tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về các biện pháp phòng trừ tổng hợp cây trinh nữ thân gỗ. - Pdf 13

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Viện khoa học nông nghiệp việt nam

Báo cáo tổng kết chuyên đề

Báo cáo tổng quan về tình hình nghiên cứu
trong và ngoài nớc về các biện pháp
phòng trừ tổng hợp cây trinh nữ thân gỗ

Thuộc đề tài độc lập cấp nhà nớc
Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây
trinh nữ thân gỗ (mimosa pigra l.) ở việt namMã số: ĐTĐL 2005/02

Chủ nhiệm đề tài: TS . nguyễn hồng sơn
(1). Về đặc điểm sinh học: Cây trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra L.)
thuộc họ Mimosaceae, lần đầu tiên đợc Linnaeus phân loại và mô tả vào năm
1759 nh là một loài cây thân gỗ lâu năm, cao tới 5-6 m, có nhiều gai, nhiều
cành, rễ ăn sâu trong đất, rộng và xa tới 3,5 m tính từ gốc (Robert, 1982). Thân:
có màu xanh ở gốc nhng khi già thì hoá gỗ, ban đầu có lớp lông mịn bao phủ
làm cho thân cây ráp, sau đó mọc nhiều gai con dài 5-10 cm. Lá: Có hai lần lá
kép lông chim, khi chạm vào thì lá khép lại. Lá dài 20-25 cm, màu xanh sáng,
mỗi đốt lá có 10-15 cặp lá kép mọc đối xứng dài 5 cm. Sống lá chét dài 3-12 cm,
có gai thẳng đứng, mảnh, ở giữa gốc của các cặp lá chét đôi khi có gai mọc lệch
hoặc mọc chính giữa hai cặp lá. Mỗi lá kép có rất nhiều cặp lá chét con, thuôn,
dài 3-8 mm, rộng 0,5-1,25 mm, mép lá có lông tơ. Hoa: màu hồng, nhỏ, mọc

2
đều, nhiều hoa đơn hợp thành hoa đầu tự đờng kính 1-2 cm. Mỗi nách lá
thờng có 2 hoa. Đài nhỏ, xẻ không đều. Quả: dài 3-8 cm có nhiều lông, chia
thành 10-20 khoang, mỗi khoang chứa một hạt, khi chín có màu nâu hay xanh
ôliu, thuôn dài 4-6 mm, rộng 2,2-2,6 mm. Khi chín, các khoang tự tách ra khỏi
quả và bay đi. Một cây có thể sản sinh 9.000-220.000 hạt (Lonsdate, 1992),
trung bình là 8.000 hạt/ tháng (Wanichanantakul & Chinawang, 1979). Quả khi
chín thờng không tách hạt ngay mà rụng thành từng đốt nằm trong vỏ quả. Vỏ
quả có nhiều lông nên nổi và trôi theo dòng nớc đi rất xa. Khi gặp điều kiện
thuận lợi về nhiệt và ẩm độ, hạt tách ra khỏi vỏ quả và nảy mầm. Hạt rất cứng,
một số có thể nảy mầm ngay khi rụng, một số khác có thể nảy mầm sau 1-2
năm. Nếu hạt bị nằm sâu trong đất có thể rơi vào tình trạng ngủ nghỉ tới hơn 20
năm. Từ khi ra hoa đến khi quả chín khoảng 5 tuần.
Cây TNTG có thể sinh sản bằng hạt nhng cũng có thể mọc tái sinh từ các
gốc sau khi bị chặt. Trong điều kiện nhiệt độ ổn định, hạt trinh nữ có thể nảy mầm 2-
3% ngay trong nớc hay trên các vùng đất ẩm. Nhờ có lớp vỏ cứng không thấm nớc
mà quá trình ngủ nghỉ của hạt có thể kéo rất dài và hạt cũng có khả năng tồn tại rất
lâu trong đất. Phần lớn hạt nảy mầm trong điều kiện ẩm ớt, nhng đôi khi chúng

vực đất ẩm, đất hoang hoá, đất ven sông, các luồng nớc chảy, các dòng sông bị khô
cạn, các thung lũng ở khu rừng nhiệt đới hay các khu rừng Quốc gia.
ở phía Bắc Châu úc tại vùng đất ngập nớc thuộc lu vực sông Adelaide,
cây TNTG chỉ mọc vài bụi vào năm 1956. Vào khoảng năm 1965, sau nhiều đợt
ma lớn và ngập lụt kéo dài cộng với ảnh hởng to lớn của những đợt lũ tràn từ
các nớc châu
á
đặc biệt là Indonesia, cây TNTG bắt đầu phát tán và lan tràn trên
một diện tích khá lớn tại vùng hạ nguồn sông Adelai. Ban đầu cây mọc thành dải,
chủ yếu dọc theo các lạch nớc, ven các dòng chảy hay ven bờ sông lớn. Sau khi
có nguồn hạt tích luỹ đủ lớn, cây bắt đầu mọc lan rộng dần. Sau đó, cây phát tán
và xâm nhiễm rất nặng ở vùng ngập nớc thuộc lu vực sông Mary và sông
Alligator, tràn qua phía đông của sông Adelai. Cùng với sự giao thoa trong hệ
thống sông chằng chịt thuộc vùng thấp của bang Northern Territory, cây TNTG
cũng bắt đầu phát tán và xâm nhiếm nặng ở các vùng đất bán ngập dọc theo sông
Finniess và sông Daly, sau đó tràn qua phía tây nam của sông Adelai.
Có thể nói trong thập kỷ 70 và 80, sự gia tăng về diện tích xâm nhiễm của
cây TNTG xảy ra rất mặnh mẽ. Có những vùng đất thuộc hạ lu sông Adelai, trong
năm 1978 chỉ lác đác có vài khóm TNTG mọc, nhng chỉ ba năm sau (1981), cây đã
che phủ kín cả một vùng rộng lớn (xem ảnh minh hoạ phần phụ lục).
Vào năm 1989, mặc dù đã đợc áp dụng các biện pháp phòng trừ nhng
cây TNTG đã xâm lấn trên diện tích là 80.000ha (tính theo diện tích đã bị che phủ
hoàn toàn). Trên thực tế, diện tích các vùng đất có mặt của cây TN có thể lên tới
hàng trăm nghìn km
2
(xem bản đồ phân bố của cây TNTG ở bang Northern
Territory phần phụ lục). Vào năm 1990, theo ảnh chụp từ trên không thì cây
TNTG đã bao trùm trên diện tích 700km
2
tính từ phía đông nam của Arnhemland

lông dày đặc có thể giúp chúng bám vào cơ thể động vật, quần áo, hay trôi dạt
theo dòng nớc để phát tán đi xa.

- Cây trinh nữ có thể ra nhiều hạt. Mỗi cây có thể cho trung bình khoảng
220.000 hạt/ năm. Thời gian tồn tại của hạt trong đất phụ thuộc vào độ sâu tầng
đất và thành phần cơ giới đất nhng nhìn chung trong đất cát pha chúng có thể tồn
tại đợc tới 23 năm (Pickering, 1992).

- Trong điều kiện thuận lợi, cây TNTG có thể sinh trởng rất nhanh (1
cm/ ngày) và tốc độ xâm nhiễm có thể gấp đôi diện tích sau mỗi năm. Cây
cũng có thể chịu đợc điều kiện khô hạn.

5
- Nhu cầu dinh dỡng của cây TNTG rất thấp, nó có thể mọc ở mọi
vùng đất do đó có độ dẻo sinh thái cao (Miller et al, 1983).
S
ự giống nhau về khí hậu và thổ nhỡng ở xứ bản địa với các nớc nhập
nội là yếu tố cơ bản giúp cho quá trình phát tán, lây lan và xâm nhiễm của cây
TNTG ở nhiều nớc trên thế giới (Ramakrisnan). Tại những vùng bị xâm lấn, loài
thực vật ngoại lai này không chỉ gây tác hại nghiêm trọng đến kinh tế, xã hội mà
còn gây nên tác động rất lớn về mặt sinh thái và môi trờng.
Trớc hết, cây TNTG đã biến nhiều vùng đất canh tác thành đất hoang
hoá, gây thiệt hại rất lớn đến đời sống kinh tế và xã hội của ngời dân địa
phơng. ở úc, sự xâm lấn của cây TNTG đã cản trở ngời thổ dân gặp rất
nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các vùng đất trống và nguồn nớc; làm
giảm các nguồn thực phẩm truyền thống sẵn có của ngời thổ dân nh cá, rùa,
chim trời. Bên cạnh đó, cây TNTG cũng gây ra hàng loạt ảnh hởng bất lợi
cho ngời dân địa phơng nh ngăn cản quá trình giao thông và hoạt động canh
tác, gây nhiễm độc nguồn nớc sinh hoạt, ảnh hởng đến dòng chảy nên ảnh
hởng đến các công trình thuỷ điện, giảm nguồn lợi từ các động vật thuỷ sinh

3). Các nghiên cứu về phòng trừ cây TNTG: cho đến nay, trên thế giới
đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ cây TNTG.
Chỉ trong vòng từ năm 1992 trở lại đây đã có 3 cuộc hội thảo Quốc tế chuyên
bàn về vấn đề cây TNTG và các biện pháp phòng trừ chúng, song có thể khẳng
định rằng, không một biện pháp đơn lẻ nào có thể mang lại hiệu quả cao và
triệt để trong việc phòng trừ cây TNTG. Từ đó, nhiều biện pháp khác nhau đã
đợc khuyến cáo ứng dụng nh biện pháp thủ công cơ giới nh nhổ, chặt biện
pháp đốt hay sử dụng thuốc trừ cỏ và biện pháp sinh học.
* Biện pháp thủ công nh cắt, nhổ thủ công bằng máy hay bằng tay
đợc áp dụng rất có hiệu quả. Tuy nhiên, biện pháp nhổ bỏ chỉ có thể áp
dụng đợc khi cây còn bé, mật độ cha cao. Ví dụ ở vờn Quốc gia Rakadu
- Thái Lan ngời ta đã áp dụng thành công biện pháp này để ngăn chặn sự
xâm lấn của cây trinh nữ khi chúng còn mọc rải rác (Siriworakul &
Schultz,1992). Biện pháp chặt đốn tuy có hiệu quả cao nhng không triệt
để vì cây có thể mọc tái sinh sau một thời gian ngắn. Thậm chí, sau khi
chặt, khả năng sinh trởng và phát triển của cây còn tốt hơn cả khi mọc từ
hạt. Mặt khác, cả hai biện pháp này đều rất tốn kém vì cần nhiều nhân công
lao động, do đó tính khả thi của 2 biện pháp này là rất thấp. Khi cây trinh
nữ lan tràn trên một diện tích rộng lớn.

7
* Biện pháp đốt: thờng chỉ cho hiệu quả cao với các cây còn nhỏ. Đối với
cây trởng thành, biện pháp này chỉ có tác dụng làm rụng bộ lá hay làm chết từng
phần cành non, do vậy chúng thờng chỉ đợc áp dụng sau khi cắt hay đã sử dụng
thuốc trừ cỏ để làm tăng tỷ lệ chết của cây trinh nữ (Miller, 1990). Tuy nhiên, khi áp
dụng biện pháp này thờng làm cho đặc tính ngủ nghỉ của hạt bị phá vỡ do đó kích
thích cho hạt nảy mầm nhiều hơn và khả năng xâm nhiễm cũng trở nên cao hơn. Bên
cạnh đó cũng có thể xảy ra rủi ro cháy rừng khi triển khai trên diện rộng.
* Biện pháp hoá học: đã đợc sử dụng trừ trinh nữ thân gỗ ở Mexico,
Costa-Rica, Australia và Thái Lan vào những năm 70 - 80 của thế kỷ 20. Cho

các thuốc tiếp xúc trừ cỏ lá rộng nh Dicamba, Fluroxypyr có thể cho hiệu quả trừ cây
trinh nữ nhng sau đó cây lại mọc lên từ hạt vì các thuốc này không có tác dụng diệt hạt
cũng nh không có tác dụng kéo dài. Phun các thuốc nội hấp và lu dẫn nh Glyphosate,
Hexazione, Triclopyr + Pycloram + 2,4D hay Metsulfuron Methyl v.v với lợng cao
vào mùa khô có thể cho hiệu quả cao và triệt để hơn. Các thuốc tiếp xúc khác nh
Atrazin + 2,4D, Tebuthiuron phần lớn chỉ trừ đợc cây con. Việc xử lý thuốc vào gốc
sau khi đốn hay phun vào vỏ thân ở sát gốc là một biện pháp có hiệu quả kinh tế cao. Ví
dụ có thể sử dụng Dicamba, Glyphosate, Imazapyr để phun vào các gốc cây sau khi cắt
hay dùng Dicamba, Hexazinone để tiêm vào cây, nhng hiệu quả thờng thấp và không
triệt để (Steve Wingrave, 2002).
Nhìn chung, biện pháp phun thuốc lên lá thờng có tính khả thi
cao, song trong các trờng hợp cây trinh nữ xâm lấn dày đặc hoặc các cây
mọc cao lâu năm, ngời ta phải dùng máy bay để phun thuốc nhng cũng
chỉ có tác dụng hạn chế chồi non, hoa và quả trinh nữ để hạn chế quá trình
phát tán tiếp theo. Hiện nay, ở úc việc dùng máy bay phun thuốc trừ cây
trinh nữ trong các vờn Quốc gia và khu vực hoang hoá đã trở nên phổ
biến. Các thuốc thờng đợc sử dụng là Dicamba, Fluroxypyr,
Metsulfuron Methyl (Parson, 1992).

phía Bắc n
ớc
ú
c, việc phun thuốc trừ cây TNTG thờng đợc tiến
hành vào đầu mùa ma (tháng 11 đến tháng 12) khi cây con mới mọc hoặc các
cây trởng thành đang mọc tái sinh mạnh. Nhờ có việc sử dụng liên tục thuốc
hoá học trên diện rộng trong suốt thập kỷ 70 và 80 nên đã hạn chế đáng kể sự
gia tăng về diện tích xâm nhiễm cây TNTG.

Hiện nay có 5 loại thuốc hoá học đang đợc sử dụng để phun trừ cây TNTG
1. Starane: hoạt chất là Fluroxyper: đây là loại thuốc trừ cỏ chọn lọc, trừ đợc

những ảnh hởng tiêu cực tới môi trờng và sức khoẻ con ngời.

Tuy nhiên, qua kết quả triển khai phòng trừ bằng thuốc hoá học ở
ú
c
cho thấy, mặc dù việc phòng trừ cây TNTG bằng thuốc hoá học đợc tiến hành
trên một phạm vi khá lớn và tất cả khu vực phòng trừ đều nằm trong phạm vi

10
vùng ngập nớc, phần đa là vùng bảo tồn thiên nhiên hoang dã trong đó có rất
nhiều loài chim trời và cá sinh sống, cho đến nay cha có báo cáo nào về tác
động tiêu cực nghiêm trọng của thuốc hoá học đối với các loài động vật thuỷ
sinh trong các khu bảo tồn ngập nớc này kể cả những vùng đợc xử lý thuốc
bằng máy bay trực thăng trên diện tích khá rộng. Theo các nhà hoa học thì hầu
hết các thuốc trừ cỏ đều rất ít độc với các loài động vật thuỷ sinh. Trong khi đó,
diện tích che phủ bề mặt của cây TNTG rất lớn, khả năng giữ thuốc trên bề mặt
tán cây lớn nên lợng thuốc rơi xuống đất hầu nh rất ít. Mặc dù không có kết
quả phân tích về d lợng thuốc trong đất, nớc và nghiên cứu chi tiết về tác
động của thuốc đối với các loài động vật thuỷ sinh, nhng nhìn chung cho đến
nay không có trờng hợp nào ngộ độc xảy ra.
* Biện pháp sinh học: đã đợc tiến hành ở
ú
c, Thái Lan. Ngời ta đã tiến
hành điều tra nguồn ký sinh thiên địch của cây trinh nữ thân gỗ tại vùng bản xứ của
nó nh Brazil, Mexico, Venezuela, sau đó du nhập và nhân thả ở các vùng bị nhiễm
cây trinh nữ. Hiện nay ở
ú
c đã nghiên cứu và nhân thả đợc 14 tác nhân sinh học
có khả năng ứng dụng để trừ cây TNTG, nhng trong đó chỉ có 2 loài loài có khả
năng năng hạn chế tốt cây TNTG là sâu đục thân Carmenta mimosae đợc nhân thả

với hệ thực vật tại vùng bị xâm lấn bị giảm đáng kể. Đồng thời, các tác nhân
sinh học cũng làm suy giảm khả năng phát triển của cây con.
Tuy nhiên, việc ứng dụng biện pháp này cũng còn nhiều hạn chế:
- Phần đa các tác nhân sinh học thờng có hiệu quả không cao và chỉ có
tác dụng hạn chế phần non của cây và các cây con, không có khả năng tiêu diệt
triệt để. Đối với các loài sâu đục ngọn đôi khi còn kích thích cho cây mọc nhánh
mới và phát triển mạnh hơn. Phạm vi phát tán của các tác nhân cũng không rộng,
trong khi đó các vùng lận cận thờng xuyên có nguồn hạt từ các vùng ngập nớc
khác trôi dạt đến, do đó diện tích lây lan tuy có chậm hơn nhng vẫn mở rộng.
- Các tác nhân sinh học có thể bị tiêu diệt hoặc suy giảm quần thể trong
những điều kiện bất thuận nh lũ lụt, vì vậy việc bảo vệ và nhân quần thể của
chúng cũng gặp khó khăn.
- Chi phí cho biện pháp sinh học rất cao, do vậy khó triển khai trên diện
rộng. Để hình thành và duy trì đợc khu vực phòng trừ với diện tích trên 100ha, ở
ú
c đã phải có một phòng thí nghiệm duy trì các hoạt động thờng xuyên để kiểm
tra, nhân nuôi bổ sung kể từ năm 1984.

Nh vậy, các kết quả nghiên cứu ở nớc ngoài đều cho thấy không
một biện pháp nào có thể mang lại hiệu quả cao và triệt để đối với cây
TNTG khi đã xâm nhiễm ở mức độ cao. Vì vậy, hớng nghiên cứu và ứng
dụng các biện pháp ngăn chặn sự xâm nhiễm ban đầu và phòng trừ sớm
cây TNTG đang đợc quốc gia đặc biệt quan tâm và coi đây là một biện
pháp rẻ tiền và hiệu quả nhất. Các biện pháp đợc áp dụng để ngăn chặn
sự lây lan của cây TNTG bao gồm:

12

Để có thể can thiệp sớm cần tiến hành các hoạt động chủ yếu sau
:


13
để đảm bảo khả năng cạnh tranh với cây TNTG cũng nh phòng trừ sớm khi
chúng còn cha kịp xâm nhiễm ở mức cao.
(5). Hạn chế sự di chuyển của nguồn hạt từ những vùng đã bị xâm
nhiễm nặng ra bên ngoài
: chủ động phòng trừ từ thợng nguồn các con sông
lớn ở các vùng đã bị nhiễm. Kiểm soát chặt chẽ và chủ động ngăn chặn các con
đờng lây lan và phát tán của cây TN thông qua những hoạt động của con
ngời nh phát tán nguồn hạt qua các phơng tiện giao thông, phân gia súc v.v.
từ vùng bị nhiễm sang vùng không bị nhiễm.
(6). Tận dụng mọi khả năng có thể để phủ kín mặt đất bằng các loài thực
vật thích hợp đặc biệt là các loài có khả năng che phủ mặt đất nhanh, cạnh tranh
tốt với hạt cỏ trong thời kỳ nảy mầm và cây con nh cỏ hoà thảo v.v.
(7). Tăng cờng huấn luyện cho các nhà quản lý, chuyên môn, khuyến nông
và nông dân về sinh học sinh thái; phơng pháp điều tra xác định nguồn, khả năng
lây lan và các vùng mẫn cảm; biện pháp phòng trừ và chiến lợc giám sát lâu dài.
(8). Can thiệp sớm bằng các biện pháp phù hợp nh đào rễ và chôn lấp;
thu dọn và đốt quả, hạt; sử dụng hoá chất phun lên lá, gốc và phun lên đoạn
thân sau chặt; nhân thả các tác nhân sinh học v.v.
Việc tiến hành các biện pháp phù hợp để can thiệp sớm cây TNTG luôn
mang lại hiệu quả cao và triệt để nhất. Hầu hết các biện pháp phòng trừ đều có thể
đợc ứng dụng để ngăn chặn sự lan tràn của cây TNTG, song việc lựa chọn biện
pháp và qui mô ứng dụng phụ thuộc vào tình trạng xâm lấn, đặc thù của vùng bị
xâm lấn cũng nh hiệu quả của biện pháp. Các biện pháp thủ công, cơ giới, sinh
học, sinh thái nh thay đổi điều kiện sống có lợi cho cây sinh trởng và phát tán
hay trồng cây che phủ (Lonsdale et al, 1989, 1993) thờng đợc u tiên áp dụng
trớc khi mật độ thấp và cây còn bé. Khi đã có nguy cơ phát tán rộng lớn và gia
tăng mật độ, cần can thiệp sớm bằng việc sử dụng các thuốc hoá học có tính chọn
lọc cao và ở lợng thấp (Miller et al, 1992).

TNTG ở Việt Nam.
Trong các năm 1995-1997, với sự tài trợ của Trung Tâm nghiên cứu Nông nghiệp
quốc tế
ú
c (ACIAR), Viện Bảo vệ thực vật đã hợp tác với tổ chức nghiên cứu khoa học
công nghệ úc (CSIRO) tiến hành một số điều tra và nghiên cứu về cây TNTG.
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật cho thấy cây TNTG có
mặt ở hầu hết các tỉnh từ miền Núi đến Đồng Bằng.

miền Bắc, mức độ phổ biến
ít và phân tán ở các tỉnh Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Hoà Bình, Hà
Tây, Hải Dơng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Giang. ở miền Trung,
cây cũng phân bố rải rác. Riêng 8 tỉnh Nam Trung Bộ có khoảng 680 ha bị nhiễm
cây TNTG.

miền Nam, diện tích trinh nữ bị nhiễm nặng tập trung ở vùng lòng

15
hồ Trị An (khoảng 7.000 ha), lu vực sông La Ngà (hàng trăm ha) và các tỉnh
Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang. Hàng năm, vào mùa lũ hạt trinh nữ
trôi từ Campuchia, Lào sang vùng đồng bằng sông Cửu Long, khi nớc rút, hạt
nảy mầm và mọc khắp nơi.
Cũng trong khuôn khổ của dự án này, Viện Bảo vệ thực vật đã tiến hành
nghiên cứu biện pháp sinh học trừ cây TNTG. Đã nhập nội 4 tác nhân sinh học
gồm một loài đục thân (Carmenta mimosae), hai loài mọt đục hạt
(Acanthoscelides quadridentatus, A. puniceus) và một loài nấm gây đốm lá
(Phlocospora mimosae-pigrae). Đã tiến hành nhân nuôi cách ly trong phòng kín
và đánh giá tính chuyên hoá ký chủ của tác nhân sinh học nội nhập. Kết quả cho
thấy, các tác nhân sinh học nhập nội đều có tính chuyên hoá ký chủ cao. Đợc
phép của các cơ quan chức năng, loài đục thân trinh nữ (Carmenta mimosae) đã

Về tác hại của cây TNTG ở Tràm Chim: Phần lớn vờn Quốc gia Tràm
Chim là diện tích tràm ngập nớc, diện tích khoảng trống còn lại là nơi sinh sống của
nhiều loài cỏ dại có khả năng tồn tại trong điều kiện ngập nớc thuộc các họ hoà thảo
(Poaceae) và cói lác (Cyperaceae) nh sậy, cỏ lông, cỏ lác Cyperus sp. cũng nh
một số cỏ lá rộng nh bèo cái, bèo tây, dừa nớc v.v Đồng cỏ năng là bãi ăn nghỉ
của nhiều loài sinh vật quý hiếm trong đó có loài sếu đầu đỏ Grus antigone sharpii là
loài chim quý của Việt Nam và thế giới. Từ khi có sự xâm lấn của cây TNTG, thảm
thực vật bản địa có sự thay đổi, đặc biệt là cỏ họ Cyperaceae. Những nơi bị cây
TNTG xâm lấn hoàn toàn (100% diện tích che phủ) thì không có loài thực vật nào
khác mọc đợc dới gốc của nó ngoại trừ hai loài cây dây leo là cây hắc sửu
(
Merreemia hederacea
) và rau kìm
(Aniseia martinicensis)
. Do thảm thực vật bị thay
đổi, số lợng chim quây tụ ở đây giảm hẳn (Nguyễn Văn Đúng và CTV, 2001). Kết
quả thử nghiệm bớc đầu về một số biện pháp cơ giới phòng trừ cây TNTG cũng cho
thấy: các biện pháp nh chặt, đốt, chặt kết hợp với đốt đều cho hiệu quả nh nhau và
chỉ làm giảm mật độ, sinh khối và diện tích che phủ ngay sau mỗi lần xử lý, không
có tác dụng diệt triệt để, sau đó cây lại mọc tái sinh mạnh hơn. Nếu sau khi chặt có
điều kiện ngâm ngập lũ thì hiệu quả có thể kéo dài hơn, sau 4-5 tháng cây mới mọc
tái sinh trở lại (nghĩa là sau 1 mùa nớc ngập). Tuy các biện pháp không cần những
công cụ hiện đại cũng nh không đòi hỏi kỹ năng cao nhng đều rất tốn kém do phải
chi một lợng công lao động khá lớn. Chi phí cho biện pháp chặt là thấp nhất, sau đó
đến biện pháp đốt và cao nhất là biện pháp chặt kết hợp với đốt.

17
Trớc thực trạng lây lan và xâm lấn mạnh mẽ của cây TNTG, trong 2
năm 2001-2002, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã giao cho Viện Bảo vệ thực vật
thực hiện đề tài nghiên cứu: Điều tra, đánh giá mức độ tác hại của cây TNTG

Ngoài ra cây còn mọc rải rác khắp vùng đệm thuộc huyện Cát Lộc với diện tích
hàng nghìn ha và vùng lòng hồ trị an khoảng gần 10.000ha. Tại những vùng bị cây
TNTG xâm lấn, hệ động thực vật bản địa bị suy giảm nghiêm trọng, ảnh hởng tới
đa dạng sinh học của các vờn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Sự gia tăng

18
mật độ của cây TNTG cũng đang biến nhiều vùng đất canh tác thành đất hoang
hoá (Phạm Văn Lầm, Nguyễn Hồng Sơn và CTV, 2002).
- Các biện pháp phòng trừ đơn lẻ đều không mang lại hiệu quả cao. Các biện
pháp thủ công nh chặt, đốt, chặt kết hợp với đốt đều không cho hiệu quả triệt để.
Sau khi chặt hay chặt rồi đốt từ 2 tuần đến 1 tháng, các gốc cây đều có chồi mọc lại,
cây mọc nhiều chồi, chồi to và phát triển mạnh hơn. Sau khi mọc 1 tháng có chồi đã
cao tới 1m. Do đó mật độ cây mọc lại đạt xấp xỉ 50% mật độ cây trớc xử lý. Kết quả
cũng cho thấy, biện pháp đốt mà không chặt cho hiệu quả thấp nhất. Đặc biệt quá
trình đốt không chỉ không có khả năng hạn chế tái sinh và sinh trởng của mầm mà
còn kích thích cho hạt nảy mầm mạnh hơn, cha kể đến nguy cơ gây cháy rừng.

Về chi phí
: c
hi phí về công lao động cho biện pháp chặt + đốt là cao nhất
(130 công/ ha). Biện pháp đốt tuy không phải mất công chặt nhng phải chi phí
công dọn đờng băng và canh phòng chống lửa lan khi đốt nên chi phí cũng khá
cao (95 công/ ha). Biện pháp chặt tốn ít công nhất (60 công/ ha). Với giá trị công
lao động là 30.000đ/ công, chi phí cho biện pháp chặt là 2.020.000 đ, biện pháp
đốt là 5.020.000 đ và biện pháp chặt kết hợp với đốt là 6.100.000đ, cha tính công
cụ và bảo hộ lao động (Phạm Văn Lầm, Nguyễn Hồng Sơn và CTV).
Qua quá trình thực hiện đề tài, các tác giả cũng đã xác định đợc hai hoạt chất
trừ cỏ có hiệu lực cao đối với cây TNTG là
Glyphosate


trên diện rộng. Mặt khác, cũng cần xác định khả năng ứng dụng kết hợp
giữa các biện pháp với nhau để vừa đạt mục tiêu hạn chế sự gia tăng quần
thể vừa ngăn chặn sự xâm nhiễm và lây lan tiếp tục của cây TNTG ở các
vờn Quốc gia, các khu bảo tồn bị xâm nhiễm nặng.
III. Kết luận:
Cây TNTG là một loài thực vật ngoại lai nguy hiểm ở nhiều vùng
đất bán ngập thuộc các vùng nhiệt đới trên thế giới. ở nớc ta, mặc dù cây mới
phát tán rộng trong mời năm gần đây song mức độ gia tăng quần thể, xâm lấn
và gây hại của cây TNTG ở nớc ta là không nhỏ. Theo kinh nghiệm của các
nớc trên thế giới, nếu không đợc ngăn chặn kịp thời, mức độ xâm lấn sẽ trở
nên trầm trọng hơn và khi đó khó tìm ra giải pháp phòng trừ hiệu quả. Trong
khi đó, các công trình nghiên cứu về cây TNTG ở nớc ta còn quá khiêm tốn so
với các nớc trên thế giới. Một số đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và
PTNT thực hiện tuy bớc đầu đã đạt đợc những kết quả khả quan, tạo tiền đề
quan trọng cho việc định hớng các nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo để ngăn
chặn sự xâm lấn của cây TNTG ở n
ớc ta. Tuy nhiên, để có thể ứng dụng thành
công các kết quả đó khi triển khai trên diện rộng cần có những nghiên cứu bổ
sung để đánh giá toàn diện về hiệu quả kỹ thuật, kinh tế, xã hội cũng nh

20
những tác động về mặt môi trờng có liên quan, đặc biệt là đánh giá tác động
của thuốc trừ cỏ đến nguồn nớc, đất đai, hệ vi sinh vật đất và các sinh vật có
ích trong hệ sinh thái. Bên cạnh đó cũng cần đề ra biện pháp phòng trừ tổng
hợp để ngăn chặn một cách có hiệu quả và quản lý bền vững cây TNTG đối với
từng vùng sinh thái cụ thể ở nớc ta.

Hà Nội, ngày 20tháng 2 năm 2006
Ngời viết báo cáo


TNTG, Baó cáo khoa học Viện Bảo vệ thực vật, 1998, 7p.
7. Vờn Quốc gia Cát Tiên, Công tác quản lí, bảo vệ và xây dựng vờn
quốc gia Cát Tiên, tháng 12 năm 2000, 13p.
Tiếng Anh
8. Anon.(1980). Spreading Weed Menaces North Thai Agriculture.
Infoletter No. 43, Oregon State University, IPPC.
9. Benyasut, P. and Pitt, J.L, Preventing the introduction and spread of Mimosa
pigra. In: A Guild to the management of Mimosa pigra, CSIRO, Canberra, 1992, p. 8-

22
10. Nguyen Van Cam, Pham Van Lam, Hoang Cong Dien, Tran Thi Huong
and Nguyen Thuc Hien. 1997. Biological control of Giant sensitive plant Mimosa pigra
in Vietnam. The review report of ACIAR - Vietnam project number PN9319. 16p.
11. Chin Samouth, Mimosa pigra infestation and Current Threat in the Wetlands
and Floodplains of Cambodia, Papers presented at 3
rd
International Symposium on the
Management of Mimosa pigra, Darwin – Australia 23-25 September 2002, p. 29 – 32/ 173.
12. Commonweath of Autralia and National Weeds Strategy Executive
Commitee, Mimosa pigra – a weed of national significance. In: Strategy plan, 2001. 23p.
13. Danien L. McIntyre, Carl H. Menges and Waqar Ahmad, Mapping
Mimosa pigra on the Mary River Floodplain using TopSAR, Landsat ETM +
and MASTER data, Papers presented at 3
rd
International Symposium on the
Management of Mimosa pigra, Darwin – Australia 23-25 September 2002. In
Research and Management of Mimosa Pigra, p. 33/ 173
14. Grant Flanagan, Mimosa Management in the 21 Century, Papers presented
at 3
rd

Darwin – Australia 23-25
September 2002. In Research and Management of Mimosa Pigra, p. 28/ 173.
20. Lonsdale, W.M., Miller.,I.L. and Forno, I.W. (1989) . The biology of
Australian weeds. 20 Momosa pigra L. Plant Protection Quarterly 4: 119-31.
21. Marambe B., Distribution, biology and management of Mimosa
pigra in Sri Lanka, Papers presented at 3
rd
International Symposium on the
Management of Mimosa pigra, Darwin – Australia 23-25 September 2002. In
Research and Management of Mimosa Pigra
22. Miller, I.L., Napompeth, B., Forno, I. W. and Siriworakul, M.,
Strategies for the integrated management of Mimosa pigra. In: A Guild to the
management of Mimosa pigra, CSIRO, Canberra, 1992, p. 110-115.
23. Miller, I.L., and Lonsdale, W.M. (1987). Early records of Mimosa
pigra in the Northern Territory. Plant Protection Quarterly 2: 140-2.
24.Miller, I.L., and Lonsdale, W.M. (1990). The use of fire to control
Mimosa pigra
. Proceedings Ninth Australian Weeds Conference. P. 144.
25. Miller, I.L., Nemestothy, L. and Picking, S.E. (1981). Mimosa pigra
in the Northern Territory. Technical Bulletin No. 51. Northern Territory
Department of Primary Production, Division of Agriculture and Stock.
26. Nguyen Hong Son, Pham Van Lam, Nguyen Van Cam, Dang Vu Thi
Thanh, Nguyen Van Dung, Le Duc Khanh, Forno, Preliminary study on control of
Giant sensitive Mimosa pigra L. in Vietnam, Papers presented at 3
rd
International
Symposium on the Management of Mimosa pigra, Darwin – Australia 23-25
September 2002. In Research and Management of Mimosa Pigra, p.110-116/ 173.
27. Nguyen Van Cam, Pham Van Lam, Hoang Cong Dien, Tran Thi Huong
and Nguyen Thuc Hien. 1997. Biological control of Giant sensitive plant Mimosa pigra

Management of Mimosa pigra, Darwin – Australia 23-25 September 2002. In
Research and Management of Mimosa Pigra, p.22-27/ 173.
34. Tony Searle, Mimosa management a case study – Melaleuca Station,
Northern Terrilory, Australia, Papers presented at 3
rd
International Symposium on
the Management of
Mimosa pigra,
Darwin – Australia 23-25 September 2002. In
Research and Management of Mimosa Pigra, p. 154-157/ 173.
35. Wanichanantakul, P. and Chinawong, S. (1979). Some aspects of the
biology of Mimosa pigra in northen Thailand. Proceeding Seventh Conference of
the Asian Pacific Weed Science Society 1: 381-3.
36. Water House. D. F., Biological control of weed, Southeast Asian
Prospects, ACIAR, GOP. Box 1571, Canberra, Australia 2601, 1994. 302 p.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status