TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
LỚP: THUẾ _T02
************* ĐỀ TÀI
THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
GVHD: Nguyễn Đoàn Châu Trinh
Thành Viên: 1. Lê Nguyễn Vĩnh Phúc 030125090654
2. Lê Thị Phương Quyên 030125090670
3. Võ Trọng Tín 030125091026
4. Trần Bảo Toàn 030125090885
TP.Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 06 năm 2012 LỜI NÓI ĐẦU 3
1. Bán phá giá. 4
1.1. Khái niệm 4
thúc đẩy phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên cơ sở một nền thương mại và đầu tư
công bằng. Nhưng song song với điều đó là những khó khăn, thách thức mới mà các quốc
gia phải đối măt. Khi các rào cản thuế quan được dỡ bỏ và thuế hóa các rào cản phi thuế
quan thì các biện pháp tự vệ, thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng được các nước ngày
càng áp dụng triệt để nhằm bảo vệ hàng nội địa trước sự tấn công ào ạt của hàng nhập
khẩu bán phá giá tại thị trường nước mình. Điều này đã được chứng minh qua số lượng
ngày càng tăng các quốc gia có luật chống bán phá giá cũng như các vụ kiện bán phá giá
diễn ra trên phạm vi toàn cầu.
Và Việt Nam chúng ta cũng không phải là ngoại lệ khi mà chúng ta đang dần hội nhập
vào nền kinh tế thế giới với các nghiệp vụ kinh doanh mang tính xuyên quốc gia phát
sinh và từ đó cũng nảy sinh những vấn đề mang tính quốc tế cần giải quyết. Ví như chiến
dịch chống ca tra và cá ba sa Việt nam nhập khẩu vào Mỹ là một ví dụ điển hình nhất.
Điều tất nhiên, các cuộc đương đầu tương tự cũng sẽ không chỉ đối với Mỹ mà ở khắp
các thị trường xuất khẩu khác của nước ta. Bên cạnh đó hiện tượng bán phá giá hàng
nước ngoài cũng sẽ ngày càng tăng trên thị trường Việt Nam, có thể gây ra những tổn thất
lớn cho các nhà sản xuất nói riêng và cho cả nước nói chung. Và đây là điều hiển nhiên
mà các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt trong hoạt động thương mại quốc tế trong
tương lai.
Đứng trước thực tế này, đồi hỏi Việt Nam cần phải nghiên cứu và sớm đưa ra nhưng
công cụ bảo hộ mới cũng như thuế chống bán phá giá phù hợp với các quy định của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO). Và các doanh nghiệp cũng cần phải được trang bị
kiến thức, những hiểu biết nhất định về bộ luật này nhằm, ít nhất, tránh những lúng túng
và sai sót không cần thiết trong trường hợp bị kiện bán phá giá, và cao hơn, giành phần
thắng về mình, tạo vị thế cho doanh nghiệp Việt Nam.
Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện tiểu luận này nhằm cung cấp khái quát về lý luận
của việc bán phá giá, thuế chống bán phá giá và thực tiễn của Việt Nam trước tình hình
hàng hóa của chúng ta xuất khẩu ra nước ngoài bị kiện bán phá giá cũng như hàng hóa
nước ngoài nhập khẩu bán phá giá ở trị trường trong nước.
nguyên nhân dẫn tới hiện tượng bán phá giá trong thương mại quốc tế. Nhiều trường hợp
cố tình bán phá giá nhằm đạt được những lợi ích nhất định như: bán phá giá để chiếm
lĩnh thị phần, hoặc thậm chí loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu
từ đó chiếm thế độc quyền, hoặc bán giá thấp để thu ngoại tệ mạnh. Việc bán phá giá có
thể bắt nguồn từ chính sách tài trợ của Chính phủ nước xuất khẩu như: bảo hộ, trợ cấp, ưu
đãi thuế, ưu đãi tín dụng nhằm tăng cường xuất khẩu hay phát triển các ngành công
nghiệp chủ lực. Đôi khi việc bán phá giá là việc bất đắc dĩ do nhà sản xuất, không bán
được hàng, sản xuất bị đình trệ, sản phẩm lưu kho lâu ngày có thể bị hỏng nên đành bán
tháo để thu hồi vốn.
1.3. Ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá.
Tác động của hiện tượng bán phá giá được nhìn nhận cả góc độ tích cực và tiêu cực
bằng việc phân tích ảnh hưởng của nó đối với lợi ích của người tiêu dùng, nhà sản xuất
có liên quan và các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm cạnh tranh nội địa. Trong thương
mại quốc tế, bán phá giá thường được coi là hiện tượng tiêu cực do nó làm giảm khả năng
cạnh tranh về giá và thị phần của sản phẩm nội địa của nước nhập khẩu. Tuy nhiên, ở một
góc độ khác, bán phá giá có thể có tác động tích cực đối với nền kinh tế: người tiêu dùng
được lợi vì có thể mua hàng với giá rẻ hơn, nếu hàng bị bán phá giá là nguyên liệu đầu
vào của một ngành sản xuất khác, giá nguyên liệu rẻ có thể là yếu tố góp phần tạo nên sự
tăng trưởng nhát định của ngành đó, giá giảm có thể là động lực thúc đẩy ngành sản xuất
trong nước tự đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh.
Cụ thể hơn, ảnh hưởng của bán phá giá đến người tiêu dùng của nước nhập khẩu được
biểu hiện cả trong ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, việc bán phá giá đã tối đa hóa
lợi ích cho người tiêu dùng vì họ có cơ hội mua được hàng hóa nhập khẩu giá rẻ, là động
lực kích thích tiêu dùng tăng mạnh. Ngoài ra, việc bán phá giá hàng hóa nhập khẩu còn
làm tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường. Việc hàng hóa nhập khẩu phá giá với giá bán
rẻ hơn so với hàng hóa nội địa đã tạo ra sức ép cho ngành sản xuất nội địa trong việc tìm
phương cách nâng cao khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, trong dài hạn, quyền lợi của
người tiêu dùng có thể bị xâm hại nếu doanh nghiệp nước ngoài bán phá giá hàng hóa để
thực hiện chiến lược chiến đoạt thị trường, hủy diệt ngành sản xuất trong nước. Mặc dù
bán phá giá đem lại lợi ích cho người tiêu dùng ở hiện tại, song khi đã chiếm đoạt được
là một sự bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nước. Thông thường mỗi nước đều có một hệ
thống các quy định riêng về các điều kiện và thủ tục áp đặt thuế chống bán phá giá bên
cạnh quy định trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO.
2.2. Vai trò
Biện pháp phòng vệ thương mại: “Ý tưởng căn bản của việc áp đặt thuế chống bán phá
giá là sự phản ứng của nước nhập khẩu được thiết kế phần nào nhằm bình quân với ảnh
hưởng của các thủ pháp bất chính”. Mục tiêu chính của thuế chống bán phá giá là nhằm
vô hiệu hóa việc bán phá giá, bù đắp những tổn thất do bán phá giá và cạnh tranh không
lành mạnh gây ra cho các doanh nghiệp của nước nhập khẩu hàng bán phá giá. Thuế
chống bán phá giá được đặt ra nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước thông qua cơ chế
điều chỉnh hàng háo nhập khẩu chứ không có chức năng trừng phạt. Bằng việc áp thuế,
các quốc gia nhập khẩu mong muốn đẩy giá bán của hàng hóa nhập khẩu lên tương ứng
để loại bỏ khả năng gây thiệt hại hoặc loại bỏ tình trạng phá giá. Khi đó, ưu thế cạnh
tranh của hàng hóa nhập khẩu do việc bán phá giá tạo ra không thể tồn tại nên tình trạng
cạnh tranh trở về trạng thái bình thường.
Biện pháp điều tiết xuất khẩu: Là một loại thuế áp dụng khi nhập khẩu hàng hóa, trách
nhiệm nộp thuế chống bán phá giá thuộc về người nhập khẩu nên doanh nghiệp nhập
khẩu phải chịu gánh nặng tài chính, người tiêu dùng gánh chịu mức giá mua hàng hóa
tăng thêm. Từ đó, thuế chống bán phá giá tác động là cân bằng cạnh tranh, đồng thời ảnh
hưởng đến các dòng thương mại, làm thay đổi hướng kinh doanh, xu hướng tiêu dùng của
thị trường nhập khẩu. Như vậy, tuy không trực tiếp đặt ra hạn ngạch để hạn chế việc nhập
khẩu nhưng thuế chống bán phá giá đã tác động đến lợi ích của các tổ chức, các nhân
kinh doanh và tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu nhằm chi phối nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
2.3. Nội dung cơ bản của thuế chống bán phá giá
2.3.1. Trình tự một vụ kiện chống bán phá giá
Bước 1 : Ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nộp đơn kiện (kèm theo chứng cứ
ban đầu);
Bước 2 : Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi xướng điều tra (hoặc từ chối đơn
kiện, không điều tra);
Bước 3 : Điều tra sơ bộ ban đầu nhằm xác định có hiện tượng bán phá giá hay không
các sản phẩm bị điều tra từ tất cả các nước đang bị điều tra mà từng nước chiếm dưới 3%
tổng lượng nhập khẩu các sản phẩm tương tự và bị điều tra ở quốc gia, kết hợp lại chiếm
trên 7% hàng nhập khẩu các sản phẩm tương tự và bị điều tra ở quốc gia.
2.3.3. Mức thuế
Theo quy định của WTO thì “Thuế chống bán phá giá sẽ được đánh bổ sung bên cạnh
thuế nhập khẩu khác được đánh vào hàng nhập khẩu liên quan. Thuế chống bán phá giá
sẽ được thu bởi cơ quan có thẩm quyền theo lượng phù hợp trong từng vụ, trên cơ sở
không phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu từ các nguồn khác nhau bị phát hiện phá
giá và gây thiệt hại”. Điều này có nghĩa là thuế chống bán phá giá đánh vào từng mặt
hàng riêng lẻ - mặt hàng được kết luận là bán phá giá, không áp đặt chung cho hàng hóa
của một quốc gia và hàng hóa bị bán phá giá được xuất khẩu từ những quốc gia khác
nhau vời cùng biên độ phá giá như nhau thì sẽ áp đặt mức thuế chống bán phá giá thuộc
vào biên độ phá giá của từng nhà xuất khẩu chứ không áp dụng bình quân và không được
phép vượt quá biên độ đã được xác định
Trường hợp các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài không được lựa chọn để tham gia
cuộc điều tra nhưng hợp tác với cơ quan điều tra thì mức thuế chống bán phá giá áp dụng
cho họ không cao hơn biên phá giá trung bình của tất cả các nhà sản xuất, xuất khẩu nước
ngoài được lựa chọn điều tra;
Trường hợp các nhà sản xuất, xuất khẩu không hợp tác, gian lận trong quá trình điều
tra thì sẽ phải chịu mức thuế cao mang tính trừng phạt.
Thuế chống bán phá giá của EU được ấn định ở một mức thuế nhất định trong suốt
thời hạn áp dụng tính theo giá CIF với sản phẩm nhập khẩu từ nước xuất khẩu liên quan
bất kể có bị bán phá giá hay không.
2.3.4. Về thời điểm tính mức thuế chính thức
Có hai cách xác định mức thuế chống bán phá giá:
Cách tính thuế cho khoảng thời gian sắp tới (EU theo cách này): Mức thuế
chính thức sẽ được xác định ngay trong Quyết định áp thuế ban hành khi kết thúc điều tra
và có hiệu lực cho hàng hoá liên quan nhập khẩu trong khoảng thời gian sau đó;
Cách tính thuế cho khoảng thời gian đã qua (Hoa Kỳ tính theo cách này): Mức
thuế nêu tại Quyết định áp thuế ban hành sau khi điều tra chỉ là tạm thời; hết mỗi năm kể
ban hành. Thuế chống bán phá giá cuối cùng có thể được thu trên những sản phẩm được
nhập vào để tiêu thụ trong vòng 90 ngày kể từ ngày áp dụng các biện pháp tạm thời nếu
cơ quan điều tra quyết định, với các sản phẩm bị phá giá, rằng:
Đã có một quá trình phá giá đã gây ra thiệt hại hoặc nhà xuất khẩu đã hoặc đáng lẽ
phải biết rằng nhà xuất khẩu tiến hành phá giá và rằng việc phá giá đó sẽ gây ra thiệt hại;
và thiệt hại bị gây ra bởi lượng hàng bị phá giá lớn trong một thời gian khá ngắn mà theo
thời gian mà lượng hàng nhập khẩu bị phá giá và các trường hợp khác (như việc kiểm kê
hàng hóa nhập khẩu) dường như gây ra những tác động tiêu cực phải áp dụng thuế chống
bán phá giá cuối cùng miễn là nhà nhập khẩu liên quan có cơ hội bày tỏ ý kiến.
3. Thực trạng bán phá giá và áp dụng thuế chống phá giá của Việt Nam.
Ngày nay, đứng trước thách thức về cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường nội
địa, các quốc gia đã tăng cường sử dụng các công cụ bảo hộ ngày càng tinh vi thông qua
các biện pháp bảo đảm thương mại công bằng của WTO, trong đó có thuế chống bán phá
giá. Các vụ kiện bán phá giá xảy ra trên thế giới ngày càng tăng về số lượng chủ thể tham
gia và ngày càng mở rộng phạm vi hàng hoá áp dụng. Theo số liệu của WTO, các nước
có số vụ kiện chống bán phá giá nhiều nhất là Mỹ và liên minh EU; các nước bị kiện
nhiều nhất đa phần ở các nước có nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Hàn
Quốc…trong đó có Việt Nam. Với nền nền kinh tế thị trường còn yếu, Việt Nam có rất ít
kinh nghiệm trong việc đương đầu với các vụ kiện phá giá và vận dụng cơ chế chống bán
phá giá. Thực trạng này đã khiến các doanh nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều tổn hại về
quyền và lợi ích khi tham gia vào thương mại quốc tế.
3.1. Các vụ kiện bán phá giá đối với Việt Nam
Theo số liệu từ Hội đồng tư vấn các biện pháp phòng vệ thương mại quốc tế, tính đến
tháng 3/2006, Việt Nam đã phải đối phó với 21 vụ kiện chống bán phá giá, trong đó có 13
vụ Việt Nam phải chịu thuế chống bán phá giá. EU là nước khởi kiện Việt Nam nhiều
nhất (8 vụ) với mức thuế cao nhất lên đến 93% đối với mặt hàng Oxit kẽm. Đến cuối
12/2011, số vụ kiện đã lên tới 42, trong đó có nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực như thủy
sản đông lạnh, giày da, thép, nhựa… Nếu trong giai đoạn 1994-2001, Việt Nam chỉ chịu
1-2 vụ kiện/năm thì đến năm 2004 phải đối phó với 7 vụ kiện liên tiếp liên quan đến
nhiều mặt hàng công nghiệp xuất khẩu. Ở thời kỳ trước, các mặt hàng xuất khẩu của Việt
38,09% cho Navisfishco) và giữ nguyên mức 63,88% cho các công ty không tham gia.
Sau phán quyết cuối cùng này của DOC, kết quả của vụ kiện chỉ còn tuỳ thuộc vào phán
quyết của ITC về vấn đề thiệt hại hại. Ngày 24 tháng 7 năm 2003, ITC đưa ra phán quyết
cuối cùng, khẳng định các doanh nghiệp Việt nam đã bán với giá thấp hơn giá thành và
gây tổn hại cho ngành sản xuất của Mỹ, do đó ấn định mức thuế chống bán phá giá từ
36,84 đến 63,88%.
Rất nhiều doanh nghiệp Việt nam có liên quan đều phản đối về sự bất công trong vụ
kiện. Một điều rõ ràng là rất nhiều người, cả Việt nam và Mỹ, cho rằng phán quyết về vụ
cá tra và cá ba-sa là không công bằng, chỉ đem lại lợi ích cho một số công ty Mỹ và gây
thiệt hại cho những người nông dân nghèo vùng đồng bằng sông Cửu long. Tuy nhiên
việc tập trung vào khía cạnh công bằng hay không công bằng của vụ tranh chấp đòi hỏi
Việt nam phải xem xét một vấn đề lớn hơn, đó là: Liệu bằng cách nào Việt nam có thể
đối phó với những vụ kiện tương tự trong tương lai một cách hiệu quả nhất. Cần phải
thừa nhận một thực tế là sẽ tiếp tục có những vụ kiện chống bán phá giá và đây chưa phải
là vụ cuối cùng. Vụ kiện cá da trơn này chỉ là một trong số 276 vụ kiện chống bán phá
giá của thế giới năm 2002.
Hiện nay, theo cập nhật mới nhất từ chuyên gia pháp lý đến từ Hoa Kỳ cho thấy, nhiều
ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như: tôm đông lạnh, cá tra, da giày… đang
tiếp tục đối mặt với nguy cơ bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá. Mới nhất là việc
Hoa Kỳ áp đặt mức thuế chống phá giá gần 28% với các nhà xuất khẩu ống thép hàn
cácbon của Việt Nam trong tháng 5/2012.
3.2. Tình hình bán phá giá ở thị trường trong nước
Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng
thời đã và đang chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Sau khi gia nhập WTO,
Việt Nam có cơ hội phát triển, mở rộng thị trường tiêu thụ, tuy nhiên đó cũng là thách
thức khi hàng hóa các nước cũng sẽ thâm nhập vào thị trường trong nước, cạnh tranh với
ngành sản xuất nội địa. Các mặt hàng từ các quốc gia có nền kinh tế mạnh như Mỹ, Nhật,
EU, Hàn Quốc, Trung Quốc… chiếm thị phần ngày càng lớn, nhất là các mặt hàng công
nghệ, điện tử, máy móc. Sự cạnh tranh gay gắt này đã khiến các công ty tăng cường các
biện pháp cạnh tranh, cả lành mạnh và không lành mạnh, trong đó có biện pháp bán phá
Thiếu am hiểu luật chơi quốc tế là một trong những điểm yếu của các doanh nghiệp
Việt Nam dẫn đến sự yếu thế trong các vụ kiện chống bán phá giá. Điều đáng lưu tâm là
phần lớn các doanh nghiệp trong các vụ kiện chống bán phá giá chỉ thực sự chú ý đến vấn
đề khi có sự cố xảy ra lúng túng, bị động trong cách chơi và dễ bị đối tác qua mặt, dẫn
đến thua thiệt trong cạnh tranh quốc tế. Điều này xuất phát từ việc các doanh nghiệp thiếu
thông tin về khi tiếp cận một thị trường mới và ngay cả những thị trường mà họ đã thâm
nhập từ trước. Nghiên cứu kỹ về những yếu tố và thông số thị trường và những quy định
về chống bán phá giá của thị trường mục tiêu giúp cho các doanh nghiệp xây dựng được
các chính sách thích hợp nhằm hạn chế tối đa các vụ kiện liên quan đến bán phá giá và
chủ động hơn khi bị kiện bán phá giá. Việc am hiểu thị trường, nắm rõ các điều kiện cạnh
tranh, các đối thủ cùng với những quy định về chống bán phá giá giúp doanh nghiệp nhận
biết được lợi thế cạnh tranh, điểm mạnh và điểm yếu của bản thân doanh nghiệp xuất
khẩu cũng như các đối thủ cạnh tranh, từ đó doanh nghiệp có thể thâm nhập thị trường
một cách hiệu quả hơn, đồng thời có thể xây dựng được một chính sách giá hợp lý – vừa
đảm bảo cạnh tranh được với các đối thủ vừa tránh được các vụ kiện. Về cơ bản một
chính sách giá hợp lý nhằm tránh liên quan đến các vụ kiện chống bán phá giá phải đáp
ứng một số tiêu chí: Đảm bảo sự thống nhất về mức giá giữa các thị trường xuất khẩu
khác nhau, giữa thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa; Đảm bảo được tính cạnh tranh
của sản phẩm xuất khẩu trên cơ sở có cân nhắc đến mức giá hợp lý – trước khi hình thành
giá xuất khẩu, nhà xuất khẩu cần cân nhắc mức độ cạnh tranh của mức giá đó tại thị
trường nước nhập khẩu và khả năng thỏa mãn thị trường của mức giá đó và mức lợi
nhuận mà mức giá đó đem lại. Yếu tố thông tin là điểm mấu chốt đề các doanh nghiệp có
thể thực hiện được hai tiêu chí này. Bên cạnh đó, doanh nghiệp xuất khẩu cần chuẩn bị tư
thế sẵn sáng với nguy cơ bị kiện bán phá giá bằng việc chuẩn bị đầy đủ các tài liệu liên
quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh như số liệu về các chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp phục vụ cho hoạt động sản xuất, các chi phí về quản lý, chi phí tài chính và các
khoản chi phí chung khác, số liệu về giá cả các yếu tố đầu vào trên thế giới cũng như một
số quốc gia có khả năng được sử dụng lam thị trường thay thế cho Việt Nam,….
Nguyên nhân của tình trạng thiếu thông thi thiếu am hiểu luật chơi không chỉ đến từ
các doanh nghiệp, trách nhiệm không nhỏ đến từ các cơ quan quản lý Nhà nước. Các cơ
giành phần thắng về mình.
Thứ nhất, một điểm hết sức quan trọng là cần tận dụng mọi cơ hội để giành phần thắng
ngay từ đâu. Chính vì vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu cần phải có thái độ quan điểm
đúng khi bị kiện bán phá giá – phải coi hiện tượng bị kiện bán phá giá ở nước nhập khẩu
là bình thường. Khi bị khởi kiện, doanh nghiệp phải chủ động, tích cực ngay từ đầu đối
phó với vụ kiện.
Thứ hai, doanh nghiệp tích cự tham gia “hầu kiện”; trả lời đầy đủ các câu hỏi, nộp
đúng thời hạn, hợp tác với các nhóm nhân viên điều tra đến từ nước nhập khẩu. Hoàn
thiện hệ thống sổ sách chứng từ kế toán phù hợp với các quy định của pháp luật và chuẩn
mực quốc tế, lưu trữ đầy đủ hồ sơ về tình hình kinh doanh nhằm chuẩn bị sẵn sàng các
chứng cứ, các lập luận chứng minh không bán phá giá của doanh nghiệp, tổ chức nhân
sự, dụ trù kinh phí, xây dựng các phương án bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp…
Thứ ba, tạo ra mối liên kết với các hiệp hội ngành để vận động hành lang nhằm lôi kéo
những đối tượng có cũng quyền lợi ở nước khởi kiện ủng hộ mình. Trong một số vụ kiện
thực tế đã chứng minh, các doanh nghiệp xuất khẩu thành công trong việc lôi kéo các nhà
nhập khẩu, nhà phân phối hàng nhập khẩu…tham gia cùng “trận tuyến” với mình để đối
phó với các vụ kiện chống bán phá giá, đã mang lại nhiều kết quả khả quan. Ngược lại
trong rất nhiều vụ kiện, các nhà xuất khẩu quyết định đơn độc đối chọi lại bên nguyên
đơn và cuối cùng kết quả không được tốt đẹp. Bởi vì, nhà xuất khẩu nước ngoài có thể
nắm rõ các số liệu của họ, nhưng họ không nắm vững tình hình thực tế tại thị trường
nước nhập khẩu. Do đó, nhà nhập khẩu là người duy nhất có thể biện hộ một cách hiệu
quả chống lại sự tố cáo của bên nguyên đơn bằng việc chứng minh: Hành vi bán dưới
mức hợp lý có thể gây thiệt hại cho ngành sản xuất ở nước nhập khẩu.
Thứ tư, chủ động thương lượng với chính phủ của nước khởi kiện thực hiện cam kết
giá nếu doanh nghiệp thực sự có hành vi phá giá, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp cùng
ngành hàng của nước nhập khẩu. Cam kết giá là việc nhà sản xuất, xuất khẩu cam kết sửa
đổi mức giá bán hoặc cam kết ngừng xuất khẩu với giá bị coi là bán phá giá hàng
hóa.Cam kết giá có ưu điểm là nhanh chóng hơn và ít tốn kém hơn so với việc phải hoàn
tất cuộc điều tra của cơ quan điều tra về bán phá giá.
Thứ năm, một vấn đề của các nhà xuất khẩu Việt Nam, đó là do sự eo hẹp về tài chính
Việt Nam của chúng ta đang trên đà hội nhập với nền kinh tế thế giới. Ngoại thương
mở cửa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam đưa những hàng hóa của mình đến
các thị trường lớn như Mỹ, Châu Âu, Canada…; đồng thời cũng có nhiều hàng hóa của
các nước bạn được nhập khẩu vào Việt Nam. Và hiện tượng bán phá giá cũng đang diễn
ra ngày một gia tăng, gây trở ngại cho việc xuất khẩu hàng hóa cũng như gây nhiều tổn
thất cho các doanh nghiệp xuất khẩu nói chung và nền kinh tế của cả nước nói chung. Vì
vậy, Chính phủ, Bộ và các cơ quan ban ngành có liên quan cần phải có những chính sách
cụ thể để đối phó với tình trạng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị kiện bán phá giá và
hàng hóa nhập khẩu bán phá giá trên thị thường trong nước.
Bên cạnh đó, cần tổ chức, tuyên truyền cho các doanh nghiệp có những hiểu biết nhất
định về quyền của họ đối với việc tiến hành điều tra áp dụng thuế chống bán phá giá,
nghĩ vụ tham gia của họ trong tiến trình điều tra,…. Các doanh nghiệp cũng cần biết rõ
nguy cơ hàng xuất khẩu của họ cũng bị nước nhập khẩu áp dụng thuế chống bán phá giá.
Vì vậy, các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu một loại mặt hàng nên hợp tác với nhau
dưới hình thức hiệp hội để thường xuyên trao đổi thông tin, tìm hiểu biện pháp đối phó
khi mặt hàng mình xuất khẩu bị nước ngoài điều tra phá giá, đồng thời các doanh nghiệp
cũng cần hợp tác chặt chẽ với Chính phủ để tiến hành những vận động cần thiết khi hàng
xuất khẩu của Việt Nam có nguy cơ bị điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá.
Do nguồn nhân lực có hạn, thời gian thực hiện đề tài hạn hẹp và phạm vi của bài tiểu
luận không cho phép nên nhóm chỉ xin được giới thiệu những kiến thức sơ lược về vấn đề
bán pháp giá. Và vẫn còn nhiều kiến thức liên quan khác mà chưa được nhóm đề cập đến
cũng như nhiều vấn đề khác mà nhóm chưa đào sâu được như phân tích những thành tựu
và hạn chế cần khắc phụ của Việt Nam đối với vấn đề bán phá giá. Hy vọng, cô và các
bạn bỏ qua và có thể tiếp tục nghiên cứu, đào sâu những vấn đề nhóm còn bỏ dở.