu
vực có mầm tái sinh mọc yếu hơn nh khu vực lòng hồ phía Bắc. Các cây con
mọc rất nhanh, sau khi chặt khoảng 1 tháng, có thể che phủ toàn bộ bề mặt.
Qua quan sát chúng tôi cũng thấy, tỷ lệ gốc có mầm mọc tái sinh
cũng nh khả năng phát triển của mầm sau mọc phụ thuộc rất nhiều vào
kích thớc cây trớc khi chặt, do đó có liên quan đến mật độ cây ở vùng thí
nghiệm.
ở
các khu vực lòng hồ phía Bắc, do mật độ cây trinh nữ trớc chặt
thờng cao hơn rõ rệt so với khu vực Vờn quốc gia và lu vực sông La
Ngà, do đó kích thớc gốc cây bé hơn dẫn đến kích thớc các mầm mọc tái
sinh cũng bé hơn so với khu vực Vờn quốc gia và lu vực sông La Ngà.
Tuy nhiên, do kích thớc cây và diện tích che phủ thấp hơn, nên mật độ cây
con mọc dới tán cây ở khu vực lòng hồ phía Bắc cũng cao hơn rõ rệt so
với Vờn quốc gia và khu vực sông La Ngà. Sau khi chặt hết phần tán cây,
các cây con mới mọc có cơ hội sinh trởng và phát triển rất nhanh nên diện
dích che phủ và trọng lợng sinh khối toàn ô thí nghiệm cũng cao hơn so
với khu vực Vờn quốc gia và khu vực sông La Ngà (bảng 24). Sau chặt 2
tháng, do các mầm tái sinh phát triển mạnh, nên dù cho mật độ cây con ở
các vờn quốc gia và lu vực sông La Ngà có thấp so với khu vực lòng hồ
phía Bắc nhng trọng lợng sinh khối có xu hớng tăng cao hơn.
Kết quả bảng 1a cũng cho thấy, hầu hết các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
kỹ thuật nh tỷ lệ gốc có mầm mọc tái sinh, số mầm mọc/ gốc, chiều cao
mầm hay trọng lợng sinh khối cây tr
ớc và sau khi chặt ở các điểm nghiên
cứu đều ít có sự sai khác giữa kết quả nghiên cứu với kết quả triển khai mô
hình trên diện rộng.
2
) và tỷ lệ gốc tái sinh
sau xử lý (%)
5,6 96,4 100
Số mầm/ gốc 1,5 3,8 4,7
Chiều cao mầm (cm) 203 26,5 70,0
Mật độ cây con (cây/m
2
) 17 46,7 53,8
Trọng lợng sinh khối (gam/ m
2
) 5.736,2 1.639,8 1.902,4
Tại khu vực sông la ngà
Mật độ cây trớc xử lý (cây/ m
2
) và tỷ lệ gốc tái sinh
sau xử lý (%)
3,6 87,2 92,5
Số mầm/ gốc 1,9 5,6 5,7
Chiều cao mầm (cm) 2,6 26,3 68,6
Mật độ cây con (cây/m
2
) 12,0 40,2 61,4
TLSK (gam/ m
2
) 3.247,5 1.453,4 2.015,4
* Về chi phí:
Tuy chi phí cho biện pháp chặt chủ yếu là phần chi công
lao động nhng nhìn chung, chi phí là khá cao. Mặt khác, chi phí về nhân công
động đều cho rằng sẽ thực hiện công việc xong trong một thời gian ngắn,
vì vậy họ còn có t tởng kéo dài thời gian. Tuy nhiên, khi xây dựng mô
hình trên quy mô lớn hơn, những ngời lao động lại có suy nghĩ khác, họ
cho rằng khối lợng công việc lớn cần phải tập trung hơn chính vì vậy mà
số công lao động đã giảm đáng kể trên cùng một đơn vị diện tích khi xây
dựng mô hình.
+ Thứ ba là khi tiến hành chặt thí nghiệm, ban đầu ngời lao động phải
chuẩn bị mặt bằng. Thời gian này sẽ kéo dài hơn khi đã có khoảng trống để
thao tác. Vì vậy, khi triển khai trên diện rộng, chi phí chuẩn bị ban đầu đợc
chia đều cho cả diện tích lớn, do đó chi phí công bình quân thấp hơn. 9
Bảng 1b: Chi phí công lao động để thực hiện mô hình chặt
Chi phí công lao động ở các địa phơng khác nhau
(đồng/ ha)
Mức độ
xâm lấn
Khu vực lòng
Hồ phía Bắc
Vờn quốc gia
Tràm Chim
Vờn quốc gia
Cát Tiên
Lu vực sông
La Ngà
Khu vực xâm
lấn nhẹ
(<3 cây/ m
1.400.000
(28 công x
50.000đ/
công)
Khu vực xâm
lấn nặng
(> 5 cây/ m
2
)
1.800.000
(60 công x
30.000đ/ công)
1.850.000
(37 công x
50.000đ/ công)
2.250.000
(45 công x
50.000đ/ công)
1.750.000
(35 công x
50.000đ/
công)
* Khả năng triển khai trên diện rộng và hớng ứng dụng biện pháp chặt:
Qua việc xây dựng mô hình phòng trừ trên diện rộng tại cả 5 địa phơng
cho thấy biện pháp chặt có u điểm nổi bật là đơn giản, dễ thực hiện, vì chỉ cần
dùng dao là có thể thực hiện đợc. Đặc biệt ở những vùng cây TNTG còn mọc
rải rác, mọc theo băng với mật độ còn tha, cha phủ kín hoàn toàn mặt đất thì
việc triển khai áp dụng trên diện rộng là có tính khả thi cao.
Tuy nhiên, tại những vùng cây trinh nữ thân gỗ mọc rậm rạp, lâu năm,
nh trồng cây che phủ hay sử dụng thuốc trừ cỏ
Kết hợp chặt chẽ với các biện pháp khác nh ngâm ngập lũ hay sử
dụng thuốc trừ cỏ.
III. 2. Kết quả xây dựng mô hình chặt + Ngâm ngập lũ
Sau khi chặt cây TNTG, trong điều kiện ngập nớc gốc cây có thể bị
thối hay gốc các cây con có thể bị bong trong mùa lũ, nhờ đó cây có thể bị
chết. Vì vậy chúng tôi đã bố trí mô hình tơng tự nh thí nghiệm chặt nhng
thời điểm chặt đợc tiến hành ngay trớc khi nớc lũ dâng lên. Ngâm toàn bộ
gốc cây trong suốt mùa lũ, sau đó tiến hành đánh giá hiệu quả của biện pháp
thông qua tỷ lệ gốc bị chết sau ngâm lũ.
* về hiệu quả kỹ thuật: Sau khi lũ rút khoảng 2 tháng, những gốc còn sống
mọc mầm trở lại. Biện pháp này chỉ có hiệu quả đối với những cây mới mọc và một
11
số cây trởng thành có đờng kính nhỏ hơn 1cm, điều này hoàn toàn phù hợp với
những kết luận trớc đây. Đối với những cây trởng thành có đờng kính lớn hơn
1cm thì hiệu quả của biện pháp này không cao chỉ đạt khoảng 30 50%. Tại 5
điểm tiến hành thí nghiệm cho thấy, hiệu quả diệt trừ cây Trinh nữ trởng thành
cao nhất cũng chỉ đạt 55,2% (tại Vờn quốc gia Tràm Chim), hiệu quả thấp nhất
khi triển khai tại lu vực sông La Ngà với hiệu quả là 30,4%. Nguyên nhân có thể
mô hình tại khu vực sông La Ngà đợc bố trí trên các gò đất cao, khô nên bộ rễ cây
mọc sâu. Mặt khác thời gian ngập nớc ngắn hơn vì khu vực này chỉ bị ngập khi lũ
đạt đỉnh điểm và thời gian nớc rút cũng sớm hơn vùng đất thấp (bảng 2a).
Bảng 2a: Hiệu quả của mô hình chặt + ngâm ngập lũ đối với cây trởng thành
Địa điểm
Mật độ cây
trớc xử lý (cây/ m
2
)
)
Địa điểm
Mô hình
chặt +
Ngâm lũ
Đối chứng
không
chặt
Mô hình
chặt +
Ngâm lũ
Đối chứng
không chặt
Mô hình
chặt +
Ngâm lũ
Đối chứng
không chặt
Tràm Chim 5,6 1,3 75,8 63,6 34,8 19,8
Cát Tiên 4,9 1,1 71,4 59,8 46,5 26,5
Lu vực
sông La Ngà
6,3 1,7 76,5 69,4 29,7 20,8
Lòng hồ Hoà
Bình
4,4 2,0 69,7 61,5 78,4 36,1
Lòng hồ
Thác Bà
3,9 1,6 61,8 55,8 86,5 48,9
Trong điều kiện ngập lũ, cácạymầm này sẽ vơn lên cùng với mực nớc lũ, do
đó nó có thể giúp cho gốc cây bám chắc trong đất và cây hoàn toàn khoẻ mạnh
nh khi cha bị chặt.
Nh vậy, việc triển khai trên diện rộng của biện pháp chặt + ngâm ngập
lũ có tính khả thi rất thấp vì:
+ Không thể xác định chính xác thời điểm ngập lũ để quyết định thời
điểm chặt
+ Rất khó huy động một lợng lớn nhân công lao động để tiến hành đồng
loạt trên phạm vi rộng trong khoảng thời gian rất ngắn đợc. Mặt khác, giá công lao
động vào thời điểm trớc mùa lũ đến ở các tỉnh phía Nam cũng rất cao, do đó sẽ
đẩy chi phí cho biện pháp này lên rất cao, khó triển khai trên diện rộng đối với
những vùng đất công hay vùng đất có giá trị canh tác thấp trong mùa khô.
Vì những lý do trên, biện pháp chặt + ngâm ngập lũ chỉ có thể áp dụng
trong những điều kiện sau:
á
p dụng rộng ở các vùng đất canh tác bán ngập thuộc các tỉnh miền
Núi phía Bắc và lu vực sông La Ngà khi cây mới xâm nhiễm 1-2 năm
Kết hợp chặt chẽ với các biện pháp khác nh sử dụng thuốc trừ cỏ.
III. 3. Kết quả xây dựng mô hình đốt để phòng trừ cây TNTG
Đây là mô hình khó thực hiện kể cả trong tổ chức thực hiện và hiệu quả
diệt trừ cây trinh nữ. Do các biện pháp trừ cây TNTG đều đợc áp dụng trong
mùa khô nên để đảm bảo không xảy ra cháy rừng, trớc khi đốt chúng tôi phải
tiến hành chặt cây TN để tạo đờng băng và tập trung phơng tiện cũng nh lực
14
lợng phòng cháy. Đồng thời phải tiến hành tới nớc ớt đậm xung quanh đờng
băng để tạo ẩm nhằm ngăn ngừa sự lây lan của lửa sang khu vực xung quanh.
Trong khi đốt phải sử dụng các máy bơm chuyên dụng liên tục bơm nớc nhằm
mục đích chống cháy lan ra khu vực xung quanh.
trong tháng 3 đã có những trận ma đầu tiên, vì vậy độ ẩm trong các rừng trinh nữ
cũng rất cao, do đó tỷ lệ sinh khối cây bị cháy cũng đạt rất thấp, đặc biệt tỷ lệ cháy ở
khu vực sông La Ngà không có sự chênh lệch lớn với các tỉnh phía Bắc (Bảng 3a).
Bảng 3a: Tỷ lệ sinh khối cây trinh nữ thân gỗ bị cháy khi áp dụng
biện pháp đốt ở các vùng sinh thái khác nhau
% sinh khối cây bị cháy
Địa điểm
Thí nghiệm năm 2005 Mô hình năm 2006
Vờn quốc gia Tràm Chim 80 45
Vờn quốc gia Cát Tiên 65 40
Lu vực sông La Ngà 35 25
Lòng hồ Hoà Bình 20 10
Lòng hồ Thác Bà 15 10
Biện pháp đốt không chỉ có hiệu quả thấp đối với phần sinh khối phía
trên mà còn rất hạn chế đối với phần gốc của cây TNTG, vì vậy sau đốt 20
30 ngày, phần thân cây còn sống ở tất cả các mô hình đều có mầm tái sinh.
Có một điểm đặc biệt là những nơi có tỷ lệ cây cháy cao nh vờn quốc gia
thì số mầm tái sinh và chiều cao mầm tái sinh cũng cao hơn những nơi có tỷ
lệ cây cháy thấp (bảng 3b). Nguyên nhân có thể do khi đốt, những nơi có tỷ
lệ cháy cao đã ức chế mạnh sinh trởng ngọn, do đó kích thích sự tái sinh
của các chồi gốc. Các mầm tái sinh từ sát gốc thờng phát triển mạnh hơn.
Trong khi đó tại những điểm có tỷ lệ cây cháy thấp nh lu vực sông La Ngà
hay khu vực lòng hồ phía Bắc, các mầm chủ yếu mọc tái sinh từ phần thân
phía trên, do đó nguồn dinh dỡng phải cung cấp cho cả phần thân cây còn
sống và mầm tái sinh nên tốc độ tăng trởng của mầm tái sinh chậm hơn.
Đặc biệt, khi áp dụng biện pháp đốt đã tạo nên sự chênh lệch về nhiệt độ
trên mặt đất và dới mặt đất khá cao, kích thích cho hạt trinh nữ nảy mầm. Do
đó, chỉ ngay sau khi đốt 1 tháng, mật độ cây con mọc lên ở tất cả các điểm tiến
hành mô hình đều cao hơn rõ rệt so với trớc đốt, thậm chí ở các khu vực lòng
) 45,8 103,8 137,6
Trọng lợng sinh khối (TLSK) (gam/ m
2
) 4.275,6 3.413,3 4.286,4
Tại khu vực vờn quốc gia
Mật độ cây trớc xử lý (cây/ m
2
) và tỷ lệ gốc tái sinh
sau xử lý (%)
3,6 55,5 86,1
Số mầm/ gốc 1,1 5,0 6,5
Chiều cao mầm (cm) 2,4 23,4 77,5
Mật độ cây con (cây/m
2
) 10,3 60,1 62,8
Trọng lợng sinh khối (gam/ m
2
) 4.876,5 2.282,6 3.169,5
Tại khu vực sông la ngà
Mật độ cây trớc xử lý (cây/ m
2
) và tỷ lệ gốc tái sinh
sau xử lý (%)
4,0 57,6 88,1
Số mầm/ gốc 1,5 4,6 6,1
Chiều cao mầm (cm) 2,6 28,4 75,5
Mật độ cây con (cây/m
2
) 9,6 55,6 64,5
TLSK (gam/ m
TNTG hầu nh không cháy. Cũng vào thời gian này trong năm 2005, tại khu A4 khi
tiến hành đốt tỷ lệ cây cháy tơng đối cao vì có nhiều cỏ khô và lớp thảm thực vật dày
ở phía dới cho nên tỷ lệ cây cháy cao. Có thể giải thích hiện tợng này nh sau: Khu
A4 đợc bao bọc bởi hệ thống kinh rạch 4 xung quanh, những năm trớc đây Ban
quản lý Vờn quốc gia để nớc lên xuống theo tự nhiên vì vậy, vào khoảng cuối tháng
3 thì toàn bộ khu này đất đã khô cứng và lớp thảm cỏ cũng chết khô. Nhng tháng 7
năm 2005 Ban quản lý Vờn đã cho đắp đập ngăn nớc nhằm mục đích giữ độ ẩm cho
toàn khu sau mùa lũ vì vậy, mặc dù mô hình đợc tiến hành vào tháng 4 nhng độ ẩm
18
đất vẫn rất cao, hơn nữa trong vài chục năm trở lại đây mùa ma thờng bắt đầu rất
muộn (cuối tháng 4) nhng năm 2006 mùa ma lại bắt đầu rất sớm (giữa tháng 3)
chính vì vậy, toàn bộ thảm cỏ bên dới tán cây mai dơng rất xanh tốt cho nên mặc dù
đã tới thêm dầu nhng tiến hành đốt cả thảm cỏ và cây mai dơng đều rất khó cháy.
Có thể thấy rằng, hiệu quả phòng trừ cây TNTG bằng biện pháp đốt chỉ
có hiệu quả đối với những khu vực có lớp thảm thực vật dầy và khô ở phía dới
tán cây còn những chỗ không có hoặc lớp thảm thực vật ở phía dới xanh tốt thì
hiệu quả của biện pháp này là rất thấp.
- Tại lu vực sông La Ngà và Vờn quốc gia Cát Tiên : Hiệu quả mô hình
đạt thấp hơn tại Tràm Chim, nguyên nhân là do thảm thực vật dới tán cây TNTG ở
các khu vực này rất tha, đặc biệt là lu vực sông La Ngà. Mặt khác trong năm
2006, mùa ma đến sớm nên hiệu quả mô hình cũng thấp hơn các thí nghiệm tiến
hành trong năm 2005.
* Chi phí cho biện pháp đốt:
Qua kết quả bảng 31 cho thấy, biện pháp
đốt không chỉ yêu cầu chi phí khá lớn để mua dầu hoả mà cũng yêu cầu một
lợng công lao động khá lớn. ở các khu vực lòng hồ phía Bắc và lu vực sông La
Ngà, do cây TN còn mọc thành dải nên công lao động phục vụ cho việc chia băng
ngăn lửa và thao tác đốt là thấp hơn, chỉ cần 25 công/ ha. Ngợc lại, tại khu vực
Vờn quốc gia Tràm Chim, số công lao động lên tới 50 công/ ha. Tuy ở vờn
(đ/công)
Thành
tiền
(đ)
Số
lợng
(lit)
Đơn
giá
(đ/ lit)
Thành
tiền (đ)
Thành
tiền
(đ/ ha)
Khu vực lòng
hồ phía Bắc
24 30.000
720.000
600 7.500
4.500.000
5.220.00
Vờn quốc gia
Tràm Chim
45 50.000
2.250.000
400 7.500
3.000.000
5.250.000
Lu vực sông
So với biện pháp đốt không chặt thì biện pháp này có u điểm là dễ triển
khai hơn, hiệu quả trừ cây trởng thành dờng nh triệt để do biện pháp đốt đợc
thực hiện sau khi đã chặt toàn bộ cây, rải đều trên mặt đất mới tiến hành đốt. Tuy
nhiên, cũng tơng tự nh biện pháp đốt, biện pháp chặt kết hợp với đốt cũng có
nhiều nhợc điểm về mặt hiệu quả kỹ thuật, chi phí và tác động môi trờng.
* Về hiệu quả kỹ thuật: ở miền Nam vào mùa khô, sau chặt 15 ngày cây
TN hầu nh đã khô. Những nơi mật độ cây cao, lớp mùn dầy (do thảm thực vật
chết tạo ra) thì khi đốt tỷ lệ cháy cao và đạt khoảng 80%. Vì vậy, TLSK giảm
đáng kể. Tại những khu vực mật độ cây tha thớt, lớp mùn mỏng (do thảm thực
vật chết tạo ra) thì tỷ lệ cây cháy trong điều kiện không gom cây lại mà để nguyên
tại chỗ sau chặt rất thấp kể cả khi phun dầu vào để đốt cũng chỉ đạt trên 50%.
Tại các tỉnh miền Núi phía Bắc, vào thời kỳ tháng 3-4 độ ẩm không cao
lại có ma phùn nên khi tiến hành đốt sau chặt 1 tháng, tỷ lệ cây cháy cũng rất
thấp mặc dù đã phun thêm rất nhiều dầu để đốt.
Về khả năng tái sinh của mầm: Nhìn chung, sau khi đốt 15 ngày cha
thấy các mầm mọc lại từ gốc sau chặt, nhng sau đốt một tháng đã có mầm
mọc tái sinh. Nhìn chung, hầu hết các gốc không bị cháy đều có mầm mọc tái
sinh. Tỷ lệ gốc có mầm mọc tái sinh cũng nh khả năng sinh trởng, phát triển
của mầm tái sinh phụ thuộc vào từng điểm thí nghiệm hay nói cách khác là phụ
thuộc vào tuổi cây, điều kiện thời tiết, khí hậu ở vùng thí nghiệm.
- Tại vùng lòng hồ Hoà Bình và Thác Bà: S
au khi chặt đợc 20 ngày,
cây TNTG đã khô. Lúc này tiến hành đốt. Trong quá trình đốt nếu không gom
cây lại thành từng đống thì tỷ lệ cây cháy rất thấp, khi gom lại sau đó đốt thì tỷ
lệ cháy cao hơn. Tuy nhiên, chỉ những nơi có xác cây bao phủ thì gốc cây
TNTG mới bị cháy. Mặc dù vậy, tỷ lệ gốc bị cháy cũng không phải đạt 100%
mà chỉ một tỷ lệ gốc nhất định bị cháy. Tại những điểm không có xác cây che
phủ, mặc dù cũng có ngọn lửa do cháy dầu và các thảm cỏ nhng tỷ lệ gốc bị
) 3.550,6 1.542,5 2.193,2
Tại khu vực vờn quốc gia
Mật độ cây trớc xử lý (cây/ m
2
) và tỷ lệ gốc tái sinh
sau xử lý (%)
3,5 68,6 88,6
Số mầm/ gốc 0,8 4,4 5,5
Chiều cao mầm (cm) 1,4 26,3 89,7
Mật độ cây con (cây/m
2
) 9,8 87,5 132,7
Trọng lợng sinh khối (gam/ m
2
) 5.438,6 753,4 1.518,3
Tại khu vực sông la ngà
Mật độ cây trớc xử lý (cây/ m
2
) và tỷ lệ gốc tái sinh
sau xử lý (%)
4,3 85,0 96,7
Số mầm/ gốc 1,2 7,8 8,7
Chiều cao mầm (cm) 1,6 23,2 82,9
Mật độ cây con (cây/m
2
) 15,7 72,4 79,5
TLSK (gam/ m
2
) 4.015,8 1.053,2 2.417,5
- Chi phí công lao động để chặt (bằng chính chi phí cho biện pháp chặt).
- Công lao động bổ sung để thu gom và quản lý đốt
- Chi phí xăng dầu để đốt
Nh vậy, cũng nh biện pháp chặt, chi phí này có sự biến động khá cao
giữa các vùng triển khai vì nó phụ thuộc vào mức độ xâm lấn của cây TNTG,
đơn giá công lao động và khả năng huy động công lao động của từng vùng.
23
Tuy nhiên, nếu chỉ tính riêng số công lao động phục vụ cho chặt cây thì số
công ở khu vực phía Bắc sẽ cao hơn Vờn quốc gia Tràm Chim và khu vực
sông La Ngà, nhng do ở khu vực Vờn quốc gia, số công bảo vệ để giám sát
lửa, tránh cháy rừng là rất lớn, do đó tổng số công phục vụ cho biện pháp chặt
+ đốt ở các Vờn quốc gia lại cao hơn so với khu vực sông La Ngà và vùng
lòng hồ phía Bắc. Tổng số công lao động khi triển khai thí nghiệm diện hẹp ở 3
vùng lòng hồ phía Bắc, Vờn quốc gia Tràm Chim và lu vực sông La Ngà lần
lợt là 65, 75 và 52 công/ ha. Khi triển khai trên diện rộng, số công lao động
thấp hơn (60, 70 và 45 công/ ha).
Bảng 4b. Chi phí để thực hiện mô hình chặt + đốt cây TNTG tại các vùng sinh
thái khác nhau
Chi phí công lao động/ ha Chi phí dầu hoả/ ha Địa điểm triển
khai
Số
lợng
(Công)
Đơn giá
(đ/công)
La Ngà và
Vờn Cát Tiên
45 50.000
2.250.000
200 7.500
1.500.000
3.750.000
- Về chi phí dầu hoả: Do sinh học và diện tích bề mặt tiếp xúc cần ít hơn,
nên chúng tôi chỉ sử dụng 200 lit dầu/ ha, chi phí từ 1.200.000đ trong năm
2005 và 1.500.000đ cho năm 2006.
Nh vậy, nếu tổng hợp cả chi phí công lao động và dầu hoả cho các thí nghiệm
diện hẹp ở 3 địa điểm trên lần lợt là 3.150.000; 4.950.000 và 3.800.000đ/ ha.
Khi triển khai mô hình trên diện rộng, tuy số công lao động và lợng
xăng dầu tiêu thụ có giảm nhng do giá xăng trong năm 2006 cao hơn năm
24
2005 nên tổng chi phí cũng gần tơng đơng với chi phí khi tiến hành thí
nghiệm trong năm 2005 (3.300.000; 5.000.000 và 3.750.000đ/ ha).
* Về khả năng triển khai trên diện rộng và hớng áp dụng biện
pháp chặt + đốt
Qua kết quả nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật, chi phí và tác động môi
trờng cũng nh thực tế triển khai các mô hình trên diện rộng cho thấy, tuy
biện pháp chặt + đốt có thể khắc phục đợc một số nhợc điểm của biện pháp
chặt và đốt khi sử dụng riêng lẻ nh:
- Có hiệu quả diệt trừ sinh khối triệt để hơn, do đó tạo điều kiện thuận lợi
cho các biện pháp khác nh canh tác, sử dụng thuốc hoá học v.v
- Việc triển khai biện pháp đốt sau khi chặt cũng đơn giản hơn, ít xảy ra
rủi ro cháy rừng hơn