Viện Khoa học & công nghệ việt Nam
Phân viện Hải dơng học tại hải phòng
_________________________________
Bộ khoa học và công nghệ
Chuong trình KC-09
_____________________
Đề tài
Đề tài: Điều tra nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng
nuôi trồng thủy sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng
ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra
m số: kc.09-19 Báo cáo chuyên đề
Dẫn liệu nghiên cứu bớc đầu về sự tích luỹ độc tố tảo
ASP trong nhuyễn thể hai vỏ ở một số vùng nuôi thuỷ
sản ven biển miền Bắc, Việt Nam
riêng mới chỉ đợc bắt đầu tại Việt Nam trong những năm gần đây do nhóm các
nhà Khoa học thuộc Phân viện Hải dơng học tại Hải Phòng và Viện hải dơng
học Nha Trang thực hiện.
Năm 2003, trong khuôn khổ hợp tác song phơng giữa các nhà khoa học Việt
Nam và Nhật Bản thuộc chơng trình JSPS, một nội dung nghiên cứu về khả
năng tích luỹ độc tố vi tảo trong nhuyễn thể hai vỏ tại một số vùng nuôi trồng
thuỷ sản phía Bắc đã đợc thực hiện bởi nhóm các nhà khoa học thuộc Phân
viện Hải dơng học tại Hải Phòng và Trờng Đại học Kitasato (Nhật Bản). Bên
cạnh đó, một số nội dung nghiên cứu về lĩnh vực tảo độc hại cũng đã đợc tiến
hành trong phạm vi đề tài cấp Viện KH và CN Việt Nam do Viện Công nghệ
Môi trờng chủ trì (2003-2004) và đề tài thuộc Bộ Thuỷ sản do Viện Nghiên
cứu Hải sản chủ trì. Các nghiên cứu trên bớc đầu đã thu đợc một số kết quả
nhất định. Trong khuôn khổ của bài báo này, chúng tôi trình bày tóm tắt một số
kết quả đã đạt đợc trong quá trình nghiên cứu về sự tích luỹ độc tố tảo ASP
trong nhuyễn thể hai vỏ ở một số vùng nuôi thuỷ sản ven biển miền Bắc, Việt
Nam. 1. Hàm lợng độc tố ASP trong nhuyễn thể hai vỏ
Theo kết quả quan trắc về thành phần loài và mật độ tế bào của các loài tảo
độc hại tại vùng ven biển phía Bắc cho thấy, loài tảo Silíc thuộc chi
Pseudonitzschia thờng xuyên có mặt trong các tháng thu mẫu với mật độ dao
động từ hàng trăm đến hàng ngàn tế bào trên lít (TB/L), có tháng chúng trở
thành loài chiếm u thế tuyệt đối với mật độ đạt tới hàng trăm ngàn TB/L, có
khi gây nở hoa nớc trong phạm vi hẹp. Đây là các loài tảo Silíc đã đợc các tác
giả trên thế giới nghiên cứu và phát hiện phần lớn các loài thuộc chi tảo này có
khả năng sản sinh độc tố ASP (Amnesic Shelfish Poisoning) - loại độc tố làm
ảnh hởng đến các tế bào thần kinh có bản chất là domoic axít (DA).
1.1. Khu vực Đồ Sơn, Cát Bà (Hải Phòng)
I
3
-
0
5-
I
3
-
0
6-
I
3
-
0
7-
I
3
-
0
8-
I
3
-
0
9-
I
3
-
1
0-
DA (ng/ml)
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
2
00
3
-
0
4
-
I
3
-
05
-
I
3-06
-
I
3-07
-
ngao và vẹm vẫn còn thấp hơn tiêu chuẩn cho phép khi sử dụng chúng làm thực
phẩm cho cộng đồng dân c ven biển nhiều lần. 0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
2
00
3
-
0
4
-
I
3
-
0
4-
I
I
3
I
I
3
-
0
8-
I
3
-
0
8-
I
I
3
-
0
9-
I
3
-
0
9-
I
I
3
-
1
0-
I
3
-
0
1
-
I
4
-
0
1-
I
I
4
-
0
2-
I
4
-
0
2-
I
I
4
-
0
3-
I
4
-
5/2002 đến tháng 8/2003), HLĐT ASP trong ngao Meretrix meretrix ở cả 3
vùng nuôi trên đều thấp, dới 2,5àg/100g thịt ngao.
1.3. Mối quan hệ giữa hàm lợng độc tố đợc tích luỹ trong các mô nội tạng
của nhuyễn thể hai vỏ và mật độ các loài tảo thuộc chi Pseudonizschia
1.3.1. Trong nớc biển tự nhiên
Sự tích luỹ độc tố trong nhuyễn thể hai vỏ có mối tơng quan với mật độ
các loài tảo TTĐH trong nớc biển hay không ? còn là một câu hỏi cho các nhà
nghiên cứu. Ngao và vẹm có tập tính ăn lọc, chúng sẽ ăn tất cả các loài vi tảo có
mặt trong khu vực nuôi. Các kết quả phân tích về thành phần loài và mật độ
TB/L của các loài thuộc chi Pseudonitzschia tại các khu vực thu mẫu ngao và
vẹm cho kết quả rất trái ngợc nhau.
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
Thái BìnhNam Định Thanh
Hoá
Thái BìnhNam Định Thanh
Hoá
Tháng 6/2003 Tháng 9/2003
Địa điểm và thời gian thu mẫu
Mật độ TB/L
0
50
phơng pháp ELIZA. Kết quả bớc đầu cho thấy, 2 loài tảo thuộc chi
Pseudonitzschia phân lập đợc từ mẫu thu tại Giao Lạc (Nam Định) là loài có
khả năng sản sinh ra độc tố ASP (DA) trong tế bào. Hàm lợng độc tố DA trong
tế bào của mỗi loài cũng biến động khác nhau.
Mặt khác, loài tảo silic Nitzschia navis-varingica phân lập đợc từ ao
nuôi Đồ Sơn, Hải Phòng cũng đã tìm thấy có chứa domoic acid (nhóm ASP)
[Kotaki và cộng sự, 2000].
Đây mới chỉ là những nghiên cứu bớc đầu góp phần làm sáng tỏ khả
năng tích luỹ độc tố tảo trong nhuyễn thể, rất cần có các nghiên cứu tiếp theo
nhằm tìm hiểu cơ chế tự sản sinh độc tố trong mỗi tế bào của các loài tảo độc
hại cũng nh cơ chế tích luỹ độc tố trong nhuyễn thể hai vỏ.
2. Đánh giá mức độ an toàn của độc tố ASP trong nhuyễn thể hai vỏ đợc
nuôi tại khu vực phía Bắc
Độc tố ASP không gây nguy hiểm cho tính mạng của con ngời nh độc tố
PSP (nh gây tê liệt thần kinh, dễ dàng dẫn đến tử vong khi ăn phải nhuyễn thể
hai vỏ có tích luỹ loại độc tố này), nhng độc tố ASP có thể làm giảm trí nhớ,
ảnh hởng đến các tế bào thần kinh của ngời. Vì vậy, độc tố ASP cũng đợc
quan tâm nghiên cứu và hiện là một trong những tiêu chuẩn kiểm định an toàn
thực phẩm trong xuất nhập khẩu thuỷ sản của các nớc EU và phơng Tây. Với
đặc tính có thể tự lọc sạch, đào thải độc tính nếu ngao đợc nuôi trong nớc
sạch (Grimmel và cộng sự, 1990) sau nhiều ngày, nhng độc tố trong mô không
bị phân huỷ khi nấu với nhiệt độ cao, thậm chí thời gian dài. Điều này đã làm
độc tố ASP trở nên nguy hiểm hơn vì không thể loại trừ khỏi thực phẩm khi
nhuyễn thể đã tích luỹ loại độc tố này trong thời gian khai thác. Để bảo vệ sức
khoẻ của ngời dân, hiện tại một số nớc đã có các tiêu chuẩn cụ thể về mật độ
của các loài tảo Silíc thuộc chi Pseudonitzschia trong nớc biển tại các khu nuôi
- Có tích luỹ độc tố ASP trong ngao, vẹm nuôi, nhng hàm lợng độc tố
thấp dới mức quy định an toàn trong sử dụng thực phẩm nhiều lần.
- Hàm lợng độc tố ASP biến động theo thời gian, địa điểm thu mẫu và đối
tợng nghiên cứu.
- Để có đợc những câu trả lời đầy đủ về cơ chế tích luỹ độc tố trong
nhuyễn thể hai vỏ và mối tơng quan với mật độ tảo TTĐH trong nớc
biển rất cần có những nghiên cứu tiếp theo. Tài liệu tham khảo
Nguyễn Văn Nguyên, Đào Việt Hà và cộng sự, 2004. Báo cáo đề tài cấp Bộ
Điều tra nghiên cứu tảo độc hại ở ba vùng nuôi ngao tập trung tại Thái
Bình, Nam Định và Thanh Hoá. Báo cáo hiện lu giữ tại Th viện, viện
nghiên cứu Hải sản.
Chu Văn Thuộc, Nguyễn Thị Minh Huyền, 2004. Báo cáo đề tài nhánh thuộc đề
tài cấp Viện KH và CN Việt Nam: Nghiên cứu tảo độc ở những vùng nuôi
nhuyễn thể hai mảnh vỏ trọng điểm của Việt Nam và đề xuất một số giải
pháp phòng ngừa. Báo cáo hiện lu giữ tại th viện Phân viện Hải dơng
học tại Hải Phòng .
Andersen P. (1996), Design and implementation of some harmful algal
monitoring system, IOC Technical Series No. 44, UNESCO.
Anderson D. M., Andersen P., Bricelj M. V., Cullen J. J., Rensel J. E. J. (2001),
Monitoring and Management Strategies for Harmful Algal Blooms in
Coastal Waters, APEC, Singapore and IOC Technical Series No.59, Paris.
Falconer I. R. (1993), Algal toxins in seafood and drinking water, Academic
Press, Harcourt Brace & Company.
Kotaki Y., Koike K., Yoshida M., Thuoc C. V., Huyen N. T. M., Hoi N. C.,
Fukuyo Y. and Kodama M. (2000), Domoic acid production in Nitzschia
sp. (Bacillariophyceae) isolated from a shrimp-culture pond in Do Son,