MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
3
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây cam, quýt là cây ăn quả có giá trị trên thị trường quốc tế, là một
trong những loại quả được trao đổi buôn bán nhiều. Cam, quýt có nhiều loài,
thứ, quả chín sớm muộn khác nhau, có thể kéo dài thời gian cung cấp quả tươi
cho thị trường tới 6 tháng trong năm. Nếu được trồng ở các vĩ độ khác nhau
hoặc ở bán cầu khác nhau, cùng với ưu điểm dễ cất giữ, vận chuyển thì cam,
quýt có thể cung cấp quả tươi gần như quanh năm. Trồng cam, quýt sớm cho
thu hoạch, đầu tư ban đầu không cao lắm nhưng hiệu quả kinh tế lớn.
Vùng Trung du - miền núi phía Bắc có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu
và nguồn gen phong phú cho phép phát triển tốt về cây ăn quả. Trong tập
đoàn giống cam quýt ở vùng này, cam sành (Citrus nobilis Lour) là một giống
lai giữa cam và quýt (C.reticulat x C.sinensis of Swingle) hiện nay đang có
diện tích trồng lớn nhất so với các giống khác. Sản phẩm cam sành được coi
là đặc sản của một số địa phương mang tính hàng hóa cao. Cây cam sành
(Citrus nobilis Lour) có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm và ưa khí hậu
ẩm, sinh trưởng và phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ 23
o
C - 29
o
C, nhưng
cũng có thể chịu rét và sinh trưởng ở nhiệt độ 12
o
C. Vùng có thể trồng được
cây cam sành từ 35 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam.
Việt Nam là một trong những nước nằm trong trung tâm phát sinh cây
có múi (Trung tâm Đông Nam Á), nên cây có múi đã được trồng rất lâu đời
Xuất phát từ vấn đề trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
ảnh hưởng của biện pháp thâm canh tổng hợp đến sinh trưởng, phát triển
và năng suất, chất lượng của cam sành Hàm Yên - Tuyên Quang”.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp thâm canh tổng hợp đến đặc
điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của
cam sành giai đoạn kinh doanh tại Hàm Yên - Tuyên Quang.
- Xây dựng hoàn thiện một quy trình thâm canh mới mang lại hiệu quả
kinh tế cao.
4
5
1.3. YÊU CẦU
- Điều tra điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu), tình hình sản xuất cam
của huyện Hàm Yên.
- Theo dõi và mô tả đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, phát triển
của cam sành Hàm Yên.
- Theo dõi và đánh giá năng suất và chất lượng của quả cam sành Hàm Yên.
1.4. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá những kiến thức đã học trong
nhà trường vào nghiên cứu khoa học và trau dồi những kiến thức, kinh
nghiệm thực tế.
+ Là cơ hội tiếp cận thực tế để hiểu rõ hơn về bản chất vấn đề.
+ Giúp sinh viên nắm được cách tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học
+ Giúp sinh viên biết phương pháp thu thập, xử lý số liệu và trình bày
một báo cáo khoa học.
+ Là cơ sở để lựa chọn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới trong việc
trồng và chăm sóc cây có múi.
+ Là cơ sở để tiến hành nghiên cứu sâu hơn về việc lựa chọn giống
cam, quýt phù hợp cho từng vùng.
hiện tượng ra quả cách năm, điều chỉnh cân đối giữa các bộ phận trên mặt đất
và dưới mặt đất, hạn chế sâu bệnh, góp phần nâng cao năng suất và chất
lượng [6].
Ở cam quýt nói chung vào độ tuổi cây cho thu hoạch có thể cho một
khối lượng sản phẩm lớn từ 15-20 tấn/ha. Vì vậy cây lấy đi từ trong đất một
lượng dinh dưỡng tương đối lớn để nuôi thân, rễ, lá và kiến tạo các sản phẩm
quả. Đó là lý do mà chúng ta phải thâm canh, có một chế độ chăm sóc hợp lý
cho cây cam. Bón phân cung cấp dinh dưỡng vào đất hoặc bón phân qua lá sẽ
quyết định nhiều đến năng suất chất lượng cam. Nhưng thâm canh càng cao
càng khiến cho diễn biến sâu bệnh càng phức tạp. Các chế độ chăm sóc như:
làm đất, bón phân, tưới nước,… và mọi hoạt động sản xuất khác của con
người khi có những tác động lên cây trồng, lên các thành phần của hệ sinh
thái đồng ruộng, vườn cây đều có ảnh hưởng đến phát sinh, diễn biến, mật độ,
phân bố các loại sâu bệnh hại cây [3].
6
7
Tại huyện Hàm Yên - Tuyên Quang việc áp dụng khoa học kỹ thuật để
phát triển vùng cam chưa được rộng rãi nên năng suất chưa cao, mẫu mã
không đẹp, chất lượng thấp. Để giải quyết được vấn đề trên, việc nghiên cứu
ảnh hưởng của các biện pháp thâm canh tổng hợp đến sinh trưởng, phát triển
và năng suất, chất lượng của cam sành Hàm Yên là cần thiết.
2.2. NGUỒN GỐC
Cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, sự lan trải của cam quýt
đến thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh
trước đây. Cam quýt được di chuyển đến châu Phi từ Ấn Độ bởi các thuyền
buôn, di chuyển đến châu Mỹ bởi các nhà thám hiểm và thuyền buôn người
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha (Pinhos Spiegel - Roy. El al, 1998)[12].
Trước đây có vài báo cáo cho rằng loài chanh yên (Citrus medica L),
phật thủ (Citrus medica. Var) có thể có nguồn gốc ở địa phương trung hải
hoặc Bắc Phi. Nhưng hiện nay đã chứng minh được sáng tỏ Citris medica có
triển từ giữa thập niên 1980 đến nay gồm nhiều chủng loại quả cam, chanh,
quýt, bưởi có lượng gia tăng rất nhanh, sự phát triển cam, quýt bao gồm số
lượng tiêu thụ quả tươi, trên đầu người hàng năm trên thế giới tăng, ngay cả
chế biến đóng hộp cũng gia tăng đồng bộ với hình thức vận chuyển và bao bì
cho sản phẩm, chất lượng đã được cải thiện rất nhiều và chi phí cho đầu tư
giảm đáng kể.
Theo thống kê của FAO năm 2011 tình hình xuất nhập khẩu cam, quýt
trên thế giới như sau: nhập khẩu 37,13 nghìn tấn có giá trị 31.272,38 nghìn
USD, xuất khẩu 63,71 nghìn tấn có giá trị 38.112,3 nghìn USD. Như vậy sản
phẩm cam, quýt có giá trị thương mại rất lớn trong nền kinh tế thế giới.
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng cam, quýt trên thế giới
2005 - 2010
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(tấn)
2005 7.920.811 14,06 111.375.240
2006 8.233.589 14,28 117.591.695
2007 8.633.025 13,40 115.698.791
2008 8.697.925 14,02 121.936.794
2009 8.684.866 14,14 122.833.294
2010 8.645.339 14,31 123.694.474
(Nguồn: FASTAT/FAO Statistics - năm 2012)[10]
8
9
Từ năm 2005 đến năm 2010 diện tích trồng cam trên thế giới tăng từ
7920811 ha lên 8645339 ha. Bên cạnh đó, năng suất và sản lượng cam cũng
9
10
năm 2010
Chỉ tiêu Năm
Các châu lục trên thế giới Thế giới
Châu Phi Châu Mỹ Châu Á Châu Âu
Châu
Úc
Diện tích
(ha)
2008
1.426.253 2.497.526 4.149.420 591.573 33.176 8.697.925
2009
1.461.736 2.442.310 4.169.000 581.998 29.822 8.684.866
2010
1.449.543 2491284 4.147.708 525.178 31.626 8.645.339
Năng
suất
(tạ/ha)
2008
93,831 195,738 115,360 189,473 178,271 14,0190
2009
100,344 191,149 121,171 179,489 174,015 14,1434
2010
97,895 188,555 125,323 190,171 177,181 14,3067
Sản
lượng
(tấn)
2008
13.382.713 48.886.060 47.867.858 11.208.731 591.432 121.936.794
ở một số nước châu Á năm 2010 như sau:
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất cam ở một số nước vùng châu Á năm 2010
STT Vùng, lãnh thổ
Năm 2010
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)
1
Trung Quốc 375.789 133,141 5.003.289
2
Ấn Độ 617.200 101,557 6.268.100
3
Inđônêia 58.000 350,460 2.032.670
4
Thái Lan 21.500 173,349 372.700
5
Việt Nam 61.500 118,602 729.400
(Nguồn: FASTAT/FAO Statistics - năm 2012) [10]
Diện tích lớn nhất ở vùng này là Trung Quốc năm 2010 có trên 3 triệu ha
năng suất đạt 133,141 tạ/ha và sản lượng đứng đầu thế giới với 5.003.289 tấn.
Đứng thứ 2 là Ấn Độ với diện tích 617.200 ha, năng suất đạt 101,557 tạ/ha,
Inđônexia là nước có năng suất cao nhất 350,460 tạ/ha.
2.3.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất cam, quýt trong nước
Cam, quýt có lịch sử trổng trọt lâu đời ở nước ta, cho đến nay cam quýt
đã được nhiều nhà quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất
cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước. Theo các tác giả
Trần Như ý, Đào Thanh Vân, Nguyễn Thế Huấn (năm 2000) cho thấy cây ăn
Năng suất (tạ/ha)
98.1 100.1 107.6 105.0 118.6
3
Sản lượng (1000tấn)
611.0 648.2 676.7 683.5 720.1
(Cơ sở dữ liệu bộ NN & PTNT 2012)
Nhìn vào bảng thống kê ta thấy diện tích sản xuất cam, quýt tăng từ
năm 2006 với 62.2 nghìn ha lên 65.1 nghìn ha năm 2007 sau đó giảm dần đến
năm 2010 xuống còn 60.9 nghìn ha. Năng suất trung bình năm 2006 rất thấp
chỉ đạt 98.1 tạ/ha và chúng tăng dần đến năm 2010 đạt năng suất 118.6 tạ/ha.
Tổng sản lượng cam, quýt trong năm 2010 đạt cao nhất là 720.1 nghìn tấn.
2.3.3. Các vùng trồng cam trong nước
2.3.3.1. Vùng đồng bằng Sông Cửu Long
Gồm các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh,
Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí địa lý từ 9
0
15’ - 10
0
30’ vĩ độ Bắc và
105
0
- 106
0
45’ độ kinh Đông. Đây là vùng tận cùng phía Nam đất nước thuộc
châu thổ sông Cửu Long, địa hình rất bằng phẳng.
12
13
Vùng đồng bằng Sông Cửu Long có nhiều điều kiện thuận lợi về khí
hậu để phát triển sản xuất cây có múi, có chế độ nhiệt độ cao và rất ôn hòa.
Nhiệt độ trung bình năm 25,5
3 - 6
0
rất thuận lợi cho trồng cam quýt và các cây trồng lâu năm khác, ảnh
hưởng của 2 loại gió mùa Đông - Bắc (gió lạnh) và Tây - Nam (gió nóng), nên
khí hậu vùng Phủ Quỳ phân thành 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nhiệt
độ trung bình trong các tháng mùa Đông vùng Phủ Quỳ từ 15 - 17
0
C. Nhiệt độ
13
14
tối thấp trong tháng lạnh nhất (tháng 1) xuống tới 2
0
C. Số ngày có nhiệt độ
thấp dưới 10
0
C ở Phủ Quỳ thường có tới 10 ngày. Đây là một hạn chế lớn đối
với vùng sinh trưởng của cam quýt.
Ngược lại về mùa Hè do ảnh hưởng của gió Tây - Nam nên khí hậu rất
khô và nóng. Nhiệt độ trung bình trong các tháng mùa nóng từ 27 - 30
0
C,
nhiệt độ tối cao trung bình là 33 - 33,6
0
C. Nhiệt độ tuyệt đối cao trong tháng
nóng nhất (tháng 7) lên tới 42
0
C. Lượng mưa ở vùng Phủ Quỳ xấp xỉ 1.600
mm/năm, nhưng phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào mùa nóng, gây
hiện tượng xói mòn đất, trong khi các tháng mùa đông lại ít mưa, lượng bốc
hơi lớn, gây hiện tượng hanh khô thiếu nước.
Riêng trung tâm Bắc Quang lượng mưa rất lớn từ 2.500 - 3.200mm. Tuy nhiên, sự
phân bố của mưa không đều [4].
Đất đai rất da dạng, gồm các loại đất Feralit phát triển trên đá biến chất
như: đá Gơnai, đá vôi, phiến thạch sét, phiến thạch mica, đất phù sa cổ, phù sa
không được bồi ven các sông suối, đất dốc tụ do quá trình rửa trôi xói mòn
tạo thành Địa hình phức tạp, chia cắt, độ dốc lớn.
Khí hậu ở miền núi các tỉnh phía Bắc, ngoài thích hợp với sinh trưởng
phát triển bình thường của cam quýt, còn có ưu thế nổi bật so với vùng đồng
bằng sông Cửu Long là có mùa Đông lạnh, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa
các tháng chênh lệch lớn làm cho quả cam quýt dễ phát mã, thể hiện đúng đặc
trưng của giống, vì vậy mã quả cam quýt ở phía Bắc bao giờ cũng đẹp hơn ở
phía Nam, quả ít hạt hơn, mọng nước và ít xơ bã.
Hạn chế cơ bản của việc phát triển cam quýt ở vùng miền núi phía Bắc là:
+ Địa bàn phân tán, ít có vùng tập trung lớn như vùng Phủ Quỳ - Nghệ
An hoặc vùng đồng bằng sông Cửu Long.
+ Địa hình dốc, giao thông đi lại khó khăn, hạn chế nhiều đến việc mở
rộng vùng sản xuất cam quýt làm hàng hoá.
+ Việc áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất gặp nhiều khó khăn
do trình độ dân trí còn thấp, tính thích ứng với nền kinh tế hàng hoá còn chậm.
Sản xuất chủ yếu theo lối kinh nghiệm, thường chỉ độc canh một giống,
nên dễ bị ứ đọng sản phẩm, sâu bệnh phát sinh gây hại nhiều, công tác tuyển
chọn nhân giống chưa được chú trọng dẫn đến sự thoái hoá giống, phẩm chất
ngày càng xuống cấp [4].
Khắc phục những trở ngại trên, phát huy thế mạnh của các tỉnh miền
núi phía Bắc về điều kiện tự nhiên khí hậu để sản xuất hàng hoá quả có múi,
chỉ có thể làm từng bước và bắt đầu từ việc nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật mới, đặc biệt là những tiến bộ kỹ thuật về giống vào những vùng sản
xuất có kinh nghiệm, trên cơ sở đó phát triển ra các vùng khác.
15
16
đạt 200 - 220 g, quả hình cầu, mọng nước, vỏ quả mỏng, ít hạt, ngọt đậm và
16
17
thơm. Cây chiết hoặc cây từ giâm cành sau 3 năm cho quả. Giống cam Sông
Con cho năng suất trung bình có khả năng chống chịu được một số sâu bệnh
và có tính thích ứng rộng nên đã được trồng ở trung du, miền núi, ven biển
và vùng đồng bằng. Cam Sông Con còn được trồng phổ biến khắp các vùng
trong cả nước [8].
* Giống cam Vân Du
Được nhập nội từ những năm của thập kỷ 40 do trạm nghiên cứu cam
Vân Du (Thanh Hóa) chọn lọc. Đây là một trong các giống cam chủ lực của
nước ta, cây phân cành khỏe, tán hình trụ, cành dày, có gai. Lá hơi thuôn,
màu xanh đậm, eo lá hơi to. Quả hình tròn ôvan, vỏ dày, mọng nước, giòn,
ngọt nhiều hạt. Giống cam này cho năng suất khá cao, chống chịu tốt với
một số sâu bệnh hại, chịu hạn và được phổ biến rộng. Được trồng phổ biến ở
các nông trường thuộc các tỉnh miền Trung và phía Bắc [8].
* Giống cam Bù Hà Tĩnh
Được trồng từ lâu ở Hương Sơn - Hà Tĩnh, có nơi gọi là quýt. Có 3
dạng hình chủ yếu:
- Dạng vỏ dày, quả có thành cao, phẩm chất tốt, ăn rất ngon.
- Dạng hoàn toàn giống cam sành nhưng quả có thành cao, vỏ mỏng
hơn, nhiều hạt.
- Dạng có quả hình cầu, chín muộn, vỏ quả đẹp
Cam Bù Hà Tĩnh có tính chống chịu khá, thích nghi với điều kiện khí
hậu, đất đai ở tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và các vùng đồng bằng, Trung du,
miền núi phía bắc. Năng suất ở cây 9 - 10 năm tuổi có thể đạt 35 - 40 tấn/ha.
Nếu trồng ở mật độ 800 - 1200 cây/ha.
* Giống cam Dây (cam Mật)
Phổ biến ở các vùng thuộc đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông
Nam Bộ. Cây đạt 5 năm tuổi cao 3 - 4 m, đường kính tán 5 - 6 m, cành ít gai,
ngày xưa được dùng để tiến vua, giống quýt này được trồng nhiều ở xã
Tích Giang từ đó có tên gọi là quýt Tích Giang. Lá dày, thuôn dài, quả to
đẹp, đường kính quả lớn hơn chiều cao quả, vỏ hạt dày và giòn, thịt quả
mọng nước, nhiều hạt, hạt to, thịt nhiều xơ bã nhưng ngọt đậm.
* Quýt Vỏ vàng Lạng Sơn.
Cây mọc thẳng và cao, phân cành nhiều và nhỏ. Lá giống lá quýt Tích
Giang, nhưng nhỏ và dài hơn, trên lá có nhiều túi hình dầu, mùi thơm đặc
18
19
biệt. Thịt quả mọng nước, vách múi mỏng, ít hạt hương vị thơm ngon, hấp
dẫn, ngọt đậm hơi có vị chua. Tính chống chịu tốt với điều kiện sinh thái cao,
khả năng thích nghi lớn được trồng nhiều ở các tỉnh như: Lạng Sơn, Bắc Cạn,
Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng.
2.5. MỘT SỐ GIỐNG CAM QUÝT ĐƯỢC TRỒNG Ở TUYÊN QUANG
* Cam Sành:
Quả to trung bình 180 - 200g, vỏ dày thô, sần sùi, màu sắc vỏ quả và
thịt quả đẹp, vị quả ngọt đậm, ít xơ, chín muộn vào dịp tết (tháng 12 - tháng 1
trong năm sau).
* Quýt Sen:
Cây sinh trưởng khỏe, năng suất cao, chín sớm, vị ngọt mát, thơm
nhưng xơ bã nhiều, dai, thích hợp trồng để dải vụ.
* Quýt Đỏ Ngọc Hồi:
Sinh trưởng khỏe, năng suất cao, mẫu mã đẹp, quả còn xanh mọng
nước và rất chua. Khi chín vỏ quả chuyển màu đỏ, có vị ngọt đậm.
* Quýt Vàng:
Quả hình cầu hơi dẹt, khi chín vỏ quả màu vàng, giòn, thịt quả mọng
nước, vị ngọt đậm, hơi chua, ít xơ.
* Quýt Chum:
Quả hình quả lê, có núm lồi, vỏ màu vàng da cam, hơi sần sùi, dễ bóc,
vị ngọt, không chua.
* Thân, cành:
Cam quýt có đặc điểm là "tự rụng ngọn" nghĩa là sau khi cành đã phát
triển đến nhất định thì ngừng lại lúc đó ngọn và 1- 2 mầm sẽ rụng đi. Hiện
tượng này xảy ra với các đợt lộc khiến cho cam quýt không có thân chính rõ
rệt, cành lá rậm rạp đây chính là cơ sở cho việc tỉa hàng năm.
- Một năm cam quýt ra nhiều đợt cành:
+ Cành Xuân ra vào tháng 2, 3 là cành mang hoa và quả, cành thường
ngắn, mật độ lá dày thích hợp đẻ lấy mắt ghép, ghép vào mùa Thu.
+ Cành Hè được mọc ra từ cành Xuân cùng năm thường ra vào tháng 5 - 7.
+ Cành Thu: ra vào tháng 8 - 9 phát sinh ra chủ yếu từ cành Xuân và
cành Hè cùng năm.
+ Cành Đông: ra vào tháng 11 - 12 thường sinh ra trên cành quả.
20
21
- Cành cam quýt được phân chia làm 3 loại:
+ Cành quả: tùy giống cam quýt mà cành quả có độ dài từ 3 - 25 cm.
Cành có lá thường có tỷ lệ đậu quả cao hơn cành không có lá. Cành quả
thường sai trong mùa Xuân (trừ một số giống từ thời Chanh Yên, Phật Thủ) vì
tập trung dinh dưỡng nuôi quả quanh năm nên ít nảy lộc. Sau khi thu quả phải
mất một thời gian nhất định tích lũy dinh dưỡng cành quả sẽ trở thành cành
mẹ (Trần Như Ý, Đào Thanh Vân, 2000) [7].
+ Cành mẹ: là cành sinh ra quả có thể là cành Xuân, cành Hè hoặc cành
Thu năm trước. Qua theo dõi cho thấy tùy thuộc giống, thường cành thu
hoạch, cành Hè làm cành mẹ thì số cành nhiều quả và tỷ lệ đậu quả cao hơn.
Người ta có thể chủ động bồi dưỡng cành mẹ để tạo điều kiện cho vụ quả sau.
+ Đây là biện pháp quan trọng để tạo điều kiện cho vụ quả sau.
+ Cành dinh dưỡng: cành không có hoa quả, chỉ có lá, nhiệm vụ chính
của cành dinh dưỡng là quang hợp và tích lũy dinh dưỡng. Thực ra giữa cành
mẹ và cành dinh dưỡng không có giới hạn rõ, năm nay là cành dinh dưỡng,
sang năm có thể là cành mẹ. Khi cây còn nhỏ có thể lợi dụng cành dinh dưỡng
Hoa cam quýt cơ bản được phân chia làm 2 loại:
Hoa phát dục đầy đủ: hoa có đầy đủ đài hoa, tràng hoa, nhị hoa, nhụy
hoa và bầu hoa.
Hoa dị hình: những hoa có các bộ phận phát triển không đầy đủ những
hoa này ít có khả năng đậu quả.
* Quả: quả cam quýt thuộc loài quả mọng có múi, số múi tùy thuộc vào
loài: cam Bố Hạ có từ 9 - 10 múi, cam Xã Đoài có từ 10 - 13 múi, cam Giấy 8
- 9 múi, quýt Bắc Sơn có từ 10 - 12 múi. Khi còn xanh chứa nhiều acit đến
khi chín lượng acit giảm, hàm lượng đường và chất tan tăng lên.
Cấu tạo quả gồm 2 phần : vỏ ngoài và vỏ giữa.
Phần vỏ ngoài: gồm lớp biểu bì trên là: biểu bì của tử phong do các tế
bào có chất sừng dày hình thành xen kẽ có các khí khổng.
Phần vỏ giữa gồm 2 lớp: lớp sắc tố và lớp trắng.
+ Lớp sắc tố do mấy chục tầng tế bào chứa nhiều sắc tố hợp thành một
lớp mỏng. Khi quả còn xanh nhờ diệp lục mà quả có thể quang hợp được. Khi
quả già và chín thì quả có màu vàng hoặc đỏ.
+ Lớp trắng dưới lớp sắc tố là lớp trắng (lớp cùi) lớp này có thể màu
trắng, màu vàng hoặc hồng nhạt, độ dày của lớp trắng thay đổi tùy giống.
Sự phát triển của quả trái qua hai đợt rụng quả sinh lý:
Đợt 1: sau khi ra hoa khoảng 1 tháng (tháng 3 - tháng 4) quả còn nhỏ
khi rụng mang theo cả cuống.
Đợt 2: quả đạt đường kính 3 - 4 cm (vào cuối tháng 4) khi quả rụng
không mang theo cuống. Sau 2 đợt rụng quả tốc độ quả lớn nhanh, tốc độ
trung bình từ 0,5 - 0,7 mm/ngày.
22
23
Quả lớn nhanh do có sự kích thích của các chất sinh trưởng, chất này
được tạo từ vách tử phòng hoặc từ hạt. Việc bổ sung thêm chất kích thích sinh
trưởng như NAA, IAA, GA3 có thể sẽ nâng cao tỷ lệ đậu quả, giảm số lượng
hạt và tăng kích thước quả.
cành liên tục trong năm, cành sinh trưởng mạnh, to khỏe, số lượng cành nhiều
trong mỗi đợt ra cành, bộ rễ phát triển mạnh nên cây phát triển rất nhanh.
2.6.5.2. Thời kỳ đầu kinh doanh
Cây cần tiếp tục sinh trưởng dinh dưỡng, cành vẫn ra nhiều tuy nhiên
số lần ra trong năm giảm từ 3 - 4 lần, số lượng cành ít hơn, cành ngắn và ít,
bộ rễ phát triển rất khỏe, số cành ra quả tăng dần. Thời kỳ này xảy ra sự mất
cân đối giữa sinh trưởng tán cây và bộ rễ, cây vẫn sinh trưởng sinh dưỡng
mạnh đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng nuôi tán cây và quả vì không đủ dinh
dưỡng nên rễ phát triển ra khỏi mô trồng và đi xuống tầng đất, rễ chật làm ảnh
hưởng đến khả năng sinh trưởng của rễ đồng thời cũng xảy ra sự mất cân đối
giữa sinh trưởng dinh dưỡng và hoa, có thể cây chậm ra hoa cho quả hoặc trên
những cây sinh trưởng dinh dưỡng kém, cây có khuynh hướng ra hoa nhiều
ảnh hưởng đến sinh trưởng thân tán của cây.
2.6.5.3. Thời kỳ khai thác
Cây ở giai đoạn thuần thục, tán cây đã ổn định, sinh trưởng kém cành
nhỏ, ngắn, ít lá, chủ yếu là cành mang quả, số lần ra cành trong năm (ít 1 - 2
lần). Thời kì này thường xảy ra hiện tượng cây giao tán và sản lượng không
ổn định do có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa sinh trưởng dinh dưỡng và sự
cung cấp dinh dưỡng cho quả, cành lá ra quả nhiều làm cây giao tán rậm ra,
quang hợp không hiệu quả, chất hữu cơ tạo ra không đủ dự trữ để tiến hành
phân hóa mầm hoa, dinh dưỡng không đủ để cung cấp cho hoa phát triển cũng
như để nuôi quả khi đậu.
2.6.5.4. Thời kỳ già cỗi
Cây sinh trưởng dinh dưỡng kém, cành lá phát triển ít, nhỏ, lá ít, tán lá
thưa, cành một phát triển nhiều, cây ra hoa và đậu quả thấp, quả nhỏ, rụng
nhiều, năng suất thấp.
24
25
Chu kỳ sinh trưởng của cam, quýt gồm các thời kỳ phát triển căn bản,
thời kỳ trước là nền tảng cho thời kỳ sau phát triển do vậy cần ứng dụng đồng
0
C đều có
thể trồng được cây cam.
Ở Việt nam trừ một số vùng có sương muối kéo dài, còn các vùng khác
đều có thể phù hợp và trồng được cây cam.
- Ẩm độ và nước: cây cam là cây ưa độ ẩm trung bình, nhưng nước cần
trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phát triển của chúng, cần nhiều nhất trong
thời kỳ lúc hạt nay mầm và lúc ra hoa kết quả, tối thiểu phải đạt 1270mm/năm.
25