Uỷ ban Dân tộc
Báo cáo tổng hợp
đề tài khoa học cấp bộ 2008 cơ sở khoa học của việc nghiên cứu,
biên soạn lịch sử cơ quan công tác dân tộc
Cơ quan quản lý đề tài: Uỷ ban Dân tộc
Đơn vị thực hiện đề tài: Ban Nghiên cứu, Biên soạn lịch sử
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Hữu Ngà
Th ký đề tài: CN. Lê Thị Thu Hà
2
4 IV. Phơng pháp nghiên cứu 2
5 V. Cán bộ tham gia đề tài
1. Chủ nhiệm đề tài
2. Cán bộ tham gia
2
2
2
II
Phần thứ nhất: cơ sở khoa học
3
6 I. Một số khái niệm 3
1. Khái niệm công tác dân tộc
3
2. Khái niệm cơ quan công tác dân tộc
3
7 II. Cơ sở lý luận 4
1. Chủ nghĩa Mác-Lênin về giải quyết vấn đề dân tộc
4
2. T tởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc
8
3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề
dân tộc và công tác dân tộc
11
4. Công tác tuyên truyền vận động thực hiện chính sách
dân tộc
57
5. Phối hợp với các bộ, ngành và địa phơng trong việc
đề xuất xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc
60
6. Xây dựng, tăng cờng đội ngũ cán bộ làm công tác
dân tộc
63
III
Phần thứ hai: kiến nghị và giải pháp tổ chức biên
soạn lịch sử cơ quan công tác dân tộc
64
10 I. Đánh giá việc biên soạn lịch sử cơ quan công tác dân tộc qua
các thời kỳ
64
11 II. Các giải pháp tổ chức biên soạn 65 4
1. Huy động lực lợng tham gia nghiên cứu, biên soạn
65
2. Giải pháp về su tầm, tập hợp t liệu
66
3. Giải pháp về tài chính
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho
việc tổ chức nghiên cứu, biên soạn lịch sử cơ quan công tác dân tộc ở nớc ta. 6
III. Phạm vi, đối tợng nghiên cứu.
1. Phạm vi.
a. Phạm vi không gian: Cơ quan công tác dân tộc của Chính phủ ở
Trung ơng và địa phơng.
b. Phạm vi thời gian: Từ năm 1946 tới nay.
2. Đối tợng nghiên cứu:
Nghiên cứu căn cứ về lý luận và căn cứ thực tiễn phục vụ nghiên cứu,
biên soạn lịch sử cơ quan công tác dân tộc.
IV. Phơng pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng các phơng pháp nghiên cứu: Phơng pháp lịch sử,
phơng pháp tổng hợp, phơng pháp chuyên gia, phơng pháp kế thừa, phơng
pháp thống kê.
V. Cán bộ tham gia đề tài.
1. Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Hữu Ngà
2. Cán bộ tham gia:
- PGS. TS Vũ Quang Hiển - Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Quốc gia
- TS. Hoả Văn Ngọc - Phó trởng Ban Biên soạn lịch sử Uỷ ban Dân tộc
- CN. Bùi Thế Tung - Phó trởng Ban Biên soạn lịch sử Uỷ ban Dân tộc
- CN. Ma Trung Tỷ - Cán bộ Vụ Kế hoạch Tài chính - Uỷ ban Dân tộc
- CN. Lê Thị Thu Hà - Cán bộ Ban Biên soạn lịch sử Uỷ ban Dân tộc.
7
Ngày nay, cơ quan công tác dân tộc ở Trung ơng là một tổ chức thành
viên của Chính phủ, ngang cấp bộ; cơ quan công tác dân tộc trong phạm vi
cả nớc có hệ thống từ Trung ơng tới địa phơng.
Có thể đa ra khái niệm: Cơ quan công tác dân tộc là hệ thống tổ chức của
Nhà nớc làm chức năng quản lý Nhà nớc về lĩnh vực công tác dân tộc trên
phạm vi cả nớc.
Nghiên cứu các khái niệm cơ bản là nhằm xác định rõ phạm vi, đối
tợng nghiên cứu; cung cấp luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu, biên soạn
lịch sử cơ quan công tác dân tộc.
II. Cơ sở lý luận.
1. Chủ nghĩa Mác-Lê nin về giải quyết vấn đề dân tộc:
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là Lênin đã xác
định những nguyên tắc và nội dung chủ yếu của Cơng lĩnh dân tộc nhằm
giải quyết vấn đề dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa t bản đã phát triển và
cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị t
bản chủ nghĩa đã trở nên cấp bách ở nửa sau thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Cơng lĩnh về vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn còn mãi
giá trị và ý nghĩa của nó trong điều kiện hiện nay.
Những nguyên tắc và nội dung chủ yếu của Cơng lĩnh dân tộc:
- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng trong quan hệ với nhau và trong đời
sống giữa các dân tộc.
- Các dân tộc có quyền tự quyết về vận mệnh, con đờng phát triển và
lựa chọn chế độ chính trị của dân tộc mình.
9
- Các dân tộc cùng xây dựng và củng cố tình đoàn kết với nhau vì mục
tiêu phát triển của dân tộc mình, của các dân tộc khác và sự phát triển tiến
bộ, văn minh trong đời sống của cả cộng đồng các dân tộc.
Muốn có bình đẳng giữa các dân tộc, trớc hết phải thủ tiêu tình trạng
dân tộc này áp bức dân tộc khác, xoá bỏ tình trạng dân tộc này đặt ách nô dịch
Đó chính là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh của dân
tộc mình, tự quyết định số phận của dân tộc, tự do lựa chọn chế độ chính trị
và con đờng phát triển của chính sách dân tộc. Không một dân tộc nào áp
đặt hoặc can thiệp vào dân tộc khác, vào công việc nội bộ của một nớc có
độc lập chủ quyền. Đó là quyền tự do phân lập thành một cộng đồng quốc
gia dân tộc độc lập và quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ
sở bình đẳng.
Nguyên tắc phơng pháp luận của Lênin cần đợc áp dụng khi xem
xét vấn đề quyền tự quyết dân tộc là phân tích cụ thể một tình hình cụ thể.
Vấn đề quyền tự quyết dân tộc là sự thể hiện trong thực tiễn hành động quyết
định của dân tộc theo những xu hớng phát triển dân tộc của thế giới. Điểm
mấu chốt của nguyên tắc và quyền tự quyết dân tộc là các dân tộc phải đợc
tự do và tự nguyện khi phải quyết định tách ra hay nhập vào.
Phải chống những biểu hiện của chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa dân
tộc nớc lớn, áp đặt, can thiệp, xâm phạm quyền của dân tộc khác nh Lênin
đã từng lên án và phòng ngừa chủ nghĩa dân tộc sô vanh Đại Nga. Sau cách
mạng Tháng Mời, các nớc cộng hoà Xô viết gia nhập Liên bang Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô), nớc Nga và dân tộc Nga giúp đỡ cho các
nớc Cộng hoà Trung á xa xôi đang còn lạc hậu bớc vào con đờng phát
triển là một minh chứng của việc thực hiện bình đẳng và tự quyết dân tộc.
11
Tôn trọng quyền độc lập, quyền tự khẳng định, phát triển của dân tộc
đi liền với đấu tranh gạt bỏ những trở ngại, ngăn cản sự xích lại gần nhau, sự
liên hiệp tự nguyện của các dân tộc để vừa phát triển dân tộc vừa phát triển
liên minh các dân tộc (Liên bang).
Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc còn đòi hỏi phải
chống lại tâm lý ích kỷ dân tộc, tính hẹp hòi, biệt phái, sự xa rời, lảng tránh
nghĩa vụ giúp đỡ các dân tộc khác cùng phát triển.
Đoàn kết giúp các dân tộc là một nguyên tắc thể hiện rõ trách nhiệm,
đạo đức và văn hoá trong quan hệ giữa các dân tộc, các tộc ngời, ở trong
Mác- Lênin đã đợc Nguyễn ái Quốc tiếp thu và đã có ảnh hởng quyết
định tới sự hình thành t tởng, đờng lối cách mạng của Ngời, đã chỉ ra
con đờng giải phóng và phát triển của dân tộc ta, đó là con đờng cách
mạng vô sản, thực hiện lý tởng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội.
Từ những năm 20,30 của thế kỷ XX Ngời đã xác định: Đối với nớc
ta, trong điều kiện của một nớc thuộc địa nửa phong kiến thì vấn đề giải
phóng dân tộc đợc đặt lên trên hết, trớc hết. Ngời cũng khẳng định: Phải
giải phóng dân tộc khỏi ách ngoại xâm; đa các dân tộc đi tới tơng lai trên
con đờng ấm no, hạnh phúc.
Giải phóng dân tộc trong điều kiện cụ thể của nớc ta bao hàm ý nghĩa
sâu xa: Không chỉ giải phóng dân tộc khỏi ách ngoại xâm, mà còn phải đa
dân tộc đi tới tơng lai tốt đẹp.
T t
ởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc
đã đợc thể hiện ở một số quan điểm cơ bản:
13
- Khẳng định Việt Nam là quốc gia thống nhất của nhiều dân tộc.
T tởng Hồ Chí Minh về quốc gia Việt Nam thống nhất của nhiều
dân tộc không chỉ là phản ánh khách quan; mà còn là t tởng chỉ đạo thể
hiện khát vọng, tinh thàn đấu tranh quật cờng của Đảng, nhân dân các dân
tộc vì một Tổ quốc chung. Trong th của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đại hội
các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Plâyku năm 1946, Ngời viết:
Đồng bào Kinh hay Thổ, Mờng hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Xê Đăng hay
Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh
em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sớng khổ cùng nhau, no đói giúp
nhau. Trớc kia chúng ta xa cách nhau, một là thiếu dây liên lạc, hai là kẻ
thù xúi giục để chia rẽ chúng ta. Ngày nay, nớc Việt Nam là nớc chung
của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu của các dân tộc. Chính phủ thì
có Nha dân tộc thiểu số để săn sóc cho tát cả các đồng bào(1).
- Đại đoàn kết các dân tộc.
Hồ Chí Minh đã nêu trong những luận điểm có tính chân lý:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công(2)
T tởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh có ý nghĩa chiến lợc,
nhất quán, xuyên suốt quá trình Cách mạng Việt Nam. Đây là chiến lợc tập
hợp lực lợng; tạo nên sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh
với kẻ thù dân tộc.
1. Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1993, tr 129.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, tr 392.
15
- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Trong xu thế phát triển của thời đại, việc xác định Cách mạng Việt
Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới; Cách mạng Việt Nam cần phải
tranh thủ sự ủng hộ của lực lợng tiến bộ, hoà bình trên thế giới, đồng thời
đóng góp tích cực vào phong trào cách mạng thế giới. Kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại. T tởng cách mạng của Hồ Chí Minh đã chỉ
đờng cho các dân tộc cùng đứng lên đấu tranh giành độc lập; đồng thời chỉ
rõ cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng
thế giới.
T tởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc
đợc Đảng ta coi là cơ sở t tởng
để nghiên cứu, định ra chính sách dân tộc
phù hợp ở mỗi giai đoạn.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX khẳng định:
T tởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu
sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận
xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp dân tộc đa số, giúp các dân tộc phát huy
tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của mình(4).
(1) Hội đồng DT của Quốc hội khoá X, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nớc
về dân tộc, NXB VHDT, HN-2000, tr.12.
(2). Sách đã dẫn, tr. 14.
(3). Sách đã dẫn, tr. 21.
(4). Sách đã dẫn, tr.90.
17
Khi đất nớc đã thống nhất, Đại hội IV của Đảng (1976) tiếp tục
khẳng định: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm
vụ có tính chiến lợc của cách mạng Việt NamChính sách dân tộc của
Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo
những điều kiện cần thiết để xoá bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh
tế, văn hoá giữa các dân tộc ít ngời và dân tộc đông ngời(1).
Nghị quyết Đại hội V của Đảng (1982) có nêu: Đồng bào các dân
tộc ở nớc ta, miền ngợc miền xuôi, vùng cao vùng thấp đã phát huy ý chí
quật cờng và truyền thống đoàn kết chiến đấu góp phần to lớn đánh thắng
hai cuộc chiến tranh xâm lợc và làm thất bại các thủ đoạn chia rẽ của
địch(2).
Nghị quyết Đại hội VII của Đảng (1991) tiếp tục khẳng định: Đoàn
kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống
ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi
dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nớc ta(3).
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng (1996) có nhấn mạnh: Vấn đề dân
tộc có vị trí chiến lợc lớn Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tơng trợ giữa
các dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc(4).
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng (2001) nêu rõ: Vấn đề dân tộc và
đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lợc trong sự nghiệp cách
mạng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tơng trợ, giúp
với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm
phát triển, bồi dỡng nguồn nhân lực, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống
(1). ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, HN-2006,
tr.222
19
các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc
Việt Nam thống nhất.
- Ưu tiên đầu t phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền
núi, trớc hết, tập trung và phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói,
giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi
với bảo vệ bền vững môi trờng sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực,
tự cờng của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cờng sự quan tâm hỗ trợ
của Trung ơng và sự giúp đỡ của các địa phơng trong cả nớc.
- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ
thống chính trị.
Nội dung công tác dân tộc hiện nay:
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành (hệ thống
chính trị) từ Trung ơng đến cơ sở về xây dựng và tổ chức thực hiện chính
sách dân tộc.
- Củng cố và nâng cao chất lợng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân
tộc gắn với thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, trong đó lu ý việc phát
huy vai trò những ngời có uy tín trong đồng bào dân tộc.
- Thực hiện có hiệu quả các chơng trình quốc gia, chơng trình mục
tiêu, các dự án đầu t, hỗ trợ vùng dân tộc và miền núi; đẩy mạnh công tác
xoá đói giảm nghèo; tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc.
- Tăng cờng công tác vận động quần chúng, đổi mới nội dung và
phơng pháp dân vận ở vùng đồng bào dân tộc; thực hiện phơng châm
Trong 54 dân tộc, Dân tộc Kinh là dân tộc đa số (chiếm 87% số dân cả
nớc); còn 53 dân tộc thiểu số chỉ chiếm 13%. Giữa các dân tộc thiểu số, tỷ
lệ số dân cũng rất khác nhau. Có một số dân tộc (Tày, Thái, Mờng, Khmer)
có số dân trên 1 triệu ngời. Nhiều dân tộc thiểu số có số dân từ 10 vạn tới
60 vạn. Đặc biệt có 5 dân tộc có số dân trên dới 1.000 ngời (Si La, Pu Péo,
Rơ Măm, Brâu, Ơ Đu).
Đặc điểm dân số không đồng đều, c trú phân tán, xen kẽ giữa các dân
tộc là điều kiện thực tế cần nghiên cứu trong việc hoạch định chính sách ở
vùng dân tộc.
- Các dân tộc phân bố trên các địa bàn có vị trí quan trọng về chính trị,
kinh tế, quốc phòng. Bởi vậy, chính sách dân tộc đòi hỏi mang tính toàn
diện; bao hàm các yếu tố về chính trị, kinh tế, quốc phòng, môi trờng
sinh thái.
- Các dân tộc ở nớc ta có lịch sử gắn bó lâu đời trong đấu tranh chống
ngoại xâm, xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất. Đại đoàn kết là yếu tố
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của đất nớc.
- Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế xã hội không
đều nhau. Trình dộ phát triển kinh tế xã hội không đều nhau giữa các dân
tộc là do nguyên nhân lịch sử, do điều kiện tự nhiên. Bởi vậy cần có chính
sách cụ thể cho từng vùng, từng dân tộc có tính đặc thù.
Đặc điểm cộng đồng dân tộc Việt Nam là cơ sở thực tiễn rất quan
trọng để nghiên cứu xây dựng chính sách; đồng thời cũng là cơ sở để nghiên
cứu xây dựng tổ chức chuyên môn về công tác dân tộc.
2. Cơ quan công tác dân tộc thuộc Chính phủ ở nớc ta.
Cơ quan công tác dân tộc thuộc Chính phủ ở nớc ta đã có lịch sử hơn
60 năm; ở mỗi giai đoạn, theo yêu cầu của cách mạng đã có tổ chức với chức
năng, nhiệm vụ cụ thể.
22
2.1. Giai đoạn 1946 1954.
Sau khi giành đợc chính quyền, lập nên nớc Việt Nam dân chủ cộng
đốc điều khiển. Giúp việc giám đốc có một phó giám đốc, một bí th trởng
và hai cố vấn. Trừ hai cố vấn ra, giám đốc, phó giám đốc và bí th trởng
đều phải chọn trong cán bộ dân tộc thiểu số.
Nha Dân tộc thiểu số sau khi thành lập, đã nhanh chóng mở trờng
đào tạo cán bộ dân tộc (lấy tên là trờng Nùng Chí Cao) tại Hà Nội. Khoá
học đầu tiên có ý nghĩa lịch sử này đã vinh dự đợc Bác Hồ đến thăm. Khi
toàn quốc kháng chiến bùng nổ (12-1946), các đồng chí lãnh đạo Nha dân
tộc đợc phân công về địa phơng công tác, khoá học tạm dừng, các đồng
chí học viên trở về địa phơng công tác, nhiều ngời đã phát huy đợc tác
dụng tích cực trong công tác trong suốt thời kỳ kháng chiến và sau này(1).
Việc ra đời Nha Dân tộc thiểu số ở Trung ơng đợc thể chế bằng một
văn bản qui phạm pháp luật (nghị định số 359, ngày 09/9/1946), đã tạo cơ
sở pháp lý để các địa phơng củng cố tổ chức và hoạt động về lĩnh vực công
tác dân tộc.
Tháng 3 năm 1946, Ban vận động quốc dân thiểu số Tây Nam Trung
bộ đợc thành lập và Ban này thành lập đợc hai Phòng quốc dân thiểu số ở
hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Trong thời gian tồn tại từ tháng 3 đến tháng 6
năm 1946 Ban này đã: Tổ chức Đại hội đoàn kết dân tộc chống Pháp gồm
trên 1000 đại biểu các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và miền núi, các tỉnh
đồng bằng, đã họp tại PleiKu ngày 19/4/1946. Trong lễ khai mạc, các đại
biểu đã trân trọng đón th của Chủ tịch Hồ Chí Minh do đồng chí Tố Hữu và
đồng chí Bùi San mang đến. Đại hội vô cùng xúc động khi nghe th của
Ngời: Đồng bào Kinh hay Thổ, Mờng hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Xê
(1). Uỷ ban Dân tộc và Miền núi, 50 năm công tác dân tộc (1946-1996), Nxb CTQG, HN-
1997, tr 45,46)
24
Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam,
đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sớng khổ cùng nhau,
no đói giúp nhau Ngày nay nớc Việt Nam là nớc chung của chúng ta.
phơng để tiếp tục lãnh đạo phong trào. Tổ chức Hội nghị kháng chiến hành
chính thợng du Nam Trung bộ tại La Hai (Đồng Xuân, Phú Yên) vào cuối
tháng 11 năm 1946, gồm có đại biểu các huyện ở tỉnh Kon Tum, Gia Lai,
Đắc Lắc, các châu thợng du của các tỉnh trung châu và các nhân sỹ, phụ lão
ở những vùng cha có chính quyền cũng đợc mời về dự. Hội nghị này đã bàn
bạc và đề ra phơng hớng nhiệm vụ công tác đối với khu vực Tây Nguyên và
các vùng thợng du các tỉnh trung châu; thành lập HTX có nhiệm vụ cung
cấp muối, nông cụ và các vật dụng hàng ngày cho đồng bào thợng du, tiêu
thụ các hàng thổ sản, lâm sản của đồng bào. Chủ trơng này rất hợp với
nguyện vọng của nhân dân làm nổi bật chính sách giúp đỡ sinh hoạt cho
đồng bào thợng du, nhờ đó uy tín của chính quyền đợc tăng lên; phát động
phong trào tăng gia sản xuất và cứu tế cho đồng bào; thành lập các đơn vị bộ
đội thợng du nh bộ đội Nơ Trang Lơng ở Đắc Lắc, bộ đội Đinh Troom ở
An Khê và tổ chức dân quân du kích khắp các địa phơng; đào tạo cán bộ
thợng du và cán bộ kinh để đáp ứng nhu cầu phát triển công tác của cách mạng.
Sau hơn một năm công tác, Phân ban Quốc dân thiểu số Nam trung bộ đã
thu đợc nhiều kết quả. Chính quyền ở những vùng thợng du trung châu đang
phát triển mạnh mẽ và có triển vọng lan rộng trên toàn khu vực Tây Nguyên.
Yêu cầu cấp thiết đặt ra của cuộc kháng chiến là phải tiến hành đánh Pháp ngay
ở Tây Nguyên để chiếm lại vị trí chiến lợc quan trọng bậc nhất ở Nam Trung
bộ và Đông Dơng, giành lại đất và giải phóng 800.000 dân đang ở trong sự
kìm kẹp của kẻ thù mà chúng đang dùng bổ sung vào lực lợng ngụy quân để
chống lại cách mạng. Những việc ấy nằm ngoài phạm vi công tác của Phân ban
Quốc dân thiểu số Nam trung bộ, nên cần phải có một tổ chức khác thích hợp
và mạnh mẽ hơn để lãnh đạo công tác trong một phạm vi rộng lớn và mang tính