Lời mở đầu
Cùng với cả nhân loại chúng ta đang bước vào thế kỷ 21 – kỷ nguyên
của sự bùng nổ thông tin, của sự phát triển như vũ bão của các công nghệ cao:
sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng… Nền kinh tế thế
giới đang có bước chuyển mình sâu sắc và mạnh mẽ về cơ cấu, chức năng và
phương thức hoạt động. Đây không phải là một sự biến đổi bình thường mà là
một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế chứng từ, kinh tế
công nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh nhân loại chuyển từ văn minh
công nghiệp sang văn minh trí tuệ. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt
Nam tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước với mục
tiêu đến năm 2020 sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp. Trong quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá Việt Nam có lợi thế về nguồn người lực, chính
vì thế đào tạo phát triển nguồn nhân lực là hết sức quan trọng. Đảng và Nhà
nước ta đã chỉ rõ rằng: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Nói giáo dục - đào
tạo là quốc sách hàng đầu có nghĩa là giáo dục - đào tạo phải được ưu tiên
hàng đầu trong các chính sách phát triển của quốc gia bởi giáo dục - đào tạo
có vai trò to lớn trong phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt trong nền kinh tế tri
thức, đất nước mới có sức mạnh để phát triển cần phải tạo ra được nguồn
nhân lực có trình độ trí tuệ ngang tầm thời đại cả về nguồn chất xám cũng như
năng lực khai thác để luôn đổi mới sản xuất, nâng cao năng xuất lao động,
phát triển các hoạt động dịch vụ, nâng cấp các hoạt động văn hoá tinh thần…
chỉ có nền giáo dục phát triển mới đáp ứng được nhu cầu đó. Quán triệt quan
điểm coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, chúng ta cần phải quan tâm đầu tư
nhiều hơn cho phát triển giáo dục - đào tạo. Mặt khác giáo dục - đào tạo phát
1
triển theo đúng hướng xã hội hoá, phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường
thì đáp ứng cho phát triển giáo dục - đào tạo không còn là việc riêng của
những mà là của toàn xã hội.
Chính vì vậy để có cái nhìn tổng quan hơn về giáo dục - đào tạo và đầu
tư phát triển giáo dục - đào tạo em xin chọn đề tài: “Đầu tư phát triển giáo
mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là tổng dài hạn tăng lên (đường S
dịch chuyển sang S’) Kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ Q1-Q2 và do đó
3
giá cả sản phẩm giảm tư P1-P2. Sản lượng tăng, gía cả giảm cho phép tăng
tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại kích thích sản xuất hơn nữa. Sản
xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội,
tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên
trong xã hội.
1.2.1.2. Đầu tư có tác động hai mặt đến sự thay đổi của nền kinh:
Từ sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng
cầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư,
dù tăng hay giảm đều tạo cùng một lúc yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố
phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
1.2.1.3. Đầu tư nhằm tăng cường khả năng khoa học công nghệ của đất
nước:
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, đầu tư là điều kiện tiên
quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện
nay
Có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu để có công
nghệ hoặc nhập công nghệ từ nước ngoài. Dù là tự nghiên cứu hay nhập từ
nước ngoài cũng cần phải có tiền, cần phải có đầu tư. Mọi phương án đổi mới
công nghệ không gắn liền với nguồn vốn đầu tư sẽ là phương án không khả
thi
1.2.1.4. Đầu tư tác động vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có
thể tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư nhằm tạo
ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Như vậy, chính đầu tư
4
quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được
tốc độ tăng trương nhanh và ổ định của toàn bộ nền kinh tế.
tư cho giáo dục đào tạo là hành động bỏ tiền ra để tiến hành hoạt động nhằm
tạo tài sản mới cho nền kinh tế nói chung, cho giáo dục nói riêng. Tài sản mới
có thể là trình độ được nâng cao của mọi đối tượng trong xã hội, từ đó tạo
tiềm lực, động lực mới cho nền sản xuất xã hội.
Con người là lực lượng sản xuất trực tiếp tạo ra của cải vật chất, là lực
lượng sáng tạo ra xã hội. Đào tạo nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng
những yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa vai trò hàng
đầu thuộc về công tác giáo dục và đào tạo. Giáo dục đào tạo tạo ra sự
chuyển biến về chất trong lực lượng lao động, góp phần thực hiện thành
công mục tiêu kinh tế xã hội.
2.2. Vai trò của đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo.
Giáo dục góp phần vào tăng trưởng kinh tế thông qua cả tăng
năng suất lao động của mỗi cá nhân nhờ nâng cao trình độ lẫn tích luỹ kiến
thức. Nguồn lực con người là một trong các yếu tố đầu vào của hàm sản
xuất:
Q = f(K, L, T, R )
Trong đó:
6
K: vốn.
L: lao động.
T: công nghệ.
R: tài nguyên.
Cũng như những nhân tố khác, lao động (L) là yếu tố tác động trực tiếp
tới sự thay đổi của sản lượng (Q). Đầu tư vào giáo dục đào tạo làm biến đổi
về chất lực lượng lao động từ đó sẽ làm thay đổi sản lượng Q.
Một sự đầu tư đúng đắn, hợp lý sẽ kéo theo sự thay đổi theo chiều hướng
tiến bộ của mặt bằng dân trí. Nhu cầu học tập, nghiên cứu được thoả mãn.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá 8 khẳng định: khoa học công
nghệ là nền tảng, là động lực của công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Giữa giáo
dục - đào tạo và khoa học công nghệ có mối liên hệ qua lại hết sức chặt chẽ.
1382
15824.4
1653.6
2. THCN 106.5 107.8 119.8 155.6 170.5 12.4 164.1 177.6
3.Dạy
nghề
63.8 63.2 64.9 69.8 66.4 75.1 70.6 72.2
4.ĐH
& CĐ
107 136.8 157.1 203.3 297.9 509.3 662.8 682.3
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy: số lượng học sinh, sinh viên có xu hướng
tăng qua các năm, trong đó số lượng sinh viên ĐH tăng rất nhanh, năm 98-99
tăng hơn 6 lần so với năm 91-92. Nguyên nhân là do hình thức đào tạo ở bậc
ĐH rất phong phú; nhiều trường ĐH tư, ĐH mở, dân lập được thành lập. Số
lượng học sinh các trường dạy nghề nếu so với năm 86 - 87 thì năm 98 - 99
chỉ bằng 51.7% nhưng từ 93 - 94 có xu hướng tăng trở lại. Số lượng đào tạo
dạy nghề không đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế đối với đội ngũ công
nhân kỹ thuật.
8
Về mặt quy mô giáo dục thì mức chênh lệch giữa nông thôn và thành thị
có sự khác xa về trình độ.
Tỉ lệ phần trăm tốt nghiệp phổ thông ở thành phố và nông thôn là 47/29.
Đây là mức chênh lệch khá cao vì vậy chúng ta phải có biện pháp hữu hiệu để
rút ngắn tỉ lệ trên. Xét về quy mô ở nước ta tỉ lệ người đi học so với dân số
trong độ tuổi còn khá thấp. Dù rằng quy mô giáo dục đào tạo của Việt Nam
(xét về mặt biết chữ và tiểu học) ở mức trung bình, tức là ngang bằng với
Thái Lan và Philippines nhưng ở bậc trung học thì Việt Nam lại ở mức thấp
hơn so với các nước này. Đặc biệt ở bậc đại học thì Việt Nam ở vị trí cuối
cùng.
Số lao động kỹ thuật ở Việt Nam chiếm 12% năm 1995, trong số 40.2
106 108 109 109 109 109 110 123
Số lượng các trường tăng liên tục qua các năm (trừ THCN và dậy nghề)
thể hiện sự quan tâm của Việt Nam đối với tầm quan trọng của giáo dục.
Việt Nam quản lý giáo dục theo từng cấp học khác nhau, cụ thể:
- Chính phủ quản lý các trường ĐH, CĐ, THCN.
- Tỉnh, thành phố quản lý giáo dục trung học.
- Quận, huyện quản lý giáo dục tiểu học.
Mặc dù có sự tăng lên về số lượng trường học các cấp qua các năm
nhưng vẫn không đủ lớp cho học sinh; ở các tỉnh, huyện ngoại thành tình
trạng học sinh phải học ca 3 vẫn tiếp diễn.ởcấp dạy nghề còn nằm trong tình
trạng manh mún, thiếu tập trung, chưa có chương trình nào dành cho dạy
nghề.
Về đào tạo sau đại học ở trong nước diễn ra như thế nào?
10
Quy mô đào tạo sau đại học ở trong nước không ngừng được mở rộng
và phát triển:
Bảng 4: Thống kê cơ sở đào tạo sau đại học.
Nguồn: Tài chính giáo dục tháng 9 năm 2001.
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
TS
Cao
học
509 1058 1730 3060 651 3444 5294 3041 4
534
2747
TS
NCS
16 52 96 51 074 258 1113 1174 76 86 713
Trong giai đoạn 1990 - 1993, cả nước có 77 cơ sở đào tạo tiến sỹ, nhưng
từ 1993 - 2001 số lượng cơ sở đào tạo tiến sỹ tăng gấp 1.5 lần (từ 77 lên 113
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, Nhà nước cấp ngân sách cho
giáo dục, cho phép vay vốn nước ngoài để đầu tư phát triển giáo dục, tranh
thủ hỗ trợ của mọi nguồn lực trong và ngoài nước. Người đi học và người
sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp kinh phí.
12
Tạo nên quyền bình đẳng trước cơ hội được giáo dục của mọi người
dân. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở nông thôn, miền núi, có chú ý
đến các đối tượng chính sách. Miễn học phí, cấp học bổng, cho vay vốn đối
với sinh viên học giỏi. Tạo nên những loại trường nội trú thích hợp đối với
các đối tượng chính sách.
Trong khi nguồn lực không dồi dào, lại phải mở rộng quy mô giáo
dục, phát triển hệ thống giáo dục để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá
nên phải chấp nhận tình trạng không đồng đều về chất lượng. Do đó vừa
mở rộng đồng thời vừa củng cố một số cơ sở đào tạo, giáo dục chất lượng
cao, đào tạo đa ngành.
2. Thực trạng đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam
2.1. Giáo dục và đào tạo Việt Nam từ 2002-2004
Một là, đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo phải chú ý tăng chi cho
công tác giảng dạy và học tập khoản chi này có tác động trực tiếp đến chất
lượng giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh – sinh viên. Hiện nay
cơ sở vật chất kỹ thuật (đặc biệt là hệ thống thư viện; trang thiết bị của các
phòng thực hành, thí nghiệm; sách giáo khoa, tài liệu tham khảo…) còn thiếu
thốn. Vì vậy, đòi hỏi trong đầu tư ngân sách cho sự nghiệp này phải chú ý đến
việc tăng cường cơ sở vật chất cho công tác giảng dạy và học tập tại các cơ sở
đào tạo, nhất là những cơ sở đào tạo có chất lượng cao.
Hai là, có chế độ chính sách đãi ngộ đối với người làm công tác giảng
dạy, đảm bảo tiền lương tương xứng với lao động của các Nhà giáo.
Quá trình sản xuất của Nhà trường với đầu vào là con người và đầu ra
cũng là con người, đó là: “sản phẩm đặc biệt”, con người ở đầu vào với con
người ở đầu ra khác nhau ỏ tri thức khoa học. Trong quá trình sản xuất đó,
những trường trọng điểm, chất lượng cao (Đại học Quốc Gia, Đại học vùng),
các trường mang tính chất đặc thù theo mô hình một cơ sở đảm nhận ba
nhiệm vụ đào tạo – nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất; đào tạo những
ngành nghề theo cơ cấu chuyển dịch kinh tế, đồng thời chuyển phần lớn các
trường Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề về địa phương và các doanh
nghiệp. Đi đôi với việc sắp xếp lại mạng lưới các trường phải tính toán lại
quymô đào tạo cho phù hợp với sự tăng trưởng của nền kinh tế, chú trọng
nâng cao chất lượng đào tạo, hạn chế quy mô đào tạo chuyên tu và tại chức.
Từ đó tạo điều kiện để nâng định mức chi ngân sách cho một học sinh/ năm
đối với từng ngành nghề cụ thể.
Bốn là, công tác quản lý tài chính đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo
phải được thựchiện nghiêm chỉnh theo “luật ngân sách Nhà nước”. Cụ thể:
- Bộ giáo dục đào tạo có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ kế
hoạch và đầu tư trong việc xây dựng, tổng hợp và dự kiến phân phối ngân
sách toàn ngành (cả phần ngân sách dành cho các chương trình mục tiêu) gửi
Bộ Tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư xem xét cân đối trình Chính phủ, để
Chính phủ trình Quốc hội phê duyệt.
- Thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong chi tiêu hành chính, sửa
chữa, xây dựng mới.
2.1.1. Giáo dục mầm non.
2002-2003 2003-2004
15
Trường
9.715 10.104
Trẻ em
2.547.430 2.588.837
Giáo viên
134.934 150.335
Từ năm 2002-2004 số lượng trường học, số trẻ em và số lượng giáo
viên trong giáo dục mầm non đều tăng.
2002-2003 2003-2004
Trường Học sinh Giáo viên Trường
Học sinh
Trường
14.163 8.841.004 358.606 14.346
8.350.191
16
Học sinh
1.197 6.497.548 262.543 1.139
6.612.099
Cán bộ
giảng
dạy
1.532 2.458.446 89.357 1.685
2.616.207
Số trưòng học, số học sinh và số giáo viên ở cả ba cấp tiểu học, PTCS,
PTTH nhìn chung đều tăng từ năm 2002-2004
2.1.3. Giáo dục trung học chuyên nghiệp.
2002-2003 2003-2004
Trường
268 286
Học sinh
309.807 360.392
Cán bộ giảng dạy
10.247 11.121
Do nhu cầu đòi hỏi lao động kỹ thuật có trình độ chuyên môn, có tay
nghề nên số lượng trường, số học sinh và số cán bộ giảng dạy ở các trường
trung học chuyên nghiệp đều gia tăng. Trong đó số trường công lập chiếm đa
số (238 trường năm 2002-2003).
Cán bộ giảng dạy phân theo trình độ chuyên môn:
Trung tâm giáo
dục thường xuyên quận
491 499
Trường bổ túc văn
hoá
83 83
Trung tâm học tập
cộng đồng
488 500
2.2. Nguồn vốn đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo.
Vốn là điều kiện để đảm bảo mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng
giáo dục - đào tạo. Theo luật giáo dục, các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục -
đào tạo gồm: Ngân sách Nhà nước và các khoản đóng góp, tài trợ của các cá
nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
Bảng 6: Cơ cấu nguồn tài chính cho sự nghiệp giáo dục đào tạo ở
Việt Nam.
Đơn vị: %
18
1993 1994 1995
Tổng nguồn
100 100 100
1. Học phí
23.1 15.7 16.8
2. SX & HĐ
1.3 1.6 1.2
3. Thu khác
3.2 3.3 2.7
4. NS NN cấp
72.4 79.4 79.3
Nguồn: Ngân hàng thế giới năm 1995.
thường
xuyên
Tổng số (tỷ
đồng)
So với
tổng chi NSNN
(%)
19
91
1.256 10,04 10,27 89,73
19
92
2.038 8,60 8,39 91,61
19
93
3.315 8,49 5,61 94,39
19
94
4.874 11,03 7,70 94,30
19
95
6.705 10,70 7,07 94,93
19
96
8.800 12,90 11,36 88,64
19
97
9.970 12,77 12,55 87,45
19
98
- ĐH và CĐ : 671,120 học sinh× (160,000 × 10) = 1,073.792 tỷ đồng.
Như vậy, mỗi một năm tổng tiền học phí thu được là: 2.074 tỷ đồng. Đó
là đối với hệ thống ở trường công lập, còn các trường dân lập, tư thục, bán
công, trung tâm giáo dục thường xuyên, dạy nghề không được quy định về
mức đóng học phí và chế độ chi tiêu thống nhất
2.2.3. Đầu tư – Giáo dục - Đào tạo từ các nguồn khác.
22
Chính phủ khuyến khích sự tham gia tích cực của các cá nhân, tổ chức
trong và ngoài nước nhằm đầu tư phát triển Giáo dục - Đào tạo của Việt Nam.
Bảng 10 : Đầu tư TTNN cho văn hoá, kinh tế Giáo dục ở Việt Nam năm 2003 –
2004
Năm Số dự án
Số vốn đăngký (nghìn USD)
Tổng số Trong đó: Vốn pháp định
1/1- 6/12/2003 18 30495,0 15560,0
1/1-22/7/2004 10 9410,8 5215,0
Nguồn: TC con số và sự kiện.
Khoản viện trợ chính thức (ODA) cũng được coi là một khoản mục có
vai trò đóng góp không nhỏ trong việc bổ xung nguồn vốn cho đầu tư phát
triển Giáo dục - Đào tạo ở nước ta.
Năm
1991 1992 1993 1994 1995
Tổng số
ODA (nghìn $)
8860 12242 18978 57427 37796
Ngoài ra các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cũng đã hợp tác tích
cực và đóng góp không nhỏ vào nguồn vốn đầu tư và phát triển Giáo dục -
Đào tạo ở Việt Nam.
23
3. Kết quả đạt được trong đầu tư phát triển Giáo dục - Đào tạo ở
học phổ thông còn nhiều khó khăn: hiện cò 283,742 phòng học là nhà cấp bốn
trở lên chiếm 83.83% tổng số phòng học cả nước, trong đó cấp tiểu học có
168,725 phòng chiếm 60% tổng số phòng của cấp học này
3.1.2. Về đội ngũ giáo viên:
Cùng với đa dạng hóa các loại hình giáo dục, đội ngũ giáo viên ở các
ngành học mầm non, phổ thông phát triển khá nhanh cả về số lượng và chất
lượng theo hướng chuẩn hoá.
Năm 2000 – 2001 so với năm 1986 – 1987, số giáo viên mẫu giáo có
103,306 người, tăng 47.35%( bình quân mỗi năm tăng 2.6%). Tỷ lệ giáo viên
mẫu giáo đạt chuẩn đào tạo trên 30%, tương ứng số giáo viên phổ thông có
661,748 người, tăng 55.29% (bình quân mỗi năm tăng 2.55%), bậc trung học
cơ sở có 233,834 người tăng 63.87% ( bình quân mỗi năm tăng 3.35%), trung
học phổ thông có 71,971 người tăng 80.79% ( bình quân mỗi năm tăng
4.02%). Tuy nhiên trước sự phát triển về qui mô học sinh phổ thông các cấp
thì mức độ đào tạo, cung cấp giáo viên tương ứng chưa đáp ứng được nhu
cầu, đặc biệt là giáo viên trung học phổ thông ở các tỉnh miền núi, vùng sâu,
vùng xa. Tình trạng thiếu giáo viên trực tiếp giảng dạy ở tất cả các cấp phổ
thông theo định mức tại Quyết định 243 QĐ\CP của chính phủ vẫn liên tục
xảy ra trong giai đoạn 1986 – 2000. Theo thống kê năm 1999 – 2000 cả nước
25