chính sách thương mại quốc tế của việt nam hiện nay - Pdf 13

KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: Hai xu hướng cơ bản trong chính sách thương mại quốc tế của các
quốc gia (tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại) được thể hiện như thế
nào? Chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam đang được điều chỉnh theo
xu hướng nào và giải thích?
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
1. Bùi Tuấn Anh CQ520026
2. Nguyễn Văn Chính CQ520406
3. Nguyễn Văn Chương CQ520420
4. Đường Xuân Đức CQ527087
5. Vũ Văn Khởi (Nhóm Trưởng) CQ521875
6. Công Thị Thùy Linh (Thư Ký) CQ522010
7. Lê Hương Thảo CQ523297
M=C L=C
LỜI MỞ ĐẦU 4
Trang 1
I. NHỮNG XU HƯỚNG CƠ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 4
1. Xu hướng tự do hóa thương mại 4
1.1 Lý thuyết về xu hướng tự do hóa thương mại 4
1.2 Biểu hiện của xu hướng tự do hóa thương mại 5
2. Xu hướng bảo hộ thương mại 7
2.1 Lý thuyết về xu hướng bảo hộ thương mại 7
2.2 Biểu hiện của xu hướng bảo hộ thương mại 9
3. Đánh giá về hai xu hướng 11
II. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT
NAM HIỆN NAY 12
1. Tư tưởng, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước khuyến khích, đẩy mạnh tự do hóa thương
mại 12
2. Tự do hóa thương mại và hành động của Việt Nam 13
2.1 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 13

quốc tế ở Việt Nam.
I. NHỮNG XU HƯỚNG CƠ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1. Xu hướng tự do hóa thương mại
1.1 Lý thuyết về xu hướng tự do hóa thương mại
Tự do hóa thương mại là sự nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào
lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế. Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiều
của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước
ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài.
Cơ sở khách quan của xu hướng này bắt nguồn từ quá trình quốc tế hóa đời
sống kinh tế thế giới với những cấp độ khác nhau là toàn cầu hóa và khu vực hóa, lực
lượng sản xuất phát triển vượt ra ngoài phạm vi biên giới một quốc gia, sự phân công
lao động quốc tế phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu, vai trò của các công ty đa quốc
gia được tăng cường, hầu hết các quốc gia chuyển sang xây dựng mô hình “kinh tế
mở” với việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế mỗi nước. Tự
do hóa thương mại đều đưa lại lợi ích cho mỗi quốc gia và tạo điều kiện cho từng quốc
gia có thể phát huy tối ưu các lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của mình so với các
quốc gia khác, dù trình độ phát triển có khác nhau và nói phù hợp với xu thế phát triển
chung của nên văn minh nhân loại.
Xu hướng tự do hóa thương mại ra đời nhằm phát triển hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hóa, cụ thể là phát triển khả năng xuất khẩu hàng hóa sang các nước khác
đồng thời mở rộng hoạt động nhập khẩu hàng hóa không có điều kiện để sản xuất hoặc
sản xuất với hiệu quả thấp; tạo điều kiện cho việc phát triển quan hệ hợp tác kinh tế
nói chung giữa các nước trên thế giới mà trước hết là quan hệ hợp tác đầu tư; tăng khả
năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp bằng cách tạo ra môi trường cạnh tranh tốt như
tạo ra sự bình đẳng hơn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài –
là động lực quan trong để các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh
để tồn tại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tùy theo mức độ mở cửa thị trường, xu hướng tự do hóa thương mại gồm:
Trang 4

AFTA đến các khối kinh tế khác ở hầu khắp các châu lục; các Hiệp nghị thương mại
tự do song phương phát triển chưa từng có giữa các quốc gia với nhau như Mỹ -
Singapore, Mỹ - Thái Lan…đến các Hiệp nghị thương mại tự do giữa các khối thương
mại tự do với các quốc gia như ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Nhật Bản…
Hàng rào thuế quan giữa các nước phát triển với nhau đã giảm xuống còn 3%, mức
thuế quan quân bình của các nước đang phát triển cũng đã được hạ thấp xuống còn
khoảng 14%. Những cam kết giảm bỏ hàng rào bảo hộ đang là nội dung chủ yếu của
các cuộc đàm phán đa phương và song phương hiện nay.
Cụ thể:
Trang 5
a) Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
WTO là một tổ chức quốc tế đặt trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám sát
các hiệp định thương mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương
mại. Từ 23 thành viên sáng lập ban đầu trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế
quan và Thương mại (GATT - General Agreement of Tariffs and Trade) vào năm
1947và tính đến ngày 16/12/2011, WTO có 155 thành viên. WTO hoạt động dựa
trên các nguyên tắc sau:
- Không phân biệt đối xử:
 Đãi ngộ quốc gia: Không được đối xử với hàng hóa và dịch vụ nước
ngoài cũng như những người kinh doanh các hàng hóa và dịch vụ đó
kém hơn mức độ đãi ngộ dành cho các đối tượng tương tự trong nước.
 Đãi ngộ tối huệ quốc: Các ưu đãi thương mại của một thành viên dành
cho một thành viên khác cũng phải được áp dụng cho tất cả các thành
viên trong WTO.
- Tự do thương mại hơn nữa: dần dần thông qua đàm phán.
- Tính Dự đoán thông qua Liên kết và Minh bạch: các quy định và quy chế
thương mại phải được công bố công khai và thực hiện một cách ổn định.
- Ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển: giành những thuận lợi và ưu đãi hơn
cho các thành viên là các quốc gia đang phát triển trong khuôn khổ các chỉ định
của WTO.

phán để thành lập một hiệp định thương mại tự do rất mất thời gian và qua nhiều vòng
thương thảo. Những nước hăng hái với tự do hóa thương mại có thể thỏa thuận tiến
hành chương trình giảm thuế quan sớm (còn gọi là chương trình thu hoạch sớm) đối
với một số dòng thuế trước khi đàm phán kết thúc và hiệp định được thành lập.
FTA trong tương lai: Hiệp định tự do thương mại Mỹ - Liên minh châu Âu
Vào ngày 13/02/2013, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đã đồng ý là hai bên sẽ nhanh
chóng mở các cuộc đàm phán về một hiệp định tự do thương mại song phương. Thời
điểm khởi sự các vòng thương thuyết sẽ là trong nửa đầu năm 2013 này, tức là từ nay
đến tháng Sáu. Hiệp định tự do thương mại Mỹ-Liên minh châu Âu sẽ là một sự kiện
mang tính lịch sử, vì chi phối khoảng một nửa sản lượng của thế giới.
Hiệp định tự do thương mại Mỹ-Liên minh châu Âu có thể cho phép châu Âu cộng
thêm khoảng 0,5% vào mức tăng trưởng của mình từ đây đến năm 2027, trong lúc Hoa
Kỳ cũng được thêm 0,4%. Tính về thu nhập hàng năm, Liên minh châu Âu sẽ có thêm
86 tỷ euro và Hoa Kỳ 65 tỷ.
2. Xu hướng bảo hộ thương mại
2.1 Lý thuyết về xu hướng bảo hộ thương mại
Bảo hộ thương mại là sự gia tăng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh
vực buôn bán quốc tế; nhưng sự gia tăng này theo hướng có “chọn lọc”, có địa chỉ rõ
ràng và có thời gian, khắc phục triệt để sự can thiệp phi lý của Nhà nước trái với thông
lệ quốc tế, luật pháp quốc tế và cam kết quốc tế.
Cơ sở khách quan của xu hướng này bắt nguồn từ sự phát triển không đều và sự
khác biệt trong điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia, do sự chênh lệch về khả năng
cạnh tranh giữa các công ty trong nước với các công ty nước ngoài, cũng như do các
nguyên nhân lịch sử để lại. Ở buổi đầu hình thành nền thương mại quốc tế, người ta
thường quan tâm đến việc đẩy mạnh xuất khẩu để thu về kim khí quí, trong khi đó lại
chủ trương hạn chế nhập khẩu để giảm bớt khả năng di chuyển của kim khí quí ra
nước ngoài. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, các lý do về chính trị và xã hội
cũng đưa đến yêu cầu phải bảo hộ thương mại.
Xu hướng bảo hộ thương mại ra đời nhằm:
Trang 7

tự do không công bằng. Khi một nước cho nước khác được tự do vào nước
mình nhưng trong khi đó nước đó lại thực hiện chính sách bảo hộ hàng hóa của
họ không cho hàng hóa của mình vào nước họ thì dẫn đến nước đó cũng sẽ thực
hiện chính sách bảo hộ nhằm bảo vệ ngành của họ.
- Văn hóa: Các quốc gia hạn chế buôn bán hàng hóa và dịch vụ nhằm đạt được
các mục tiêu về văn hóa nhất là mục tiêu bảo về bản sắc văn hóa và truyền
thống dân tộc. Văn hóa và tự do hóa thương mại đan quyện và tác động qua lại
với nhau. Văn hóa mỗi quốc gia đều dần dần có sự thay đổi do có sự hiện diện
của con người và sản phẩm từ các nền văn hóa khác. Những tác động ngoài
mong muốn của văn hóa buộc chính phủ phải ngăn cản việc nhập khẩu những
sản phẩm được coi là có hại.
Trang 8
Tùy thuộc vào mức độ bảo hộ của nền sản xuất trong nước, xu hướng bảo hộ
thương mại bao gồm:
- Xu hướng bảo hộ thương mại hoàn toàn: nhà nước đóng cửa hoàn toàn thị
trường nội địa, cấm hẳn không cho phép cá nhà sản xuất – kinh doanh kinh
doanh nước ngoài và kinh doanh trên thị trường nội địa.
- Xu hướng bảo hộ thương mại có giới hạn:
 Nhà nước chỉ bảo hộ thương mại đối với một số mặt hàng, trên một số
thị trường khu vực.
 Nhà nước thực hiện các công cụ và biện pháp can thiệp vào hoạt động
thương mại quốc tế, gây khó khăn cho các nhà kinh doanh nước ngoài.
2.2 Biểu hiện của xu hướng bảo hộ thương mại
Xu hướng bảo hộ thương mại được thể hiện ở một số nội dung sau:
- Nhà nước sử dụng các công cụ và biện pháp can thiệp vào quá trình nhập khẩu,
giảm sức cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu, bảo vệ thị trường nội địa. Nhà
nước thực hiện các biện pháp nâng đỡ các nhà kinh doanh trong nước có khả
năng cạnh tranh được với các nhà kinh doanh nước ngoài và mở rộng xuất khẩu
ra thị trường nước ngoài.
 Biện pháp để thực hiện bảo hộ thương mại là sử dụng các công cụ thuế

trước sức tấn công của hàng hóa nhập khẩu, nhiều nước đang ra sức nâng đỡ các
ngành công nghiệp yếu kém trong nước.
Tiêu biểu cho xu hướng bảo hộ thương mại là nước Mỹ với chương trình “Buy
American”, làm dấy lên lo ngại rằng các nước khác như Trung Quốc, cũng có thể
hành động tương tự - điều sẽ gây tổn hại thêm đối với thương mại toàn cầu trong giai
đoạn khủng hoảng hiện tại. Bên cạnh đó, quyết định tài trợ 17,4 tỷ USD của Mỹ cho
ngành xe hơi cũng đang bị giới phân tích đánh giá là một hành động trợ cấp không
công bằng, đặt các đối thủ cạnh tranh vào vị trí bất lợi. Nước Mỹ cũng gặp phải nhiều
chỉ trích gay gắt từ các thành viên của WTO khi Mỹ tái ban hành những biện pháp trợ
giá xuất khẩu đối với các sản phẩm sữa của nước này, bởi cảnh báo rằng nó có thể là
một tiền lệ nguy hiểm khiến thế giới quay lại chủ nghĩa bảo hộ, đặc biệt có nguy cơ
bùng nổ thành những cuộc chiến thương mại.
Trung Quốc cũng tuyên bố phương châm “Buy Chinese” của mình chỉ một vài
tháng sau chương trình “Buy American”. Sau nhiều chỉ trích với các kế hoạch bảo hộ
thương mại của Mỹ, đến lượt mình, Trung Quốc bị lên án đã đi ngược lại tinh thần
chống chủ nghĩa bảo hộ khi yêu cầu các cơ quan chính phủ mua hàng hóa sản xuất
trong nước nếu có thể cho các dự án sử dụng ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo
khoản tiền 585 tỷ USD trong gói kích thích kinh tế có lợi cho các doanh nghiệp trong
nước.
Ấn Độ đã tăng thuế suất nhập khẩu dầu đậu nành thêm 20% để bảo hộ nông dân
trong nước khi giá dầu ăn trên thị trường thế giới giảm mạnh trong khi Indonesia bắt
đầu hạn chế nhập khẩu ít nhất 500 mặt hàng với nhiều biện pháp hạn chế khác như yêu
cầu doanh nghiệp nhập khẩu phải có giấy phép đặc biệt và phải nộp một khoản lệ phí
mới. Nga sử dụng biện pháp tăng thuế suất nhập khẩu xe hơi thêm 35%, đồng thời
thuế thịt heo và thịt gia cầm cũng được điều chỉnh tăng. Argentina và Brazil cũng đang
tìm cách nâng thuế suất nhiều mặt hàng nhập khẩu, từ rượu vang đến hàng dệt may,
hàng da giày và trái cây vào các nước này.
Đối mặt với khủng hoảng tài chính và dòng sản phẩm giá rẻ từ bên ngoài, chính phủ
các quốc gia Nam Mỹ ngày càng không che giấu ý đồ ngăn chặn hàng nhập khẩu. Ví
dụ điển hình là việc các nước thuộc Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) đã

đẩy tự do lưu thông hàng hóa giữa
các nước.
 Làm cho thị trường nội địa
phong phú hàng hóa hơn, người
tiêu dùng có thể thỏa mãn nhu cầu
của mình một cách tốt nhất.
 Tạo điều kiện cho các nhà
sản xuất trong nước vươn ra nước
ngoài.
 Làm suy yếu hoặc xóa bỏ
chính sách bảo hộ thương mại của
các nước khác, tạo cơ sở cho các
nhà kinh doanh nội địa dễ dàng
thâm nhập và phát triển thị trường
mới.
 Giảm sức cạnh
tranh của hàng hóa nhập
khẩu.
 Bảo hộ các nhà sản
xuất kinh doanh trong
nước giúp họ tăng cường
sức mạnh trên thị trường
nội địa.
 Giúp các nhà xuất
khẩu tăng sức cạnh tranh
thâm nhập thị trường
nước ngoài.
 Sử dụng hợp lý
nguồn ngoại tệ, tạo sự cân
bằng cán cân thanh toán

Về mặt nguyên tắc, hai xu hướng trên đối nghịch nhau và chúng gây nên tác động
ngược chiều nhau đến hoạt động thương mại quốc tế. Nhưng, chúng không bài trừ
nhau mà trái lại thống nhất với nhau. Trong thực tế, hai xu hướng cơ bản này song
song tồn tại và chúng được các quốc gia sử dụng và khéo léo kết hợp ở những mức độ
khác nhau tùy theo trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước.
II. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT
NAM HIỆN NAY
Xu hướng thương mại quốc tế của Việt Nam hiện nay là “Đẩy mạnh tự do hóa
thương mại”. Theo đó nhà nước tăng cường áp dụng các biện pháp cần thiết để từng
bước giảm thiểu các trở ngại trong hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong
quan hệ mậu dịch quốc tế, nhằm tạo điều kiện càng thuận lợi hơn cho các hoạt động
thương mại quốc tế phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu. Các biện pháp đó là việc điều
chỉnh theo chiều hướng nới lỏng dần và theo bước đi phù hợp trên cơ sở các thỏa
thuận song phương và đa phương đối với các công cụ bảo hộ mậu dịch đã và đang tồn
tại trong quan hệ thương mại quốc tế. Cụ thể, đó là việc thực hiện các biện pháp cắt
giảm thuế quan và nới lỏng hoặc rỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan như hạn ngạch, các
tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về chất lượng môi trường, về nhãn mác hàng hóa…
1. Tư tưởng, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước khuyến khích, đẩy
mạnh tự do hóa thương mại
Ngay từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 6, nhận thấy xu thế hội nhập quốc tế
ngày càng phát triển mạnh mẽ, có ảnh hưởng lớn đổi với tình hình chính trị và kinh tế
thế giới nói chung cũng như Việt Nam nói riêng, Đảng ta nhận định: “ Xu thế mở rộng
phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế - xã hội khác
nhau, cũng là những điều kiện quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội của nước ta” từ đó, Đảng chủ trương đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác kinh
tế với các nước ngoài hệ thống xã hộ chủ nghĩa, với các nước công nghiệp phát triển,
các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (năm 1996) đã nêu rõ: “Trong
hoàn cảnh mới, chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở, đa phương hóa và
đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, hướng mạnh về xuất khẩu”,… “Điều chỉnh cơ

xử. Thứ ba, Việt Nam đã đàm phán gia nhập WTO và trở thành thành viên của tổ
chức này tháng 1 năm 2007. Cùng với các FTA khu vực, Việt Nam cũng đã ký hiệp
định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản (EPA) mà thực chất là một FTA song
phương.
Trang 13
2.2 Cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam đối với các đối tác kinh tế
2.2.1 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – CEPT/AFTA
Ngày 15/12/1995, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định về Chương trình ưu
đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) để thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do
ASEAN (AFTA). CEPT có nghĩa là thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung, và là mức
thuế có hiệu lực, được thỏa thuận ưu đãi cho ASEAN, được các nước ASEAN ký kết
năm 1992 và được áp dụng cho tất cả hàng hóa có xuất xứ từ các quốc gia thành viên
ASEAN. Tất cả các sản phẩm nông sản chế biến được đưa vào Chương trình cắt giảm
Trang 14
thuế quan theo quy định của Hiệp định AFTA. Đối với những sản phẩm thuộc diện
PTA (thỏa thuận thương mại ưu đãi ASEAN) sẽ được áp dụng chương trình cắt giảm
thuế quan có xem xét tới thuế quan sau khi đã áp dụng mức ưu đãi thuế quan thấp nhất
(MOP) kể từ ngày 31-12-1992. Xét đến mục đích thiết lập, CEPT là một thỏa thuận
chung giữa các nước thành viên ASEAN về giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN
xuống còn từ 0-5%, đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào
phi quan thuế trong vòng 10 năm, bắt đầu từ 1/1/1993. Tuy nhiên vấn đề giảm thuế
quan xuống còn 0-5% còn tùy thuộc theo từng thời điểm đối với các nước cũ và các
nước mới, nhưng thời hạn tối đa để cắt giảm thuế quan là trong vòng 10 năm. Đồng
thời tiến hành việc giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN là vấn đề loại bỏ hàng rào phi
quan thuế (NTB): hạn ngạch, cấp giấy phép, kiểm soát hành chính và hàng rào kỹ
thuật: kiểm dịch, vệ sinh dịch tễ. Cùng với việc tiến hành việc hài hoà các thủ tục Hải
quan.
Vào năm 2010, các nước ASEAN thực hiện Hiệp định thương mại hàng hóa
ASEAN (ATIGA) thay thế Hiệp định CEPT. Thực hiện đúng yêu cầu của CEPT, ta đã
đưa ra các Danh mục cắt giảm thuế:

mục GEL hoặc những mặt hàng trước đây nằm trong Danh mục GEL, sau đó được đưa
ra để thực hiện cắt giảm thuế quan theo Lộ trình riêng.
2.2.2 Tổ chức thương mại thế giới WTO
a) Các cam kết về thuế quan
Khi gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết ràng buộc toàn bộ biểu thuế đối với toàn
bộ Biểu thuế nhập khẩu hiện hành, gồm khoảng 10.600 dòng thuế. Thuế suất cam kết
cuối cùng có mức bình quân giảm đi 23% so với mức bình quân hiện hành (thuế suất
MFN năm 2005) của biểu thuế (từ 17,4% xuống còn 13,4%). Thời gian thực hiện sau
5-7 năm. Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam sẽ thực hiện cắt giảm thuế đối với
khoảng 3.800 dòng thuế, ràng buộc ở mức thuế suất hiện hành với khoảng 3.700 dòng
thuế, ràng buộc theo mức thuế trần-cao hơn mức thuế suất hiện hành với 3.170 dòng
thuế, chủ yếu là đối với các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hóa chất, phương tiện
vận tải. Một số mặt hàng đang có thuế suất cao (trên 30%) sẽ được cắt giảm thuế ngay
khi gia nhập. Những nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất gồm: dệt
may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện-điện tử.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân là 25,2% vào thời điểm gia nhập
và 21% sẽ là mức cắt giảm cuối cùng. Trong lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết bình
quân vào thời điểm gia nhập là 16,1% và mức cắt giảm cuối cùng là 12,6%.
Bảng 3: Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng chính
Trang 16
b) Các cam kết dịch vụ
Trong WTO, ta cam kết đủ 11 lĩnh vực dịch vụ với 110 phân ngành/155 phân ngành
theo hệ thống phân loại dịch vụ của WTO. Theo phân loại của WTO, dịch vụ phân
phối bao gồm các dịch vụ sau:
- Dịch vụ đại lý hoa hồng
- Dịch vụ bán buôn
- Dịch vụ bán lẻ
- Dịch vụ nhượng quyền thương mại
c) Cam kết về quyền kinh doanh (quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu)
Khi gia nhập WTO, ta đã cam kết cho phép các doanh nghiệp có vốn ĐTNN được

dụng mức thuế 0% từ 1/1/2008.
b) Danh mục giảm thuế thông thường
Danh mục giảm thuế thông thường (NT) bao gồm 90% tổng số dòng thuế với lộ
trình giảm thuế xuống 0% vào năm 2010 đối với ASEAN-6 và Trung Quốc; Việt Nam
có lộ trình dài hơn 5 năm, tức là đến năm 2015, ta mới phải hoàn thành nghĩa vụ này.
Cụ thể:
Bảng 4: Lộ trình giảm thuế theo NT của Việt Nam
c) Nội dung cam kết giảm thuế của Việt Nam trong ACFTA
Lộ trình cam kết giảm thuế của ta trong ACFTA tương đối nhất quán về phạm vi
Trang 18
và nguyên tắc cam kết trong các FTA khác mà Việt Nam tham gia. Ta cam kết loại bỏ
thuế quan có lộ trình đối với khoảng 90% số lượng dòng thuế. 10% số lượng dòng
thuế còn lại có lộ trình cam kết giảm thuế dài, thậm chí không có cam kết giảm thuế
xuống 0% (Bảng 5).
Bảng 5: Thuế suất trung bình (%) của Việt nam trong hiệp định ACFTA
2.2.4 Hiệp định ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA)
Về cắt giảm thuế quan, Hiệp định đề ra các lộ trình như sau:
- Lộ trình NT: (bao gồm 90% số dòng thuế và 90% kim ngạch thương mại -
riêng Việt Nam là 75% kim ngạch thương mại) Hàn Quốc hoàn thành vào
1/1/2010; ASEAN-6 hoàn thành vào 1/1/2012; Việt Nam hoàn thành vào
1/1/2018; Campuchia, Lào và Myanmar hoàn thành vào 1/1/2020.
Trang 19
- Lộ trình SL: ASEAN-6 và Hàn Quốc: xuống 0-5% vào 1/1/2016; Việt Nam:
xuống 0-5% vào 1/1/2021; Campuchia, Lào, Myanmar: xuống 0-5% vào
1/1/2024.
- Lộ trình HSL: ASEAN 6 và Hàn Quốc: bao gồm 200 dòng thuế ở cấp 6 chữ
số hoặc 3% tổng số dòng thuế ở cấp chữ số HS do từng quốc gia lựa chọn và
3% kim ngạch thương mại. CLMV: 200 dòng thuế ở cấp 6 chữ số hoặc 3% tổng
số dòng thuế ở cấp chữ số HS do từng quốc gia lựa chọn. Gồm 5 nhóm, cụ thể:
 Nhóm A: ASEAN 6 và Hàn Quốc: giảm xuống 50% vào 1/1/2016; Việt

này là:
Trang 21
- Về phía Việt Nam: 90% thuế quan xóa bỏ vào 2018-2020 theo Lộ trình NT; 7%
tổng số dòng thuế theo lộ trình nhạy cảm, trong đó thuế suất theo Danh
mục SL giảm xuống 5% vào 2022, và theo danh mục HSL giảm xuống 7-50%
vào 2022. Danh mục loại trừ bao gồm 3% tổng số dòng thuế.
- Về phía Australia, New Zealand và ASEAN-6: 90% số dòng thuế về 0% vào
năm 2015, linh hoạt đến 2020.
Bảng 7: Cam kết thuế nhập khẩu (%) của Việt Nam đối với các mặt hàng nhập
khẩu chính
2.2.7 Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIG)
Bảng 18: Thuế suất trung bình (%) của Việt Nam trong hiệp định AITIG
Trang 22
Danh mục NT của Việt Nam gồm 80% số dòng thuế sẽ giảm xuống 0% ngày
31/12/2017. Trong đó, 9% tổng số dòng thuế sẽ được linh hoạt giảm xuống 0% từ
31/12/2020 (NT2).
2.2.8 Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA)
Là hiệp định mậu dịch tự do song phương đầu tiên mà Việt Nam ký kết, VJEPA là
hiệp định toàn diện bao gồm các quy định về thương mại hàng hoá, thương mại dịch
vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, mua sắm chính phủ và các lĩnh vực hợp tác kinh
tế khác, được ký tháng 12/2008, có hiệu lực từ ngày 1/10/2009. Về mức cam kết
chung, ta đồng ý tự do hóa đối với 87,66% kim ngạch thương mại trong vòng 10
năm. Theo đó, ta đưa vào lộ trình cắt giảm đối với 8.873 dòng trong tổng số 9.390
dòng thuế của Biểu cam kết (trừ 57 dòng CKD ô tô và 428 dòng không cắt giảm). Cụ
thể, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, ta cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 2.586 dòng
Trang 23
thuế (28% Biểu cam kết 9.390 dòng), chủ yếu là các mặt hàng hoá chất dược
phẩm, máy móc điện tử. Sau 10 năm thực hiện Hiệp định (năm 2019), có thêm
3.717 mặt hàng được xoá bỏ thuế quan, nâng tổng số mặt hàng của cả Biểu được xoá
bỏ thuế quan lên 6.303 chiếm 67% số dòng thuế của Biểu cam kết.

thậm chí còn giảm liên tục.
Trang 25

Trích đoạn Tự do hóa thương mại và biến động của một số chỉ tiêu kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status