LUẬN VĂN: Đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Đầu tư phát triển giáo dục - đào
tạo ở Việt Nam

mạnh để phát triển cần phải tạo ra được nguồn nhân lực có trình độ trí tuệ ngang tầm thời
đại cả về nguồn chất xám cũng như năng lực khai thác để luôn đổi mới sản xuất, nâng cao
năng xuất lao động, phát triển các hoạt động dịch vụ, nâng cấp các hoạt động văn hoá tinh
thần… chỉ có nền giáo dục phát triển mới đáp ứng được nhu cầu đó. Quán triệt quan điểm
coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, chúng ta cần phải quan tâm đầu tư nhiều hơn cho
phát triển giáo dục - đào tạo. Mặt khác giáo dục - đào tạo phát triển theo đúng hướng xã
hội hoá, phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường thì đáp ứng cho phát triển giáo dục -
đào tạo không còn là việc riêng của những mà là của toàn xã hội.
Chính vì vậy để có cái nhìn tổng quan hơn về giáo dục - đào tạo và đầu tư phát triển
giáo dục - đào tạo em xin chọn đề tài: “Đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam”.
Đề tài của em gồm 3 phần:
Chương 1: Những vấn đề lý luận
Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư và phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam.

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
Bước vào thế kỷ 21 Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần
định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước. Cùng với sự phát triển kinh tế
thì đầu tư phát triển nguồn lực là hết sức quan trọng trong đó một nguồn lực không thể
thiếu trong quá trình đầu tư là con người. Do đó, đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo càng
được coi là đầu tư phát triển.

1.2.1.2. Đầu tư có tác động hai mặt đến sự thay đổi của nền kinh:
Từ sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và đối
với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù tăng hay giảm đều
tạo cùng một lúc yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế
của mọi quốc gia.
1.2.1.3. Đầu tư nhằm tăng cường khả năng khoa học công nghệ của đất nước:
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự
phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay
Có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu để có công nghệ hoặc
nhập công nghệ từ nước ngoài. Dù là tự nghiên cứu hay nhập từ nước ngoài cũng cần phải
có tiền, cần phải có đầu tư. Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn liền với nguồn
vốn đầu tư sẽ là phương án không khả thi
1.2.1.4. Đầu tư tác động vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có thể tăng
trưởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu
vực công nghiệp và dịch vụ. Như vậy, chính đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trương nhanh và ổ định của toàn bộ
nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối để phát triển
giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo,
phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế…của những vùng có
khả năng phát triển mạnh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy phát triển kinh tế các vùng khác
1.2.1.5 . Đầu tư tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở
mức độ tăng trưởng ở mức độ trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15%-20% so với
GDP tuỳ thuộc vào hệ số ICOR của mỗi nước.


2.2. Vai trò của đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo.
Giáo dục góp phần vào tăng trưởng kinh tế thông qua cả tăng năng suất lao động của mỗi cá nhân nhờ nâng cao trình độ lẫn tích luỹ kiến thức. Nguồn lực con người là một
trong các yếu tố đầu vào của hàm sản xuất:
Q = f(K, L, T, R )
Trong đó:
K: vốn.
L: lao động.
T: công nghệ.
R: tài nguyên.
Cũng như những nhân tố khác, lao động (L) là yếu tố tác động trực tiếp tới sự thay
đổi của sản lượng (Q). Đầu tư vào giáo dục đào tạo làm biến đổi về chất lực lượng lao
động từ đó sẽ làm thay đổi sản lượng Q.
Một sự đầu tư đúng đắn, hợp lý sẽ kéo theo sự thay đổi theo chiều hướng tiến bộ của
mặt bằng dân trí. Nhu cầu học tập, nghiên cứu được thoả mãn.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá 8 khẳng định: khoa học công nghệ là nền
tảng, là động lực của công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Giữa giáo dục - đào tạo và khoa học
công nghệ có mối liên hệ qua lại hết sức chặt chẽ. Giáo dục là nền tảng cho sự phát triển
nhanh khoa học công nghệ. Giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ kết hợp chặt chẽ, hỗ

7
564.2
13568.
7
703.3
14587.
4
862.3
14541.
5
1019.5
15192.
4
1155.6
1558
82
1382
15824.
4
1653.6
2.
THCN
106.5 107.8 119.8 155.6 170.5 12.4 164.1 177.6
3.Dạy
nghề
63.8 63.2 64.9 69.8 66.4 75.1 70.6 72.2
4.ĐH
& CĐ
107 136.8 157.1 203.3 297.9 509.3 662.8 682.3


Đơn vị: 1000 người
92 - 93 93 - 94 94 - 95 95 - 96 96 - 97 97 - 98 98 -
99
99 - 00
Mẫu
giáo
69.3 66.3 69.3 75 84.4 92.9 93.7 96.3
PT 426.6 446.4 467.4 492.7 521 565.6 604.5 614.8
THCN 10 9.7 9.6 9.4 9.3 9.8 10
Dạy
nghề
6.141 6.238 6.196 6.055 6.643 6.425 6.193

&ĐH
21 21.2 21.7 22.8 23.5 24.1 26.1
Nguồn: Xử lý số liệu thống kê năm 1999.

Bảng 3: Số trường học qua các năm.


Số lượng các trường tăng liên tục qua các năm (trừ THCN và dậy nghề) thể hiện sự
quan tâm của Việt Nam đối với tầm quan trọng của giáo dục.
Việt Nam quản lý giáo dục theo từng cấp học khác nhau, cụ thể:
- Chính phủ quản lý các trường ĐH, CĐ, THCN.
- Tỉnh, thành phố quản lý giáo dục trung học.
- Quận, huyện quản lý giáo dục tiểu học.
Mặc dù có sự tăng lên về số lượng trường học các cấp qua các năm nhưng vẫn không
đủ lớp cho học sinh; ở các tỉnh, huyện ngoại thành tình trạng học sinh phải học ca 3 vẫn
tiếp diễn. ở cấp dạy nghề còn nằm trong tình trạng manh mún, thiếu tập trung, chưa có
chương trình nào dành cho dạy nghề.
Về đào tạo sau đại học ở trong nước diễn ra như thế nào? Quy mô đào tạo sau đại học ở trong nước không ngừng được mở rộng và phát triển: Bảng 4: Thống kê cơ sở đào tạo sau đại học.
Nguồn: Tài chính giáo dục tháng 9 năm 2001.
199
0

651 344
4
529
4
304
1
4
534
274
7
TS
NCS
16 52 96 51 074 258 111
3
117
4
76 86 713

Trong giai đoạn 1990 - 1993, cả nước có 77 cơ sở đào tạo tiến sỹ, nhưng từ 1993 -
2001 số lượng cơ sở đào tạo tiến sỹ tăng gấp 1.5 lần (từ 77 lên 113 cơ sở). Số lượng cơ sở
đào tạo thạc sỹ tăng rất nhanh: từ 12 cơ sở năm 1991 lên 93 cơ sở năm 2001. Tính đến hết
tháng 5 - 2001, cả nước có 141 cơ sở đào tạo sau đại học. Tuy nhiên, số lượng các cơ sở
đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ tăng mạnh vào năm 1996 sau đó chững lại (1997).
Bảng 5: Số lượng tuyển sinh sau đại học giai đoạn 1990 - 2000.

199
0
199
1
199

173
0
060 651 344
4
5294 304
1
453
4
274
7
TS

NC
S
316 452 596 651 074 258 111
3
1174 576 686 713
Nguồn: Tài chính giáo dục tháng 9/2001. Trong 10 năm từ 1990 - 2000, số lượng tuyển sinh cao học đã tăng hơn 11 lần (từ 509
học viên năm 1991 lên 5747 học viên năm 2000). Tuyển sinh đào tạo tiến sỹ trong thập kỷ
qua có nhiều biến động, khởi đầu bằng con số 316 nghiên cứu sinh được tuyển vào năm
1990 và tăng đạt kỷ lục 1258 nghiên cứu sinh năm 1995, sau đó từ 1996 - 2000 thì số
lượng giảm dần.
1.2. Sự cần thiết phải tăng cường đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo:
Nghị quyết Đảng lần thứ VIII chỉ rõ “cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục đào
tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Giáo dục phải mang tính chất xã hội hoá, là sự nghiệp của toàn dân, của gia đình, các
tổ chức mọi người cần phải góp công sức, tiền của để phát triển giáo dục, quan tâm đến

Hai là, có chế độ chính sách đãi ngộ đối với người làm công tác giảng dạy, đảm bảo
tiền lương tương xứng với lao động của các Nhà giáo.
Quá trình sản xuất của Nhà trường với đầu vào là con người và đầu ra cũng là con
người, đó là: “sản phẩm đặc biệt”, con người ở đầu vào với con người ở đầu ra khác nhau
ỏ tri thức khoa học. Trong quá trình sản xuất đó, người lao động trực tiếp là các cán bộ
giảng dạy, có thể nói họ là những lao động đặc biệt” Với tính đặc thù như vậy, việc đầu tư
của ngân sách cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo cần phải chú ý:
Tạo điều kiện cho cán bộ giảng dạy đạt tiêu chuẩn chức danh Chính phủ quy định.
Cần có kế hoạch đào tạo lại đội ngũ cán bộ giảng dạy, khuyến khích nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ để đạt trình độ kiến thức cao hơn.
- Nhà nước cần có những chính sách và chế độ đảm bảo đời sống tinh thần và vật
chất của đội ngũ cán bộ giảng dạy, đây là yếu tố quan trọng để họ yên tâm lao động sáng
tạo và xã hội tôn vinh các Nhà giáo. Ba là, ở nước ta hiện nay, mạng lưới trường học chưa hợp lý về quy mô và cơ cấu
ngành nghề đào tạo. Chúng ta có 110 trường Đại học và Cao đẳng; 546 trường Trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề (trong đó Trung ương 260 trường, địa phương 286 trường),
nhưng quymô nhỏ và rất nhỏ. Trong 110 trường Đại học và Cao đẳng chỉ có 7 trường đào
tạo “đa ngành”, số còn lại đào tạo “chuyên ngành”, có khoảng 20% số trường dưới 500
sinh viên, khoảng 40% số trường dưới 1.000 sinh viên, số trường con lại dưới 2.000 sinh
viên, chỉ có 7 trường trên 5.000 sinh viên và có 2 trường trên 10.000 sinh viên. Quy mô
trường nhỏ đã kéo theo mối quan hệ khônghợp lý giữa sinh viên và giáo viên, hiện nay
bình quân là 9 sinh viên/ giáo viên, trong khi đó bình quân ở các nước Đông Nam á là 14

mới. 2.1.1. Giáo dục mầm non.

2002-2003 2003-2004
Trường 9.715 10.104
Trẻ em 2.547.430 2.588.837
Giáo viên 134.934 150.335

Từ năm 2002-2004 số lượng trường học, số trẻ em và số lượng giáo viên trong
giáo dục mầm non đều tăng.

2002-2003 2003-2004
Công lập

Ngoài
công lập
Công lập

Ngoài
công lập
Trường 3.599 6.116 4.002 6.102
Trẻ em 964.241 1.583.18
9
1.003.29
9
1.585.53
8
Giáo

dạy
1.532 2.458.446 89.357 1.685 2.616.207
Số trưòng học, số học sinh và số giáo viên ở cả ba cấp tiểu học, PTCS, PTTH nhìn
chung đều tăng từ năm 2002-2004
2.1.3. Giáo dục trung học chuyên nghiệp.
2002-2003 2003-2004
Trường 268 286
Học sinh 309.807 360.392
Cán bộ giảng dạy 10.247 11.121

Do nhu cầu đòi hỏi lao động kỹ thuật có trình độ chuyên môn, có tay nghề nên số
lượng trường, số học sinh và số cán bộ giảng dạy ở các trường trung học chuyên nghiệp
đều gia tăng. Trong đó số trường công lập chiếm đa số (238 trường năm 2002-2003).

Cán bộ giảng dạy phân theo trình độ chuyên môn:
2002-2003 2003-2004
Tiến sĩ 53 115
Thạc sĩ 727 1.221
Đại học, cao đẳng 8.336 8.722 THCN 781 753
Trình độ khác 350 310


2.2. Nguồn vốn đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo.
Vốn là điều kiện để đảm bảo mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục -
đào tạo. Theo luật giáo dục, các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục - đào tạo gồm: Ngân sách
Nhà nước và các khoản đóng góp, tài trợ của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
Bảng 6: Cơ cấu nguồn tài chính cho sự nghiệp giáo dục đào tạo ở Việt Nam.
Đơn vị: % 1993 1994 1995
Tổng nguồn
100 100 100
1. Học phí 23.1 15.7 16.8
2. SX & HĐ 1.3 1.6 1.2
3. Thu khác 3.2 3.3 2.7
4. NS NN cấp 72.4 79.4 79.3

Nguồn: Ngân hàng thế giới năm 1995. Bảng 7: Tỷ lệ đầu tư cho giáo dục đào tạo so với GDP.



Bảng 8: Nguồn và cơ cấu chi ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục - đào tạo
giai đoạn 1991-1998


Chi cho GD-ĐT
Chi Chi m Tổng số (tỷ
đồng)
So với tổng
chi NSNN (%)
XDCB thường xuyên
19
91
1.256 10,04 10,27 89,73
19

16.906 18.625

Nguồn vốn chi ngân sách Nhà nước đầu tư là chủ yếu, bên cạnh đó còn có các nguồn vốn khác đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam.
2.2.2. Đầu tư – Giáo dục - Đào tạo từ nguồn thu học phí.
Nguồn thu học phí có ý nghĩa kinh tế chính trị xã hội sâu sắc: Đối với nhà trường đó
là khoản bù đắp một phần những chi phí quá lớn mà khả năng ngân sách Nhà nước không
đài thọ đủ; đối với Nhà nước là thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng chăm
lo sự nghiệp giáo dục đào tạo; đối với xã hội là phát huy trách nhiệm của cộng đồng cho sự
nghiệp “Trồng người” của đất nước.
Ngày nay, xu hướng đầu tư phát triển giáo dục đào tạo đang được chuyển dần từ khu
vực chính phủ sang khu vực tư nhân.
Nguồn thu học phí để tái đầu tư, nếu lấy số lượng học sinh năm 1998 tạm tính với
mức học phí trung bình ở các cấp học là: (cấp I không phải đóng học phí)
- THCS : 5,252,144 học sinh  90,000 đồng = 472.693 tỷ đồng.
- THPT : 1,390,206 học sinh  (25,000 đồng  9) = 312.796 tỷ đồng.
- Dạy nghề & THCN: 21,484 học sinh  (100,000  10) = 214.842 tỷ đồng.
- ĐH và CĐ : 671,120 học sinh  (160,000  10) = 1,073.792 tỷ đồng.
Như vậy, mỗi một năm tổng tiền học phí thu được là: 2.074 tỷ đồng. Đó là đối với hệ
thống ở trường công lập, còn các trường dân lập, tư thục, bán công, trung tâm giáo dục
thường xuyên, dạy nghề không được quy định về mức đóng học phí và chế độ chi tiêu
thống nhất

Ngoài ra các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cũng đã hợp tác tích cực và đóng
góp không nhỏ vào nguồn vốn đầu tư và phát triển Giáo dục - Đào tạo ở Việt Nam.
3. Kết quả đạt được trong đầu tư phát triển Giáo dục - Đào tạo ở Việt Nam.
3.1. Giáo dục mầm non và phổ thông.
3.1.1. Về cơ sở vật chất:
Mạng lưới trường lớp còn nhiều khó khăn, song trong 15 năm qua đã phát triển rộng
khắp và đa dạng hoá: các loại hình công lập, bán công, tư thục. Hiện nay hầu hết các xã
phường đều có trường tiểu học và trung học cơ sở, bình quân mỗi huyện có khoảng hai đến
ba trường trung học phổ thông hoăc phổ thông trung học ( cấp 2, cấp 3).
Tính đến năm học 2000- 2001 cả nước có 8,933 trường giáo dục mầm non và 87,166
lớp, so với 1986 – 1987 tăng 31.87% về số trường (bình quân một năm tăng 1.87%) và tăng 38.23% về số lớp (bình quân một năm tăng 2.17%).
Đối với giáo dục phổ thông năm học 2000- 2001 có 24,692 trường phổ thông từ tiểu
học đến trung học với 509,604 lớp, so với 1986 – 1987 tăng 79.2% về số trường, 49.53%
về số lớp( bình quân mỗi năm tăng 3.96% số trường và 2.72% số lớp). Từ năm học 1995 –
1996, giáo dục phổ thông loại hình ngoài công lập phát triển mạnh, đến nay cả nước có
trực tiếp giảng dạy ở tất cả các cấp phổ thông theo định mức tại Quyết định 243 QĐ\CP
của chính phủ vẫn liên tục xảy ra trong giai đoạn 1986 – 2000. Theo thống kê năm 1999 –
2000 cả nước thiếu 81,043 giáo viên phổ thông, trong đó 19,466 giáo viên tiểu học, 41,820
giáo viên trung học cơ sở và 19,757 giáo viên trung học phổ thông.
Về chất lượng đào tạo giáo viên năm 1999 – 2000 so với năm 1986 – 1987, số giáo
viên được đào tạo chuẩn ở tất cả các cấp học đèu tăng: bậc tiểu học từ 34.54% tăng lên
77.75%, bậc trung học cơ sở từ 51.9% tăng lên 83.45%, bậc trung học phổ thông từ
89.15% tăng lên 95.56%. Tuy nhiên chất lượng đào tạo giáo viên giữa các vùng chưa đồng
đều, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa.
3.1.3 Về qui mô học sinh.
Trong 15 năm qua, qui mô giáo dục tăng lên nhưng còn chứa đựng nhiều yếu tố tự
phát. Năm 2000 – 2001 cả nước có 366,698 trẻ em đi nhà trẻ giảm còn 38.77% so với năm
1986 – 1987( bình quân mỗi năm giảm 6.08%) và có 2,212,020 trẻ em đi mẫu giáo, tăng
22.33% (bình quân mỗi năm tăng 1.33%).
Về qui mô học sinh phổ thông cũng có xu thế tăng dần, riêng học sinh cấp trung học
cơ sở và trung học phổ thông tăng khá nhanh vào những năm gần đây. Năm 2000- 2001 cả
nước có 9,714,846 học sinh cấp tiểu học, tăng 16% so với năm 1986 – 1987( bình quân
mỗi năm tăng 0.99%); song so với năm 1999 – 2000 thì giảm còn 97.09%. Nguyên nhân
chủ yếu do thực hiện chương trình kế hoạch hoá gia đình và phổ cập giáo dục tiểu học.
Học sinh trung học cơ sở năm 2000 – 2001 là 5,863,604 người, tăng 82.86% ( bình quân
mỗi năm tăng 4.11%), tương ứng số học sinh trung học phổ thông là 2,171,436 người tăng
138.46% (bình quân mỗi năm tăng 5.95%).
Loại hình giáo dục trung học phổ thông ngoài công lập có xu hướng phát triển nhanh
vào những năm gần đây. Tỷ lệ học sinh ngoài công lập so với tổng số từ 24.02% năm 1996
– 1997 lên 32.95% năm 1998 – 1999, 34.06% năm 1999 – 2000 và 34.34% năm 2000 –
2001.
3.1.4 Về chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Trong thời kì 1986 – 2000, tỷ lệ lưu ban, bỏ học giảm dần và tỷ lệ hoàn thành cấp

trường). Qui mô học sinh năm 2000 có 200,148 học sinh, tăng so với 1996 và đặc biệt so
với 1986 cũng tăng 47.38%.
3.2.3 Đào tạo công nhân kỹ thuật và dạy nghề.
Thời kỳ 1986 – 2000, số lượng trường đào tạo công nhân kỹ thuật và dạy nghề giảm
mạnh: từ 296 trường năm 1986 đến 2000 còn 157 trường giảm 47.32% (bình quân mỗi
năm giảm 4.14%). Đồng thời số học sinh dạy nghề giảm rất mạnh so với 1986; song từ 1997 đến 2000 qui mô học sinh đã tăng so với 1986. Năm 2000, số học sinh dạy nghề có
172,045 người, tăng 22.88% ( bình quân mỗi năm tăng 1.38%) so với 1986.
Có thể nói sự nghiệp đào tạo thời kỳ 1986 – 2000 có những chuyển biến bước đầu và
đạt một số kết quả nhất định. Song tình trạng đào tạo nguồn nhân lực còn rất nhiều tồn tại
cần được điều chỉnh giải quyết.
4. Những tồn tại trong đầu tư và phát triển Giáo dục - Đào tạo.
4.1. Tồn tại trong đầu tư của ngân sách nhà nước cho Giáo dục - Đào tạo.
Bên cạnh những cố gắng của Nhà nước trong việc tăng chi cho sự nghiệp Giáo dục-
Đào tạo và những kết quả mà ngành giáo dục - đào tạo đã đạt được trong thời gian qua.
Cũng còn một số tồn tại trong đầu tư Ngân sách cho sự nghiệp này.
Thứ nhất, phần lớn nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo là từ ngân
sách Nhà nước nhưng chỉ được phân bổ theo từng năm, tỷ trọng đầu tư cao hay thấp đều
tuỳ thuộc vào khả năng thu và cơ cấu chi của ngân sách Nhà nước. Mặt khác, yêu cầu đặt
ra đối với công tác Giáo dục - Đào tạo là phải đạt được tối ưu hoá các công trình đào tạo
và làm nhẹ đi tính mất cân đối, sự chồng chéo trong tổ chức đào tạo. Song trong thực tiễn:
Bộ trường, và các cơ sở đào tạo nói chung đang đơn giản hoá kế hoạch hàng nă thành các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status