Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
Lời cảm ơn
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã
nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè cùng lớp, thầy cô và gia đình.
Trớc tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô ThS. Phạm Thị Thanh Thuỷ
ngời đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài này cũng nh
trong quá trình hoàn thành báo cáo thực tập.
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Kỹ Thuật Nông Nghiệp trờng Đại Học
Dân Lập Hải Phòng đã nhiệt tình giúp đỡ tạo điều kiện cho em trong suốt quá
trình học tập và thực hiện đề tài này.
Em cảm ơn trung tâm phát triển Nông Lâm Công Nghệ Cao Hải Phòng đã giúp
đỡ tạo điều kiện cho em học tập và thực hiện đề tài.
Cuối cùng em xin cảm ơn tới tất cả bạn bè và ngời thân đã động viên tạo điều
kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.
Trong thời gian thực tập do kiến thức thực tế cha nhiều lên đồ án không tránh
khỏi những sai sót. Em rất mong đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, bạn bè,
những ngời làm công tác nghiên cứu để đồ án ngày càng hoàn thiện hơn.
Hải phòng, ngày 20 tháng 7 năm 2009
Sinh viên
Phạm Văn Quý
Phần I: mở đầu
1
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
1. đặt vấn đề
Da cũng nhiều các loại cây trồng khác muốn sinh trởng, phát triển cho năng suất
cao và chất lợng tốt cần phải bón đầy đủ chất dinh dỡng. Không chỉ dinh dỡng đa
lợng, trung lợng mà vi lợng là những nguyên tố quan trọng trong việc cấu thành
nên năng suất và chất lợng của da. Tuy nhiên, việc sử dụng phân bón không đúng
cách, đúng liều lợng, bón không cân đối cũng làm giảm hiệu lực của phân bón đến
cây trồng nói chung và cây da nói riêng.
công nghệ phân bón trong đó có công nghệ sử dụng một số loại phân bón lá bón
cho cây vì phân bón lá là những loại phân bón trong thành phần có khá đầy đủ các
nguyên tố đa lợng, trung lợng và vi lợng ở dạng dễ tiêu lá cây có thể hấp thụ đợc
một cách dễ dàng giúp cho cây đạt đợc năng suất cao và chất lợng tốt. Đợc sự
phân công của Khoa Kỹ Thuật Nông nghiệp Trờng Đại học Dân lập Hải Phòng,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ảnh hởng của một số loại phân bón lá
( Fish Plus Bloom, Solotek Bloom, Đầu Trâu 502 ) đến sự sinh trởng phát triển
và năng suất chất lợng da Lê Ngân Huy trồng vụ Xuân-Hè 2009 tại Hải Phòng
2. Mục đích yêu cầu .
2.1. Mục đích:
Xác định đợc mức độ ảnh hởng của phân bón lá (Fish Plus Bloom, Solotek
Bloom, Đầu Trâu 502 ) đến sự sinh trởng, phát triển và năng suất chất lợng của da
lê Ngân Huy. Trên cơ sở đó lựa chọn phân bón lá thích hợp cho da lê Ngân Huy
nhằm nâng cao năng suất, chất lợng và hiệu quả của da lê Ngân Huy trồng trong
nhà kính.
2.2. Yêu cầu
- Nghiên cứu ảnh hởng của phân bón lá Fish Plus Bloom, Solotek Bloom, Đầu Trâu
502 đến sinh trởng phát triển và năng suất chất lợng của da lê Ngân Huy.
- Nghiên cứu ảnh hởng của nồng độ phân bón lá Fish Plus Bloom, Solotek Bloom
đến sinh trởng phát triển và năng suất chất lợng của da lê Ngân Huy.
3
§å ¸n tèt nghiÖp Ph¹m V¨n Quý – KN901
- §¸nh gi¸ hiÖu qu¶ kinh tÕ cña tõng lo¹i ph©n bãn l¸ khi sö dông cho c©y da lª
Ng©n Huy.
PhÇn II: Tæng quan tµi liÖu
2.1 Giíi thiÖu chung vÒ c©y da
2.1.1. Nguån gèc vµ ph©n lo¹i
4
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
Theo một số tài liệu nghiên cứu( Tạ Thị Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích
cùng gốc. Quả từ trung bình đến lớn,vỏ quả dày,thịt quả chắc có nhiều nớc. Màu
sắc thịt quả có thể đỏ, vàng, trắng.
- C. colocynthis là cây lu niên, có nguồn gốc ở Bắc Phi, loài này khác với C.
vulgaris chủ yếu hình thái các bộ phận trên cây. Lá nhỏ, thùy lá hẹp, lông phủ trên
thân lá màu xám. Hoa đơn tính cùng gốc.Hạt nhỏ, màu hạt nâu.
- C. naudinianus và C. ecirrhosus cogn. Cả 2 đều có nguồn gốc ở vùng sa mạc
Nam Phi và Tây Phi. Đặc điểm sinh trởng dinh dỡng của C. naudinianus khác với
các loài trên ở lá hình chân vịt, xẻ thùy sâu, phủ đầy lông. Tua cuốn đơn giản, kéo
dài hoặc mảnh mai
Hoa đơn tính cùng gốc, ra hoa ở năm thứ 2.
Tất cả 4 loài có thể thụ phấn chéo lẫn với nhau.hạt nảy mầm tốt,F1 sinh trởng tốt.
[1]
2.1.2. Kỹ thuật canh tác
2.1.2.1. Thời vụ trồng. Thích hợp nhất là vụ Đông Xuân và Xuân Hè
2.1.2.2. Chuẩn bị đất trồng.
Đất trồng cần thoát nớc tốt, tới nớc thuận lợi, có tầng đất mặt dày, loại đất cát hoặc
cát pha có chứa nhiều chất hữu cơ. Đất có độ PH: 6 - 6,8 là thích hợp nhất. Đất
trồng da trớc đó phải luân canh với lúa nớc hoặc đậu, bắp ( không luân canh với họ
bầu bí nh: da leo, khổ qua, bầu bí ) Đất phải cày bừa tơi xốp bón vôi 100% cả vụ
bào 10 - 15 ngày trớc khi bón lót. Lợng vôi: nhìn chung đất miền trung thờng chua,
nên bón 30 - 40 kg/sào (500m
2
). Bón lót: 100%phân chuồng + 100% lân hữu cơ
sinh học Sông Gianh + 40 - 50% lợng phân hoá học cho cả vụ + Nitrat Canxi 5 - 6
kg lên luống rộng 0.6 - 0.8 m, cao 30 - 40 cm, khoảng cách giữa hai rãnh là 4,5 -
5m, rãnh rộng 0,4 - 0,5 m. Trải bạt Plastic lên luống ( cuộn bạt dài 400m x 1,2 -
1,4m dùng cho 1000m
2
) nhằm giảm bốc thoát nớc hạn chế cỏ dại và sâu bệnh, tăng
hiệu quả sử dụng phân bón. Đục lỗ bạt nhựa đờng kính 7 - 8 cm, ở vị trí cao 2/3 so
bạc màu nghèo dinh dỡng lợng phân bón phải nhiều hơn. Lợng phân bón 500 m
2
nh sau: (tham khảo)
- Phân chuồng hoai mục: 500 - 1000 kg + Lân hữu cơ sinh học: 40 - 60 kg + Bao
hạt vàng: 10 - 15 kg + NPK: 28 - 30 kg + Urê : 5 - 6 kg + kali: 5 kg-Bón lót: 100%
phân chuồng + 40 - 60 kg HCSH + 20 kg NPK 12:11:18 ( phân xanh Đức ) + kg
bao hạt vàng.
+ Thúc lần 1 ( khi da bò ngọn 20 - 30 cm): 8 -10 kg NPK 12:11:18 ( phân xanh
Đức) + 1,5 - 2 kg Kali + 5 kg bao hạt vàng.
+ Thúc lần 2 ( sau khi thụ phấn 7 - 10 ngày): 2,5-3 kg Urê + 2 kg Kali
+ Thúc lần 3 ( sau khi thúc lần 2: 4 - 5 ngày): 2,5 kg Urê + 1-1,5 kg Kali
Tuỳ theo tính chất đất đai của từng vùng mà điều chỉnh lợng phân bón cho phù
hợp.
7
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
Sau khi trồng lúc cây còn nhỏ, tuỳ theo tình hình sinh trởng của cây có thể
ngâm DAP ( 18 - 46 ) pha loãng tới để thúc đẩy sinh trởng của cây.
Ngoài những lần bón thúc chính thức nên phối hợp phân bón lá phun 7 - 10
ngày/lần. Bắt đầu phun khi cây có 4 - 5 lá thật và ngừng phun trớc khi thu
hoạch từ 10 - 15 ngày.
2.1.2.5. Tới nớc: Da chịu hạn, sợ úng, tuy vậy trồng da phải tới nớc, việc tiết nớc
rất ảnh hởng đến sự sinh trởng của cây và chất lợng quả. ở giai đoạn cây cần nhiều
nớc nhất là lúc ra hoa, kết trái, nuôi trái nên tới đủ nớc ( dùng phơng pháp tới
thấm ). Đối với những giống da vỏ trái có dạng lới, chờ khi vỏ trái xuất hiện vân lới
( sau khi đậu trái khoảng 20 ngày ) thì phải giữ cho mặt đất khô ráo để tránh cho
trái bị thối hoặc bị nứt. Thời gian trái chín cũng phải giữ cho đất khô ráo, nh vậy
trái mới đạt chất lợng tốt.
2.1.2.6. Tỉa nhánh, thụ phấn, chọn trái: Bấm ngọn lần đầu tiên lúc cây con vừa
chồi ra ở nách lá từ lá thứ 1 đến lá thứ 5 trên nhánh con. Nhánh từ nách lá thứ 6-9
bắt đầu để trái, mỗi nhánh chỉ để 1 trái. Nhánh cháu ssau khi đậu trái chừa 1 lá
(PH cao), tỷ lệ mùn giảm,đất chai cứng, gây ô nhiễm môi trờng, dẫn đến năng suất
và chất lợng nông sản giảm, đồng thời trong nông sản thờng tích rụ nhiều độc tố
gây hại đến sức khỏe của con ngời, vì vậy bón phân vô cơ không phải là phơng án
tối u khi sản xuất về lâu dài.
2.2.2 Phân bón hữu cơ :
Phân hữu cơ tạo ra sản phẩm chất lợng cao, an toàn cho ngời tiêu dùng ( thành
phần kim loại nặng, hàm lợng NO
3
- đều rất thấp ),thành phần dinh dỡng trong rau
cao, phân hữu cơ còn làm tăng độ tơi xốp cho đất, làm cho đất không bị trai cứng
và bạc màu. Hiện nay ở các nớc trên thế giới đang quan tâm đến việc sử dụng các
loại phân bón hữu cơ (phân bón sinh học )và các chế phẩm sinh học bao gồm các
loại phân chuồng, phân ủ, phân xanh các loại, phân vi sinh. ở ấn Độ, hàng năm sản
xuất ra khoảng 265 triệu tấn phân ủ, lợng bón bình quân 2 tạ/ha/năm,tơng đơng với
9
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
3,5-4 triệu tấn NPK và 6,7 triệu ha cây phân xanh,mỗi ha thu đợc 40-50 kg đạm,ớc
tính thu đợc khoảng 0,3 triệu tấn đạm(theo tác giả Phạm Văn Toản năm 2004).
Đặc biệt Trung Quốc là nớc sử dụng phân bón hữu cơ rất lớn nhất là phân
chuồng, phân xanh rơm rạ, tơng đơng với 9,8 tấn NPK nguyên chất, và sử dụng
nhiều loại phân sinh học trên đồng ruộng. Phân sinh học sử dụng cho 1 ha tơng đ-
ơng với 65 kg (N+ P
2
O
5
+K
2
O ).
Bón các loại phân hữu cơ vào trong đất, có tác dụng làm cho đất về lâu dài có điều
kiện để tích lũy thêm đợc mùn do đó tăng độ phì của đất.
Rubi và Seahumic do trung tâm nghiên cứu nông dợc triển khai, không gây
ô nhiễm, đáp ứng tiêu chuẩn đề ra cho những sản phẩm trong hệ thống nông
nghiệp hữu cơ. Rubi và Seahumic là sản phẩm có nguồn gốc từ rong,tảo biển,đợc
chế biến thao cách tách triết thủy phân, dùng nguyên liệu là: ascophllum nodosum,
một loại rong nâu đợc xem là thực vật biển tốt nhất đợc dùng trong nông nghiệp.
Phân Komic do công ty sinh hóa nông nghiệp và thơng mại Thiên Sinh sản
xuất. Là loại phân sinh hóa hữu cơ sử dụng quy trình lên men vi sinh vật để hoạt
hóa than bùn(hoặc rác thải) rồi phối trộn với các loại phân hóa học (đạm, lân, kali,
lu huỳnh ) các nguyên tố trung l ợng, vi lợng cùng các chất giữ ẩm, các chất điều
tiết cho cây trồng.
Phân bón sinh hóa Thiên Nông do công ty hóa phẩm Thiên Nông sản xuất, sản
phẩm đợc triết suất từ than bùn, rong biển và cá biển với enzim sinh tố đợc triết
suất từ giống giun hồng(nuôi theo công nghiệp). Có đầy đủ NPK vi lợng để bón
cho các loại cây trồng qua đờng lá. Bón phân qua lá,cây hấp thụ nhanh, không mất
mát lãng phí, hoa mau cứng khỏe, hiệu quả kinh tế cao.
Thuốc kích thích sinh trởng cây trồng Atonik do hãng hóa chất Asahi- nhật
bản sản xuất. Asahi là thuốc kích thích sinh trởng cây trồng thế hệ mới. Cũng nh
các vitamin,làm tăng khả năng sinh trởng, bảo vệ cây trồng tránh khỏi những ảnh
hởng xấu của điều kiện sinh trởng không thuận lợi gây ra.Asahi có tác dụng làm
tăng khả năng ra rễ, tăng năng suất và chất lợng nông sản. [19]
2.3 . Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam
11
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
Mỗi năm nông dân Việt Nam sử dụng khoảng 5 triệu tấn phân bón vô cơ quy
chuẩn, không phân hữu cơ và các phân khác do các cơ sở t nhân và công ty TNHH
sản xuất, cung ứng.
Từ năm 1985 đến nay, mức tiêu thụ trung bình 7,2%/ năm, phân lân tăng
13,9%/năm, riêng kali có mức tăng cao nhất là 23,9%/năm. Tổng sử dụng N+
P
2
lớn nhất và quan trọng nhất vẫn là sự thiếu hụt về đạm, kali, lân. Đây cũng là các
chất dinh dỡng mà cây trồng hấp thụ với lợng lớn nhất và sẽ chi phối hớng sử dụng
phân bón. Mặt khác, khi bón phân ngời ta cũng bắt đầu tính đến nhu cầu dinh dỡng
của từng loại cây trồng, thậm chí cho từng giống cụ thể, trong các vụ gieo trồng
trên từng loại đất riêng. Vì vậy trong việc bố trí cơ cấu sản phẩm phân bón, vấn đề
quan trọng là phải nắm đợc cơ cấu ding dỡng cây trồng trong vụ đồng thời có tính
đến đặc điểm của các loại cây trồng vụ trớc.
Thực tế cũng chứng minh, phân hữu cơ chỉ có thể là một loại phân bón bổ sung
chứ không thể thây thế hoàn toàn phân vô cơ ( phân khoáng). Do vậy, để đảm bảo
cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững, phải tăng cờng sử dụng phân bón
trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phân vô cơ và phân hữu cơ, trong các loại phân bón
đợc sử dụng không những cân đối về tỷ lệ mà phải cân đối với lợng hấp thụ để bù
lại lợng thiếu hụt do cây trồng lấy đi từ đất.
Vì vậy nông nghiệp nớc ta nói chung và Miền Bắc nói riêng không thể chấp
nhận đợc nguyên lý tuyệt đối không sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu hóa
học đặc biệt trong điều kiện chúng ta ngày càng trồng nhiều giống cây trồng có
năng suất cao. Định hớng phát triển nông nghiệp bền vững đang đặt ra yêu cầu sử
dụng phân bón hợp lý và phù hợp với điều kiện thực tế. Trớc hết phải tăng cờng sử
dụng phân hữu cơ cùng với các biện pháp kỹ thuật khác nh: cày vặn rạ, cày vùi các
loại phụ phẩm cây trồng (đặc biệt là các loại cây họ đậu) hoặc trồng xen loại cây
họ đậu lớn cây bóng mát ở vờn cà phê hay vờn cây ăn quả Trên cơ sở đó dùng
một loại phân bón hóa học hợp lý bón cân đối cho mỗi loại cây trồng trong hệ
thống cơ cấu cây trồng trên từng loại đất.
Kết quả điều tra tình hình sử dụng phân bón ở viện thổ nhỡng nông hóa và
các viện, trờng Đại Học Nông Nghiệp từ năm 1995 đến nay cho thấy một số hạn
chế về việc sử dụng phân bón Miền Bắc nớc ta nh sau:
- Việc bón phân mới chỉ chú trọng ở đồng bằng nơi có một số cây trồng có lợng
nông sả hàng hóa tơng đối lớn nh : lúa, ngô, lạc, khoai tây, rau vụ đông ở đất đồi
13
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
chú trọng đến bón phân cho các vùng trồng rừng trong kế hoạch phủ xanh đất
trống, đồi trọc.
- Sử dụng phân bón còn gây nguy cơ ô nhiễm môi trờng. Sử dụng phân chuồng và
phân rác không hợp vệ sinh gây ra nhiều bệnh về đờng hô hấp, tiêu hóa ảnh h ởng
tới sức khỏe cộng đồng. Phân vô cơ thuộc nhón chua sinh lý (ure, SA, K
2
SO
4,
KCL,
14
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
supe lân còn d lợng axit) đã làm chua hóa đất nên đã làm nghèo kiệt các ion bazo
và làm xuất hiện nhiều nguyên tố độc hại mà chủ yếu là Al
3+
, Fe
3+
, Mn
2+
di động có
hại cho cây trồng, làm giảm hoạt tings sinh học của đất. Ngoài ra, việc bón nhiều
và bón muộn phân đạm cho rau đã làm tăng lên đáng kể hàm lợng nitrat trong sản
phẩm rau.
- Chất và lợng các nguyên tố dinh dỡng của nhiều loại phân bón không đảm bảo
nân khi sử dụng đã ảnh hởng xấu đến cây trồng. Bón các loại phân này không
những không tăng năng suất cây trồng và chất lợng nông sản mà còn gây thiệt hại
kinh tế cho các hộ nông dân. Các loại phân này chủ yếu thuộc các nhóm : Phân
trộn (phân hỗn hợp), phân hữu vơ sinh học, phân vi sinh, phân hữu cơ- khoáng,
phân bón lá do các đơn vị t nhân sản xuất bằng các phơng thức lạc hậu hoặc cố ý
lừa đảo. Các loại phân đó không đạt tiêu chuẩn Việt Nam về liều lợng, tỷ lệ các
nguyên tố dinh dỡng và hàm lợng các nguyên tố độc hại, khi bón sẽ gây ô nhiễm
nhằm khảo nghiệm và đánh giá tác dụng của phân bón hữu cơ thế hệ mới đối với
các loại cây trồng ở tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 2006, Trung Tâm ứng dụng và chuyển
giao tiến bộ khoa học công nghệ Vĩnh Phúc thực hiện đề tài: Nghiên Cứu thử
nghiệm phân bón hữu cơ cao phân tử Polyhumate để sản xuất rau an toàn tại tỉnh
Vĩnh Phúc mục tiêu của đề tài là nghiên cứu, thử nghiệm phân bón cao phân tử
trong sản xuất rau an toàn cho tỉnh. Theo dõi sự sinh trởng, phát triển và năng suất
thu đợc sau khi dùng phân bón Polyhumate so với phân bón thông thờng đợc sử
dụng trong trồng rau ở tỉnh Vĩnh Phúc làm cơ sở để ứng dụng trong thực tiễn.
Trung tâm đã xây dựng mô hình trình diễn thực tế với diện tichs1000 m
2
tại xã Địa
Trung Vĩnh Yên Vĩnh Phúc các loại rau tham gia thí nghiệm là : cải xanh,
cà chua, cải bắp đợc trồng 3 vụ trên năm. Phân bón đợc sử dụng là loại: phân Super
K Humate USA do công ty Vinacal Air Supply Products (Mỹ) sản xuất và đợc
phân phối độc quyền ở Việt Nam bởi công ty TNHH phân bón An Tờng Hng- Sài
Gòn. Thành Phần ding dỡng của phân bón nh sau: N: 90%,P: 9%, K: 9%, K-
humate 4% tổng khoáng đa lợng và trung lợng 0,5 %, tổng vi lợng 2200 ppm.
Kết quả thực nghiệm của phân K- humate trên rau cải bắp; đợc trồng ở vụ thu và
vụ đông năm 2006, giống NS Coss, cây giống 25 ngày tuổi, có 5-6 lá mậy độ
16
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
trồng 1200 lá/sào theo mật độ 50 60 cm. Bố trí 2 công thức thí nghiệm/vụ mỗi
công thức với diện tích là 120 m
2
, nhắc lại 3 lần. Công thức thí nghiệm dung phân
K-humate đợc bố trí: phân hữu cơ hoai mục 500kg/sào, NPK 15 kg/sào, kali
6kg/sào, ure 10kg/sào, đợc phun khi bón lót, kết quả thực nghiệm cho thấy có sự
khác biệt giữa công thức dùng phân K-humate và công thức không dùng phân K-
humate, trọng lợng trung bình/bắp của công thức có dùng phân cao hơn công thức
không dùng phân K-humate, năng suất tăng 276,5kg/sào
+ Công thức không dùng phân K- humate thu đợc 799.700 đồng /sào, chi phí sản
xuất 309.000 đồng/sào lãi 490.700 đồng/sào.
Mô hình sản xuất cà chua, công thức dùng phân K-humate thu đợc
2.241.600 đồng/sào chi phí sản xuất 589.000 đồng/ sào, lãi 1.652.600 đồng/sào,
công thức không dùng phân thu đợc 1.973.100 đồng chi phí sản xuất 589.000
đồng/sào lãi 1.652.600 đồng/sào.
Lần đầu tiên tỉnh Vĩnh Phúc thành công hiệu quả phân bón hữu cơ
polyhumate trong sản xuất rau an toàn, từ những kết quả đạt đợc ta thấy nông dân
sử dụng phân bón hữu cơ thế hệ mới nói chung và phân K- humate nói riêng trong
sản xuất rau an toàn việc dùng phân bón này đã mang lại hiệu quả rõ rệt và an toàn
vệ sinh thực phẩm cho ngời tiêu dùng.
2.4 Điều kiện ngoại cảnh
2.4.1 Nhiệt độ
Các cây trong họ bầu bí đặc biệt là cây da rất nhạy cảm với sơng giá nhất là nhiệt
độ thấp dới 0
0
C, có tuyết và khi nhiệt độ vào ban đêm trong khoảng từ 3 4
0
C.
Vì vậy da và các loại bầu bí ngô yêu cầu khí hậu ấm áp và khô giáo để sản xuất
lớn.
Các giống da là những cây a thích khí hậu ấm áp, có khả năng chống chịu nóng tốt
nhng không chịu đợc rét và sơng giá. Bí ngô, da hấu và da bở là những cây chống
chịu nóng tốt, nhiệt độ cao tới 35- 40
0
C cây vẫn sinh trởng và phát triển bình th-
ờng. Hầu hết sinh trởng tốt nhất ở nhiệt độ 23- 30
0
C. Nhiệt độ thấp dới 10
0
20 25
0
C
5
0
C thì nguy hiểm
Bí Xanh
>13 15
0
C
Opt 25 30
0
C
40
0
C
thì ngừng sinh trởng
Da thơm
30 35
0
C 18 32
0
C
Khả năng thơng mại của họ bầu bí, da là rất lớn nhng hạn chế về điều kiện thời
tiết khí hậu nên không có loài bầu bí nào có thể gieo trồng ngoài trời trong các
tháng mùa đông ở sứ lạnh. Vì vậy những nơi này phải trồng trong nhà kính, nhà
lợp bằng chất dẻo, nhờ vậy có thể sản xuất da trong suốt mùa đông. Từ khi ngời ta
tạo ra đợc giống bí ngô có vỏ dày có thể bảo quản trong vài tháng thì không cần
thiết phải trồng bí ngô trong điều kiện bảo vệ.
ở Nhật Bản và một số nớc trên thế giới, da thơm có giá trị cao nên thờng đợc
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
hiện. Lá bị héo khi nhiệt độ trên 40
0
C. Hầu hết các giống da chuột đều qua giai
đoạn xuân hóa ở nhiệt độ 20 22
0
C.
Các giống da là những cây a thích khí hậu ấm áp nên có khả năng chống chịu
nóng tốt. Bí ngô, da hấu và da bở là những cây chịu nóng tốt, nhiệt độ cao. Nhiệt
độ cao tới 35 40
0
C cây sinh trởng, phát triển bình thờng. Hầu hết sinh trởng tốt
ở nhiệt độ 23 30
0
C. Nhiệt độ thấp đến 10
0
C sự sinh trởng gặp nhiều trở ngại và
ngừng hoạt động. Nừu nhiệt độ ban ngày 25 30
0
C và ban đêm 16- 18
0
C hoa cái
sẽ xuất hiện sớm ( theo giáo trình Tạ Thị Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích
Hà).
2.4.2 ánh sáng
Da là cây a ánh sáng ngày ngắn, thời gian chiếu sáng 10 12 giờ/ngày, hoa
cái ra sớm và ở vị trí thấp. Phản ứng của da chuột đối với ánh sáng còn phụ thuộc
vào giống và thời vụ gieo trồng. Thời gian chiếu sáng dài, nhiệt độ cao (>30
0
C) sẽ
phát triển mạnh đến ra hoa cái yêu cầu độ ẩm đạt 70-80%, thời kỳ quả rộ, quả phát
triển yêu cầu độ ẩm cao hơn 80%.
2.4.4 Đất và chất dinh dỡng
Những giống thuộc họ bầu bí thích nghi với nhiều loại đất đai. Đặc biệt là cây
bí ngô có thể sinh trởng trên đất gò, đống, nghèo ding dỡng. Những đất thịt nhẹ,
cát pha, đất phù sa ven sông giàu dinh dỡng rất thích hợp với nhiều loại da.
Cây da chuột a thích đất đai màu mỡ, giàu chất hữu cơ, đất tơi xốp, độ pH 5,5-
6,8 và tốt nhất 6-6,5. Da chuột gieo trồng trên đất thịt nhẹ, đất cát pha thờng cho
năng suất cao, chất lợng quả tốt. Đất trồng các cây họ bầu bí phải luân canh triệt
để, tốt nhất phải luân canh với cây trồng nớc ( cây lúa nớc).
Cây da chuột yêu cầu độ phì nhiêu trong đất rất cao. Dinh dỡng khoáng
không đủ ảnh hởng không tốt đến sự sinh trởng và phát triển của cây. Bón phân
chuồng với phân khoáng một cách hợp lý sẽ làm tăng hàm lợng đờng trong quả, ở
thời kỳ đầu sinh trởng cây cần đạm và lân, cuối thời kỳ sinh trởng cây không cần
nhiều đạm, nếu giảm bón đạm sẽ tăng thu hoạch một cách rõ rệt. Cây da chuột lấy
chất dinh dỡng từ đất ít hơn rất nhiều so với các cây rau khác ( cà chua, bắp cải ).
Trong 3 yếu tố NPK, da chuột sử dụng cao nhất là kali, thứ 2 đến đạm và ít
nhất là lân. Trạm nghiên cứu rau Ucraina cho biết nếu bón 60 kg N, 60 kg K
2
O,
60kg P
2
O
5
thì da chuột sử dụng 92% N, 33% P
2
O
5
,100 % K
2
lót cho một công Nam Bộ (khoảng 3 sào Bắc Bộ) chừng 1,5 - 2 tấn phân chuồng
22
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
hoai cộng với 1,5 tạ vôi bột cùng 8 kg đạm, 25 kg lân và 8 kg kali. Vãi đều vôi bột
trên mặt ruộng, bừa kỹ rồi lên luống. Luống rộng 1,2m cao 20 - 25 cm các rãnh
cách nhau 30 - 40 cm ( nếu trồng hàng đôi có cắm giàn ). Trên mặt luống bổ hốc
hàng cách nhau 60 cm, hốc cách hốc 40 - 45 cm.Nếu để bò tự do trên mặt đất ( có
che phủ nilon hoặc rơm rạ ) thì lên luống cách nhau 4,2 - 4,5m. Trộn đều các loại
phân dùng để bón lót, bón đều vào các hốc đã bổ sẵn.
* Trồng cây trong nhà kính.
Giá thể trồng cây bao gồm: 60 - 70% xơ dừa + 30 - 40 % đá trơ. ( chú ý phải khử
trùng giá thể trớc khi đem trồng bằng dung dịch foocmon 3% trong thời gian 15
ngày.
2.5.5. Gieo trồng
* Ngâm ủ
Trớc khi gieo nên phơi lại dới nắng nhẹ cho hạt dễ nảy mầm, ngâm hạt
giống trong nớc ấm (54
0
C) từ 3-6 tiếng, hoặc dung dịch thuốc tím 0,3% sẽ tác dụng
khử nấm bệnh và thúc cho hạt nảy mầm nhanh hơn.
Ngâm xong với hạt ra và rửa hạt qua nớc lã, sau đó đem ủ trong khăn ẩm
khoảng 24 giờ cho hạt nảy mầm thì đem gieo.
* Gieo hạt
Gieo hạt trong khay nhựa 100 lỗ, trong bầu nilon hoặc lá chuối (5x7cm).
Hỗn hợp đất bầu gồm : Phân chuồng, tro trấu hoai mục, đất xốp nhẹ đã xử lý sạch
mầm bệnh, trộn đều nhau theo tỷ lệ 30:10:60, hoặc hỗn hợp 75 % bột xơ dừa + 15
% cát + 10 % phân chuồng.
Trớc khi đem gieo hạt phải tới đủ ẩm trên khay gieo, bầu gieo
Cắm hạt vào lỗ trên khay các giá thể, bầu gieo sao cho chiều cao cắm hạt
bằng hạt. Mầm cắm xuống, không nên cắm hạt sâu quá vì hạt nảy mầm không đều,
đợc thu trớc nên các quả ra sau sẽ bị thui và còi cọc.
* Tỉa quả, tỉa lá
- Sau khi thụ phấn đợc 2 ngày thì tiến hành tỉa quả. Đối với lê Ngân Huy để 2 - 3
quả ở nách lá thứ 3 5 là thích hợp.
24
Đồ án tốt nghiệp Phạm Văn Quý KN901
- Sau trồng khoảng 55 - 60 ngày tỉa sạch các lá gốc, các lá già và các lá bị sâu
bệnh.
* Cách phòng trừ sâu bệnh
Chú ý phát hiện và có biện pháp phòng trừ kịp thời các đối tợng dịch hại trên cây
da :
- Bọ trĩ còn gọi là rầy lửa hay bù lạch, sống tập trung trên đọt non hay dới mặt lá
non. Chích hút nhựa lám đọt non chùn lại, không phát triển đợc. Sử dụng thuốc :
Confidor 100 SL, Admire 50 EC, Oncol 20 ND, Regent
-Rầy mềm hay còn gọi là rầy nhớt. Chích hút nhựa làm cây chùn đọt lại , không
phát triển, lá bị vàng, ngoài ra còn là môi giới truyền bệnh khảm lá vàng. Sử dụng
thuốc: Topsin, Antracol 70WP, Aliette 80 WP, Mancozeb, Fusin, phun Benlate,
Copper 23% vào gốc. Mặt khác cần giảm nớc tới, giảm phân bón nhất là ure.
- Bệnh thối rễ, héo dây: khi thời tiết ẩm ớt trên gốc thân xuất hiện những vết màu
trắng xám, phát triển thành lớp mốc màu trắng. Cây da héo khi trời nắng và tơi lại
khi trời mát, cây có thể héo đột ngột.
- Bệnh phấn trắng, sơng mai
* Thu hoạch
Sau khi đậu trái khoảng 28 - 35 ngày, vỏ trái chuyển sang màu đặc trng cho giống
là thời kỳ thích hợp cho thu hoạch.
- Trong 2 năm trở lại đây da Lê ngân huy đợc trồng nhiều ở Kim Thành ( Hải D-
ơng), Đông Anh ( Hà Nội ), Hoà Đức ( Hà Tây ), đợc trồng luân canh với lúa
đem lại hiệu quả kinh tế cao. Bình quân năng suất đạt 700 kg/sào , với giá bán
bình quân là 4.500- 5000 đ/kg, có khi lên tới 6000 - 7000 đ/kg cho thu nhập 3
triệu đồng/sào chỉ trong vòng 2 tháng. Vụ xuân năm nay một số gia đình ở thôn