Viện khoa học và công nghệ việt nam
Viện tài nguyên và môi trờng biển
=========000========= Đề tài cấp nhà nớc kc-09-19
Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng
nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp
phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra
Chủ nhiệm đề tài: TS. Chu Văn Thuộc
Báo cáo chuyên đề
Hàm lợng độc tố gây tiêu chảy (DSP)
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
ở một số vùng nuôi thủy sản tập trung
miền Bắc và bắc trung bộ
Ngời thực hiện:
ThS. Nguyễn Thị Minh Huyền, CN. Phạm Thế Th,
ThS. Nguyễn Thị Thu, CN. Trần Mạnh Hà
Phòng Sinh vật phù du và Vi sinh vật Biển,
Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển
Tel. (031) 565 495 Fax. (031) 761 521
e-mail:
yessotoxin (YTXs) và các dẫn xuất của các loại độc tố trên. Quá trình trao đổi chất ở
các động vật biển nh động vật thân mềm hai mảnh vỏ có thể làm thay đổi các độc tố
và quá trình hình thành nên các dẫn xuất của độc tố.
Sự biến đổi các hợp phần độc tố, mức độ, khả năng có thể xuất hiện cùng với các
loài tảo Giáp khác nhau, cách biệt địa lý, các điều kiện môi trờng, thành phần và độ
phong phú của các nhóm tảo khác nhau, và các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ
cũng đợc coi là các nhân tố. Điều này không phải chỉ xảy ra với độc tố DSP bởi vì các
quá trình này cũng tơng tự sự biến đổi độc tố của việc xuất hiện các độc tố gây tê liệt
cơ (PSP). Sự biến đổi độc tố có thể là một vấn đề đối với các chơng trình quan trắc của
Chính phủ. Nhìn chung việc đóng cửa các bãi nuôi thân mềm dựa trên cơ sở sự xuất
hiện và phong phú của các loài nghi ngờ có độc nhiều hơn sự hiện diện của độc tố
trong thức ăn hải sản [Sampayo và công sự, 1990]. ở một số nớc, việc thu mẫu
Dinophysis đợc thực hiện đều đặn trong suốt mùa thờng xảy ra bùng phát độc tố
DSP, khi số lợng đếm vợt quá số lợng cho phép, việc kiểm tra độc tố trong nhuyễn
thể đợc bắt đầu thực hiện. Đối với phần lớn các kết quả tổng quan bao hàm toàn diện
giai đoạn gần đây của độc tố DSP và Dinophysis, và ảnh hởng tiềm ẩn của
Prorocentrum minutum [Sournia (1991)].
Prorocentrum lima cũng sản sinh ra okadaic axit, DTX-1 và các polyether đợc
gọi là prorocentrolie [Yasumoto 1990].
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
2
Sự tiêu thụ các hải sản đã bị nhiễm độc tố tảo có thể gây ra hàng loạt các triệu
chứng bệnh lý về hệ thần kinh ở ngời. Các bệnh lý và các triệu chứng lâm sàng quan
trọng đợc tóm tắt trong các bảng 1.
Bảng 1. Một số triệu chứng khi bị ngộ độc độc tố DSP [Anderson, 1996]
tỷ lệ các hợp chất hữu cơ đợc sử dụng trong quá trình chiết rút. Phần lớn các nớc đều
thiết lập giới hạn phát hiện trong các phơng pháp sử dụng phân tích. Nớc đầu tiên
thiết lập giới hạn cho phép là Nhật Bản với mức 5MU/100g mô thân mềm nhuyễn thể
(tơng đơng với 20 àg/100g mô). Giới hạn này cũng đợc thiết lập ở Hàn Quốc và
New Zealand. Phần lớn các nớc ứng dụng phơng pháp thử nghiệm trên chuột sẽ căn
cứ vào thời gian sống sót của chuột để xác định hàm lợng độc tố và các nớc có các
giới hạn khác nhau trong lĩnh vực này.
Đối với cộng đồng Châu Âu, quy định giới hạn tối đa nh sau: a/ mức tối đa của
okadaic a xít, dinophysistoxin và pectenotoxin là khoảng 160àg OAeq/1 kg nội tạng
hoặc toàn bộ thịt nhuyễn thể; b/ mức tối đa cho phép đối với độc tố yessotoxin là 1mg
YTXeq/1 kg nội tạng hoặc toàn bộ mô.
ở Việt Nam, Bộ thuỷ sản đã có quy định giới hạn tối đa đối với loại độc tố này
trong sử dụng làm thực phẩm là 20 àg/100g mô thịt động vật thân mềm hai mảnh vỏ.
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
3
Các loài ĐV động vật thân mềm hai mảnh vỏ và cá sống rạn là đối tợng chủ
yếu tích luỹ độc tố tảo, tuy nhiên một số sinh vật biển khác nh cua, rùa biển cũng có
thể tích luỹ các độc tố này [Shmway 1990, Landsberg 2002]. Điều quan trọng là các
độc tố tảo không hề gây ra bất cứ mùi vị khác lạ nào cho thực phẩm biển, do đó ng
dân hoặc ngời tiêu thụ không thể nào phát hiện ngay lập tức sự có mặt của chúng mà
chỉ có thể phát hiện bằng các phơng pháp thử nghiệm sinh học hoặc phân tích hoá học.
Một vấn đề quan trọng nữa là các độc tố tảo không bị phá huỷ trong quá trình đun nấu
và chính vì vậy chúng có thể tồn tại ở cả các sản phẩm hải sản đóng hộp, cấp đông hoặc
các sản phẩm chế biến khác.
Giới hạn về an toàn cho phép của Quốc tế khi sử dụng cho toàn bộ phần thịt
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
4
hầu hết các vùng nghiên cứu. Chi Dinophysis bao gồm các loài phân bố rộng, chúng rất
khi hình thành nở hoa với mật độ tế bào cao. Riêng với loài D.fortii với mật độ thấp
khoảng 20 tb/L đủ để ngộ độc gây tiêu chảy trên phạm vi rộng lớn [Yasumoto và
cs.1980].
Chi Prorocentrum, các loài độc hại thờng sống đáy và thờng gặp trong vùng
nhiệt đới trên san hô chết trong các vũng vịnh kín [Grzebyk và cs. 1994], chỉ có một số
loài gây hại có đời sống trôi nổi và dễ hình thành nở hoa trên phạm vi rộng lớn nh loài
Prorocentrum micans.
Các nghiên cứu từ trớc đến nay ở Việt Nam về lĩnh vực tảo độc đã cho thấy sự
phân bố của các loài vi tảo tiềm tàng độc hại khá phong phú dọc theo các vùng ven
biển, trong đó có một số loài bắt gặp với tần xuất xuất hiện nhiều và mật độ cao tại các
vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung và một số đầm nuôi tôm nh Prorocentrum
minimum mật độ đạt tới 10
7
tb/L tại đầm tôm (Đồ Sơn Hải Phòng) [Chu Văn Thuộc,
2002]. Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Nguyên (2003) cho thấy loài Dinophysis
caudata phân bố phổ biến trong các vùng biển phía Bắc, mật độ của chúng biến động
rất mạnh, dao động từ 0 đến 3.000tb/L. Nhng mật độ này vẫn thấp hơn mật độ cao
nhất đã bắt gặp ở vịnh Hạ Long là 6.000 tb/L [Chu Văn Thuộc, 2002] và 11.000tb/L
[Nguyễn Ngọc Lâm, 2002]. Đặc biệt loài Dinophysis caudata đợc coi là nguyên nhân
chính gây ra độc tố DSP hoành hành ở nhiều nơi trên thế giới nh vùng Địa Trung Hải
[Aubry và cs. 2000; Sidari, 1995; Tubaro và cs. 1995] và vùng biển Atlantic [Mendez,
1991]. Từ các kết quả nghiên cứu ở trên đã gợi ý khả năng tích luỹ độc tố của các sinh
vật biển và khả năng bùng phát các hiện tợng ngộ độc ở ngời trong các khu vực đó.
2.1.1. Đối tợng nghiên cứu
+ Vùng biển Hải Phòng: Vẹm xanh (Mytilus sp.) và Ngao (Meretrix meretrix) là
những đối tợng động vật thân mềm hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế đợc nuôi chủ yếu
tại hai vùng biển Cát Bà và Đồ Sơn (Hải Phòng) vừa phục vụ xuất khẩu thuỷ sản, vừa
phục vụ chế biến đồ ăn hải sản cho khách du lịch tại chỗ.
+ Vùng biển Thái Bình: Ngao (Meretrix sp.) là đối tợng đợc nuôi chủ yếu tại
các vùng ven biển Thái Bình và cũng là đối tợng đợc nghiên cứu hàm lợng các độc
tố vi tảo trong khuôn khổ của đề tài KC-09-19.
+ Vùng biển Lăng Cô (TT Huế): Vẹm xanh (Mytilus sp.) là đối tợng thân mềm
hai vỏ đợc nuôi vừa cung cấp thực phẩm cho dân địa phơng vừa là đồ hải sản đợc
khách du lịch a chuộng trong các bữa ăn nên đã đợc chọn làm đối tợng nghiên cứu
của đề tài.
2.1.2. Tần xuất thu mẫu
+ Vẹm xanh và Ngao nuôi tại vùng biển Hải Phòng, đợc thu một tháng 2 lần và
thu liên tục trong một năm từ tháng 5/2004 đến hết tháng 4 năm 2005. Tổng số mẫu
đợc tiến hành phân tích tại mỗi một điểm nghiên cứu là : Cát Bà 24 mẫu, Đồ Sơn: 24
mẫu.
+ Ngao nuôi tại Thái Bình và Vẹm xanh nuôi tại vùng biển Lăng Cô (Huế) đợc
thu mỗi tháng 1 lần cùng với các mẫu tảo và mẫu hoá nớc tại vùng nghiên cứu.
Ngoài ra còn sử dụng các số liệu đã đợc quan trắc liên tục trong 2 năm 2002-
2004 của dự án JSPS trong khuôn khổ hợp tác song ph
ơng giữa Viện tài nguyên và
Môi trờng Biển (thuộc VAST) của Việt Nam và trờng Đại học Kitasato của Nhật
Bản.
2.2. Phơng pháp thu mẫu và xử lý mẫu
- Đồ Sơn: Ngao đợc đặt ngời cào hàng tháng trên bãi tự nhiên vào các thời
điểm có con nớc trong tháng (tháng thu 2 lần), lựa những con có kích cỡ ổn định, đều
nhau hàng tháng.
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra
Phân tích DSP khi có thể (1mL dịch chiết = 0,25gmô)
Bảo quản trong tủ đá (-18
o
C là tốt nhất)
+ Phần còn lại, đựng mẫu trong lọ sạch, nút kín và bảo quản trong tủ đá nhiệt độ
càng thấp càng tốt (-18
o
C là tốt nhất).
2.2. Phơng pháp phân tích độc tố DSP
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
7
Tất cả các mẫu sau khi xử lý, đợc phân tích hàm lợng độc tố DSP theo phơng
pháp "OA-check" (Mitsubishi Kagaku Iatron, Inc., Nhật Bản) [Hallegraeff (Eds),
2004].
Các kit thử độc tố DSP đã đợc sản xuất bởi các nhà phân phối thơng mại nh
phòng thí nghiệm SCETI, Tokyo, Nhật Bản (DSP check) và kỹ thuật sinh học
Rougier, Montreal, Canada.
Việc kiểm tra đã sử dụng rất thành công việc phát hiện độc tố OA và DTX trong
mô động vật thân mềm hai mảnh vỏ , đặc biệt là gan tuỵ (Chin và cs. 1995; Carmody và
cs. 1995 ).
2.3. Phơng pháp xử lý, tính toán hàm lợng độc tố trong các loài động vật thân
)
Hình 2.1 Đồ thị đờng chuẩn để tính toán hàm lợng độc DSP dựa trên các nồng độ
chất chuẩn của OA standar
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
8
2.3.3. Đánh giá hàm lợng độc tố
Hàm lợng độc tố trong mỗi mẫu thử bằng việc sử dụng bớc 2 = A(nM) = A
nmol/L : 1000 = B nmol/mL
2.3.4. Tính tổng hàm lợng độc tố DSP
Tính toán tổng hàm lợng độc tố DSP trong 1mL mẫu thân mềm đã xử lý cho
phân tích độc tố theo các bớc trên bằng cách:
= B (nmol/mL) x MW (trọng lợng phân tử của độc tố) = C(ng/mL)
2.3.5. Tính hàm lợng độc tố trong 1g mẫu mô nội tạng của động vật thân mềm hai
mảnh vỏ
= C (ng/mL) : 4000ng (=1MU) x 8 ( dịch chiết chứa 0,25 g mô nội tạng, pha
loãng 2 lần) = D (MU/g mô nội tạng)
III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trong số các nhóm độc tố biển, nhóm độc tố DSP bao gồm các độc tố gây nhiều
động từ 0 đến vài phần nghìn MU/g mô nội tạng. Kết quả đợc biểu diễn trong hình
3.1.
0
0.005
0.01
0.015
0.02
0.025
10/5/04
25/5/04
8/6/04
20/6/04
8/7/04
21/7/04
4/8/04
18/8/04
14/9/04
26/9/04
11/10/04
20/10/04
7/11/04
21/11/04
4/12/04
18/12/04
11/1/05
24/1/05
6/2/05
23/2/05
9/3/05
20/3/05
0.005
0.01
0.015
0.02
0.025
10/5/04
25/5/04
8
/
6
/
0
4
2
0/6/0
4
8
/
7
/
0
4
21/7/04
4/8/04
18/8/04
1
4/9/0
4
2
6/9/0
5
/
4
/
0
5
29/4/05
Thời gian
thu mẫu
MU/g mô nội tạng
0
20
40
60
80
100
120
140
tb/L
Hàm lợng độc tố DSP (OA) Mật độ chi Dinophyis
Hình 3.2. Mối tơng quan giữa hàm lợng độc tố DSP trong ngao nuôi Đồ Sơn và mật
độ nhóm sản sinh độc tố chi Dinophysis quan trắc năm 2004-2005
Hình 3.2 cho thấy mối tơng quan khá chặt chẽ giữa hàm lợng độc tố DSP
trong ngao nuôi và mật độ chi Dinophysis tại Đồ Sơn. Đỉnh của hàm lợng độc tố và
đỉnh của mật độ thờng không trùng nhau, nhng đỉnh mật độ Dinophysis luôn đi
trớc. Trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10, mật độ chi này luôn thấp và hàm lợng
độc tố DSP cũng thấp, giai đoạn từ tháng 10 năm 2004 đến tháng 4 năm 2005, mật độ
dao động mạnh hơn đạt đến 120 tb/L, tuy không cao nhng hàm lợng động tố DSP
5/8/04
17/9/04
13/10/04
9/11/04
5/12/04
12/1/2005
5/2/05
10/3/05
5/4/05
Thời gian thu mẫu
MU (OA)/g mô nội tạng
Hình 3.3. Biến động hàm lợng độc tố DSP trong vẹm xanh nuôi tại Cát Bà
(số liệu quan trắc năm 2004-2005)
Có thể thấy, hàm lợng độc tố DSP đợc tích luỹ trong vẹm xanh nuôi tại Cát Bà
cao hơn DSP tích luỹ trong ngao nuôi tại Đồ Sơn. Đặc biệt, một đỉnh độc tố đợc hình
thành trong vẹm xanh Cát Bà từ tháng 1 năm 2005 và giảm dần sang tháng 3. Kết hợp
với các kết quả nghiên cứu về định tính và định lợng của các chi có khả năng sản sinh
loại độc tố này cho thấy ở Cát Bà các loài thuộc chi Prorocentrum thờng ít bắt gặp, trừ
P. micans, nhng loài này cha có nghiên cứu nào đề cập đến khả năng sản sinh độc tố
trừ khả năng dễ bùng phát mật độ trên diện rộng. Còn chi Dinophysis, loài phân bố chủ
yếu là loài D. caudata và co tháng bắt gặp D. rotundata, trong nghiên cứu định tính số
loài có độc tố bắt gặp nhiều hơn nhng mật độ rất thấp không gặp trong các mẫu định
lợng. Tìm hiểu mối tơng quan giữa hàm lợng độc tố DSP trong vẹm xanh và mật độ
chi Dinophysis trong vùng biển này đợc kết quả trong hình 3.4. Kết quả trên hình 3.4
cho thấy mối tơng quan không chặt chẽ giữa hàm lợng độc tố và mật độ, chi
Dinophysis luôn có mật độ cao trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 9, còn hàm
lợng độc tố lại tạo thành đỉnh cao nhất vào đợt quan trắc I của tháng 2 năm 2005 khi
mà mật độ của chi Dinophysis trong khoảng thời gian này rất thấp, có khi = 0. Để có
0
4
20/7/04
5
/
8
/04
17/8/04
1
7/9/0
4
30/9/04
13/10/04
2
1/10
/04
9/11/04
2
3/11
/04
5
/
1
2/0
4
20/12/04
1
2/1/2
00
5
Hình 3.4. Tơng quan giữa hàm lợng độc tố DSP đợc tích luỹ trong mô nội tạng của
vẹm xanh với mật độ chi Dinophysis trong vùng biển Cát Bà (quan trắc 2004-2005)
3.1.2. Biến động hàm lợng độc tố DSP trong ngao (Meretrix sp.) nuôi tại Tiền Hải
Thái Bình
Ngao nuôi tại Thái Bình đợc thu mẫu với tần xuất 1lần/tháng, kết quả phân tích
hàm lợng độc tố DSP trong ngao nuôi tại Thái Bình cho thấy ngao có tích luỹ độc tố
DSP trong mô nội tạng nhng cũng nh ngao Đồ Sơn và vẹm xanh nuôi ở Cát Bà hàm
lợng độc tố DSP trong ngao Thái Bình rất thấp, biến động ít, dao động từ 0,002 đến
0,008 MU/g mô nội tạng.
0
0.001
0.002
0.003
0.004
0.005
0.006
0.007
0.008
0.009
5/04 6/04 7/04 8/04 9/04 10/04 11/04 12/04 1/05 2/05 3/05 4/05
Thời gian thu mẫu
MU (OA)/g mô nội tạng
Hình 3.5. Biến động hàm lợng độc tố DSP trong ngao nuôi Thái Bình quan trắc
năm 2004-2005
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra
So sánh kết quả quan trắc trong năm 2004-2005 của phòng thí nghiệm sinh vật
phù du với nhóm tác giả trên nhận thấy, các kết quả đợc phân tích bằng phơng pháp
ELISA bởi các kít thử thơng phẩm OA-check" (của hãng Mitsubishi Kagaku Iatron,
Inc., Nhật Bản) cho độ nhạy rất lớn đối với hàm lợng độc tố DSP tích luỹ trong các đối
tợng động vật thân mềm hai mảnh vỏ. Độc tố này đợc phát hiện ở hàm lợng rất thấp
từ vài phần trăm ng đến vài chục g/g mô nội tạng của động vật thân mềm hai mảnh vỏ .
So với giới hạn an toàn của độc tố này là 20 àg/100 thịt hoặc 0,5 MU/g mô nội
tạng thì tất cả các mẫu nghiên cứu đều nằm trong phạm vi an toàn cho ngời tiêu dùng
với mức độ cao.
Mặt khác, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Nguyên (2004) tại vùng biển
Thái Bình, chi Dinophysis thờng có mật độ cao vào tháng 8, 9 /2002, sau đó giảm dần
và hầu nh biến mất trong mùa đông. Mật độ bắt đầu tăng trở lại vào tháng 3-4, tuy
nhiên quy luật này lặp lại không rõ ràng trong năm sau. Kết quả phân tích định tính,
định lợng trong năm quan trắc 2004-2005 tại Thái Bình của tác giả Lê Thanh Tùng
cho thấy loài Dinophysis caudata đạt mật độ cao vào các tháng 8, 12 năm 2004 và cao
nhất vào tháng 3 năm 2005 (mật độ đạt 600 tb/L). Tuy nhiên lại không nhận thấy mối
tơng quan chặt chẽ giữa mật độ của loài này và chi Dinophysis với hàm lợng độc tố
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
14
DSP tích luỹ trong ngao nuôi tại Thái Bình, đỉnh độc tố đợc tích luỹ cao nhất vào
tháng 7 năm 2004, tiếp theo là trong các tháng 10, 11 năm 2004.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Nguyên và cs. 2004 cũng cho thấy không
có mối quan hệ giữa hàm lợng độc tố với mật độ tảo chi Dinophysis trong khu vùng
nghiên cứu. Tơng tự nh vậy, Tubaro và cs. 1995 cũng không tìm thấy mối tơng quan
giữa mật độ Dinophysis caudata và hàm lợng độc tố ghi nhận trong vẹm xanh ở vùng
Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
15
Mặt khác, các kết qủa nghiên cứu định tính và định lợng về mật độ của các loài
thuộc chi Dinophysis và Prorocentrum do nhóm tác giả Đại Học Huế thực hiện cho
thấy chi Prorocentrum thờng xuyên gây mật độ cao và rất cao trong các đầm nuôi tôm.
Còn tại trạm thu mẫu ngoài cửa đầm (điểm nuôi vẹm xanh) mật độ các nhóm tảo độc
hại đều thấp dới 100tb/L trừ nhóm Pseudonitzschia đạt trung bình 170 tb/L.
Chi Dinophysis xuất hiện rải rác ở cả 5 trạm khảo sát và có mật độ thấp nhất
trong các nhóm tảo gây hại. Vì vậy không thể thấy đợc mối tơng quan giữa hàm
lợng độc tố DSP tích luỹ trong vẹm xanh và mật độ chi Dinophysis trong vùng biển
Lăng Cô.
3.3. So sánh khả năng tích luỹ độc tố DSP trong ngao và vẹm xanh nuôi tại các
vùng nghiên cứu
Các đối tợng động vật thân mềm hai mảnh vỏ ngao và vẹm xanh đợc nuôi ở các
vùng nuôi trên có khả năng tích luỹ độc tố DSP khác nhau, vì sự tích luỹ này phụ thuộc
vào đối tợng động vật thân mềm hai mảnh vỏ , vào thành phần và mật độ các nhóm
loài có khả năng sản sinh độc tố và vào các yếu tố môi trờng tại các vùng nuôi. So
sánh hàm lợng độc tố tích luỹ trong ngao và vẹm nuôi tại Đồ Sơn, Cát Bà (Hải Phòng),
Thái Bình và Huế ta có kết quả trong bảng 3.2. và các hình 3.7, 3.8.
Bảng 3.2. So sánh hàm lợng độc tố DSP tích luỹ trong mô nội tạng ngao và vẹm xanh
trong 4 vùng nghiên cứu trên
Số liệu quan trắc 2004-2005
Hàm
lợng (MU/g)
Đồ Sơn Cát Bà Thái Bình Huế
Cao nhất 0,021 1,239 0,008 0,01
21/10/04
9/11/04
23/11/04
5/12/04
20/12/04
12/1/2005
25/1/05
5/2/05
24/2/05
10/3/05
18/3/05
5/4/05
28/4/05
Thời gian
thu mẫu
MU/g mô nội tạng
Ngao Đồ Sơn Vẹm xanh Cát Bà
Hình 3.7. So sánh hàm lợng độc tố DSP trong ngao và vẹm xanh nuôi ở khu vực Hải
Phòng quan trắc năm 2004-2005
Hình 3.7 cho thấy hàm lợng độc tố DSP đợc tích luỹ trong mô nội tạng của
vẹm xanh cao hơn ngao, nhìn chung các tháng đều thấp, thời gian tạo đỉnh độc tố của
ngao và vẹm đều trùng nhau (tháng 10 năm 2004) nhng độc tố DSP đợc tích luỹ
trong vẹm cao hơn ngao rất nhiều lần (59 lần).
0
0.002
0.004
0.006
thải độc tố của từng loại sinh vật, các tác nhân của môi trờng ảnh hởng đến khả năng
sản sinh độc tố của các nhóm loài tảo có độc tố, các tác nhân môi trờng ảnh hởng đến
khả năng tích luỹ độc tố trong các đối tợng sinh vật dựa trên cơ sở sức chống chịu của
hệ thần kinh các sinh vật đối với độc tố và mật độ các loài tảo độc có mặt phù hợp với
khả năng ăn lọc của chúng.
3.4. So sánh hàm lợng độc tố và độ an toàn thực phẩm trong động vật thân mềm
hai mảnh vỏ thuộc 4 vùng nuôi trên
Nh chúng ta đã biết độc tố DSP gây ảnh hởng đến hệ tiêu hoá, các nhóm độc
tố thuộc DSP kích thích trực tiếp đối với quá trình co thắt các cơ trơn của hệ tiêu hoá
(Bialojan và Takai, 1988; Haystead và cs. 1989). Chính vì vậy việc quan trắc loại độc tố
này và mật độ các nhóm loài có khả năng sản sinh ra loại độc tố DSP đã đợc rất nhiều
nớc thực hiện.
Thông thờng chơng trình quan trắc DSP đợc thực hiện vùng ven bờ Atlantic
từ những năm 1990 bằng phơng pháp thử nghiệm trên chuột và HPLC (Yasumoto và
cs. 1984). Nếu có kết quả dơng tính trong thử chuột hoặc mật độ nhóm tế bào có khả
năng sản sinh độc tố DSP đợc quan trắc cao trong mẫu thực vật phù du, lập tức đợc
kiểm tra lại hàm lợng độc tố bằng phơng pháp phân tích HPLC hoặc ELISA.
Đan Mạch, giới hạn mật độ của các loài tảo độc hại đợc quy định trong bảng
sau, giới hạn này đ
ợc xây dựng dựa trên các thông tin từ các nguồn tài liệu lu trữ
cùng với các quy định cơ bản, giới hạn này có thể thay đổi tuỳ theo tình hình thực tế
nếu cần thiết. Trong suốt các năm quan trắc cho thấy thậm chí mật độ của các loài
trong chi Prorocentrum đạt đến 106 tb/L thì kết quả vẫn không có độc tố tích luỹ trong
nhuyễn thể. Các thí nghiệm đã cho kết quả không có giới hạn mật độ cố định đối với
chi này. Giới hạn mật độ với chi Dinophysis cũng có nhiều thay đổi phụ thuộc vào các
kết quả nghiên cứu sự tích luỹ độc tố DSP trong nhuyễn thể đợc nghiên cứu.
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra
Canada 20àg/100g Thử chuột, HPLC và
ELISA
Đan Mạch Hiện tại (2 hoặc 3 chuột chết
trong vòng 24h)
Thử chuột, HPLC
Pháp Hiện tại (2 hoặc 3 chuột chết
trong vòng 24h)
Thử chuột
Italia 5 giờ thử trên chuột Thử chuột
Ireland thử dơng tính Thử chuột và LC-MS
Nhật Bản 5MU/100g = 20àg/100g Thử chuột
Hàn Quốc 5MU/100g = 20àg/100g Thử chuột
Netherland 0,2-0,4àg/g mô nội tạng Thử ĐV gặm nhấm
Norway 5-7MU/100g (=20-30àg/100g) Thử chuột
Portuway Hiện tại (20àg/100g) Thử chuột
Thuỵ Sĩ 0,4-0,6 àg/100g Thử chụôt
UK (bắc đảo) 20àg/100g Thử ĐV gặm nhấm
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
19
Trong số những loài Dinophysis phân bố ở Việt Nam thì loài Dinophysis
caudata thờng có mật độ cao hơn các loài khác trong chi và xuất hiện thờng xuyên
nhất nên có thể coi là nguồn sản sinh độc tố chủ yếu trong các khu vực nghiên cứu. Kết
quả nghiên cứu cho thấy loài này có mặt khá thờng xuyên, nhng mật độ trong thời
gian nghiên cứu luôn thấp.
Ngợc lại khi so sánh giới hạn cho phép trong sử dụng và khai thác các đối
Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
20
Kết luận và kiến nghị
Kết luận
Đây là những kết quả nghiên cứu đầu tiên về khả năng tích luỹ độc tố DSP trong
ngao và vẹm xanh nuôi ở khu vực Hải Phòng và Huế trừ ngao nuôi Thái Bình đã đợc
công bố bởi nhóm tác giả Nguyễn Văn Nguyên (2004). Kết quả nghiên cứu đợc cho
thấy:
- Các nghiên cứu đã phát hiện trong ngao và vẹm xanh nuôi tại 4 vùng nghiên
cứu có tích luỹ độc tố gây tiêu chảy DSP.
+ Đối với Ngao nuôi ở vùng biển Đồ Sơn, hàm lợng rất thấp, dao động từ 0 đến
vài phần nghìn MU/g mô nội tạng (cao nhất đạt 0,021 MU/g).
+ Đối với vẹm xanh nuôi ở Cát Bà, cũng nh ngao nuôi ở Đồ Sơn, độc tố này
đợc tích luỹ rất thấp, phần lớn các tháng có hàm lợng độc tố không đáng kể. Nhng
biến động hàm lợng độc tố này ở Cát Bà lại xảy ra rất mạnh, dao động từ 0,003 đến 1,
239 MU/g mô nội tạng (đợt quan trắc I của tháng 2 năm 2005).
+ Đối với Ngao nuôi ở Thái Bình, hàm lợng độc tố DSP cũng rất thấp, biến
động ít, dao động từ 0,002 đến 0,008 MU/g mô nội tạng (tháng 7 năm 2004).
+ Hàm lợng độc tố trong vẹm xanh nuôi ở Lăng Cô có hàm lợng rất thấp, biến
động không mạnh, dao động trong khoảng 0,002-0,01 MU/g mô nội tạng (tháng 6 và
tháng 11 năm 2004).
- So sánh các kết quả nghiên cứu về khả năng tích luỹ độc tố trong ngao và vẹm
xanh nuôi tại 4 vùng nghiên cứu, nhận thấy:
+ Độc tố DSP tích luỹ trong vẹm và ngao đều có biến động không mạnh, hàm
lợng thấp, độc tố DSP tích luỹ ở trong vẹm có những thời điểm cao hơn ở trong ngao,
nhng nhìn chung đều dao động trong khoảng từ vài phần nghìn đến phần chục MU/g
mô nội tạng, trừ vẹm xanh nuôi ở Cát Bà có hàm lợng độc tố tích luỹ cao nhất (đạt
Để có thể hiểu đợc cơ chế tích luỹ độc tố trong sinh vật cần rất nhiêù nghiên
cứu bổ xung về cơ chế tích luỹ và đào thải độc tố của từng loại sinh vật, các tác nhân
của môi trờng ảnh hởng đến khả năng sản sinh độc tố của các nhóm loài tảo có độc
tố, các tác nhân môi trờng ảnh hởng đến khả năng tích luỹ độc tố trong các đối tợng
sinh vật dựa trên cơ sở sức chống chịu của hệ thần kinh các sinh vật đối với độc tố và
mật độ các loài tảo độc có mặt phù hợp với khả năng ăn lọc của chúng.
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng
22
Tài liệu tham khảo
Nguyn Vn Nguyên v cs, 2004. iu tra nghiên cu to c hi ti ba vùng nuôi
ngao tp trung ti Thái Bình, Nam nh v Thanh Hoá. Báo cáo ti cp B
Thu sn, Hi Phòng 2003, 97 trang.
Andersen P., 1996. Design and Implementation of some Harmful Algal Monitoring
Systems. IOC Technical Series No. 44, UNESCO.
Chu Van Thuoc, Tran Van Dien (2003), An overview of current activities relating to
phytoplankton monitoring in coastal waters of North Vietnam. In: Furuya K. et
al. (2003), Workshop on Red Tide Monitoring in Asian Coastal Waters, March
10-12, 2003 at the University of Tokyo.
Fleming, L.E., J.A. Bean & D.G. Baden 1995. Epidemiology and public health. Pp.
475-487. - In G.M. Hallegraeff, D.M. Anderson, & A.D. Cembella (Eds.).
Manual on Harmful Marine Microalgae: IOC Manuals and Guides No. 33.
UNESCO.
Hallegraeff G.M., Anderson D. M. and Cembella A.D. (Edi), 2004. Manual on Harmful
Marine Microalgae. UNESCO Publishing. 793 pp.
Sournia A. (EDS), 1978. Phytoplankton Manual. UNESCO.
Usup G., Leaw C.P., Lim P.T, and Ahmad A., 2002. Probable toxin producer
responsible for the first occurrence of paralytic shellfish poisoning on the east
coast of Peninsula Malaysia. Malays. Appl. Biol. 31(2): 29-35.
Yasumoto, T., M. Murata, Y. Oshima & M. Sano 1985. Diarrhetic shellfish toxins. -
Tetrahedron 41: 1019-1025. Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển
Đề tài KC-09-19
Biểu kết quả phân tích và tính toán hàm lợng độc tố tảo
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ Loại độc tố: DSP (okadaic acid)
Loài động vật hai mảnh vỏ dùng cho phân tích: Ngao (Meretrix meretrix)
Nội quan dùng cho phân tích: Gan + tuỵ
Địa điểm thu mẫu: Đồ Sơn
Thời gian thu mẫu: 10-5-2004
Ký hiệu mẫu: DDS1
Khối lợng mẫu hai mảnh vỏ đã thu: 2kg
Trọng lợng mẫu nội tạng sau xử lý: 20g
Tỷ lệ pha loãng của mẫu(g/ml): 1/2
Phơng pháp phân tích: ELISA
Phơng trình tính hàm lợng độc tố/mẫu: y = 376,16e
-7,9395x