1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây ăn quả là loại cây có vị trí quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu
cây trồng, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế vừa có tác dụng trong việc bảo vệ
môi trường. Hiện nay, cây ăn quả đã được chú trọng phát triển trên nhiều
vùng sinh thái đặc biệt là các tỉnh trung du, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng
khó khăn và đã mang lại những hiệu quả thiết thực. Trong thực tế có nhiều dự
án lớn về trồng cây ăn quả đã được quan tâm chú trọng phát triển ở những
vùng này và đã mang lại hiệu quả cao góp phần nâng cao vai trò nghề trồng cây
ăn quả trong việc xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho nhiều người dân.
Ngày nay khi đời sống xã hội đã được cải thiện thì nhu cầu của con
người ngày càng cao. Ngoài những giá trị về mặt kinh tế, cây ăn quả còn có
vai trò quan trọng trong việc cung cấp những giá trị dinh dưỡng cho con
người. Quả tươi là một phần rất cần thiết trong bữa ăn của mỗi gia đình, tăng
khẩu phần quả tươi trong mỗi bữa ăn là mức phấn đấu của nhiều nước có nền
kinh tế phát triển. Đáp ứng đủ nhu cầu quả tươi trong mỗi bữa ăn hàng ngày
là đảm bảo dinh dưỡng và an toàn cho mỗi người.
Chuối là loại trái cây có công dụng đa dạng, rất thông dụng ở Việt
Nam. Từ quả chuối, hoa chuối, thân chuối có thể chế biến ra nhiều món ăn
như chuối khô, chuối sấy, mứt chuối, rượu chuối, nước cốt chuối, bột chuối,
Trái chuối tây, chuối tiêu, chuối hột có thể điều chế ra các bài thuốc điều trị
hơn 20 căn bệnh khác nhau: sỏi thận, tiêu chảy, rụng tóc, tiểu đường, viêm
loét dạ dày, phong thấp, hắc lào… Thân chuối còn được dùng làm hàng thủ
công mỹ nghệ hoặc chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm. Rác thải từ
cây chuối còn được sử dụng làm than tổ ong, sản xuất chất dẻo. Đặc biệt trái
chuối bị hư hỏng, vạt bỏ trong quá trình thu hoạch, chế biến còn được nghiên
cứu phân hủy tạo ra một nguồn năng lượng điện mới.
Chuối là loại cây dễ trồng, không tốn nhiều công sức chăm bón, ít khi
bị sâu bệnh và ít chịu tác động của thời tiết nên rất phù hợp với điều kiện kinh
truyền thống trồng cây chuối. Trong thời gian qua chuối tây đã được trồng ở
nhiều nơi trên địa bàn, tuy nhiên việc phát triển cây chuối còn mang tính tự
phát, chưa chú trọng về nguồn giống và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong việc
thâm canh loại cây ăn quả này, vì những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của chuối tây trồng chồi và
cây nuôi cấy mô tại Bắc Kạn”.
2
2
3
1.2. Mục đích
- Xác định khả năng sinh trưởng - phát triển của chuối tây trồng bằng
chồi và bằng cây nuôi cấy mô trên điều kiện tự nhiên của 2 xã Nông Thượng
và Xuất Hoá, thị xã Bắc Kạn.
- Xây dựng mô hình trồng mới cây chuối tây trồng chồi tại thị xã Bắc Kạn.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học áp dụng kiến thức đó vào
thực tiễn.
- Tạo điều kiện cho sinh viên có thêm kinh nghiệm sản xuất.
- Giúp cho sinh viên nắm được quy trình trồng chuối tây, cụ thể là cây
chuối chồi trên vườn sản xuất.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Tìm hiểu được khả năng sinh trưởng phát triển của chuối tây trồng
bằng chồi.
- Lựa chọn được phương pháp trồng thích hợp.
3
3
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
4
5
ảnh hưởng tốt đến năng suất, chất lượng chuối. Góp phần nâng cao sản lượng
chuối, nâng cao thu nhập cho người dân, mở rộng thêm nguồn cung cấp chuối
cho thị trường nội địa và xuất khẩu.
2.2. Nguồn gốc, sự phân bố và hệ thống phân loại chuối
2.2.1. Nguồn gốc và phân bố
Cây chuối là một cây được con người sớm biết đến và được đưa về
trồng cách đây 3000 - 4000 năm. Là thức ăn chính của người nguyên thủy,
còn cung cấp xơ bẹ để làm quần áo cho họ che thân; khi biết chuyển từ kinh
tế hái lượm sang trồng tỉa, con người đã biết đưa cây chuối về trồng.
Về nguồn gốc cây chuối, nhiều tác giả nghiên cứu đã thống nhất là
chuối có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, Ấn Độ, Nê Pan, Miến
Điện, bán đảo Đông Dương, Malaixia, Philippin
Từ vùng khởi sinh cây chuối được đưa đi theo 2 đường:
- Phát triển về phía Tây: Ấn Độ - Ả Rập - Trung Mỹ - Nam Mỹ.
- Phát triển về phía Đông: Indonesia - châu Úc, Tân Ghinê và các quần
đảo Thái Bình Dương, Trung Mỹ.[3]
Cây chuối được trồng ở Nam Ấn Độ từ cách đây khoảng 500 năm trước
công nguyên và từ nơi này chúng được đưa đến Malaixia qua Mandagaca rồi
chuyển dịch về phương đông qua Thái Bình Dương đến Nhật Bản và Samoa ở
miền trung Thái Bình Dương khoảng 1000 năm sau công nguyên. Có lẽ chuối
được du nhập vào Đông Phi khoảng 500 năm sau công nguyên và được ổn
định ở Tây Phi khoảng 1400 năm sau công nguyên, cuối cùng chuối đã có mặt
ở vùng Caribê và Mỹ La Tinh ngay sau năm 1500 sau công nguyên
(Simmond 1962 - 1966 - 1976). Cuối thế kỷ XI cây chuối đã được trồng phổ
biến khắp các vùng nhiệt đới. Ở Nam Mỹ người ta đã thấy cây chuối được
trồng nhiều ở phía Nam Bolivia và hầu khắp Braxin. Ở châu Phi khu vực
trồng chuối trải rộng từ vùng Sahara tới Tanzania, ở phía Tây và Đông
Theo FAO, tổng diện tích trồng chuối trên toàn thế giới tính đến năm
2010 là 4.771.944 ha tập trung chư yếu ở các nước Trung và Nam Mỹ, châu
Á và châu Phi. Các nước trồng nhiều chuối là: Ấn Độ, Braxin, Ecuador,
Honduras, Philippin, Columbia, Panama, Thái Lan, Trung Quốc, Venezuela
2.2.2. Phân loại
Cây chuối nói chung có tên khoa học là Musa do nhà phân loại học
người Anh Chline (1707 - 1778) đặt ra để tưởng nhớ đến Antonius Musa một
thầy thuốc sống vào thời hoàng đế Rome thứ nhất Octavius Agnstus.
Việc phân loại chuối từ lâu đã là một vấn đề lớn đối với phân loại học.
Ban đầu chuối được sắp xếp vào 2 loại chuẩn theo Linmaur là chuối ăn tươi
và chuối ăn luộc vì tinh bột ở những quả này khi chín không chuyển hóa
thành đường dễ tan. Nhưng sau đó những dòng chuối thu thập được ngày
càng nhiều, có những dòng có thể vừa ăn tươi vừa ăn luộc được (khi quả xanh
6
6
7
có thể ăn luộc, khi quả chín tinh bột lại chuyển hóa thành đường dễ tiêu).
Trước sự đa dạng của các giống chuối người ta nghĩ ra việc gọi tên chúng
bằng cả ngôn ngữ Latin và tên gọi thông thường của địa phương.Việc phân
loại đã trở nên lộn xộn khi các giống chuối ngày càng tăng. Sau đó vấn đề
phân loại chuối được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhiều hơn, tiêu
biểu là công trình phân loại của tác giả Kurs (1865) sau đó là học giả
Chesman (1948) và gần đây nhất là Simmond và Shepherd (1955).
Tất cả các loài chuối trồng hiện nay đều bắt nguồn từ 2 loài chuối dại là
Musa acuminata và Musa balbisiana. Tùy theo mức độ lai của 2 loài này mà
cho ra các giống chuối khác nhau.[3]
Bảng 2.1: Bảng đặc tính phân biệt M.acuminata và M.balbisiana
(theo Simmonds 1966)
Đặc tính M.acuminata (A) M.balbisiana (B)
Màu sắc thân giả Vết nâu đên từng đám Xanh lục
mặc dù còn hạn chế là chưa đề cập đến sự có mặt của dòng thuần
M.balbisiana colla và không đưa ra giới hạn cho nhóm này.
Các loài chuối trồng hiện nay thuộc dòng Musa acuminata có các loài như:
- Loại chuối có lưỡng bội thể AA: cây có đặc điểm màu lá xanh vàng,
vỏ mỏng, cây mảnh mai, quả ngắn, mập, thịt quả ngọt, thơm nhưng do vỏ
mỏng, vận chuyển gặp nhiều khó khăn nên ít xuất khẩu. Là loại chuối tiêu thụ
nội địa ăn tráng miệng tốt. Ở Việt Nam có giống chuối ngự thuộc nhóm này.
- Loại chuối có tam bội thể AAA: nhóm này gồm hầu hết các loài chuối
trồng xuất khẩu hiện nay như Grosmichel, cây cao trồng nhiều ở châu Mỹ
Latinh, Cavendis, Lacatan, Grandenaine, và Naine, giống chuối tiêu (chuối
già) ở Việt Nam cũng thuộc nhóm này.
- Loại tam bội thể có tính trội acuminata (AAB): loại này quả thường
phải nấu mới ăn được, trồng nhiều ở châu Phi và châu Mỹ. Ở Việt Nam có
giống chuối tây (chuối sứ) thuộc nhóm này.
- Loại tam bội thể có tính trội balbisiana (ABB): cây to cao, quả to, có
cạnh, dùng lấy bột. Ở Trung Mỹ loại chuối này có thể được trồng để che bóng
cho cao su, cà phê lúc còn nhỏ.
8
8
9
2.3. Các nghiên cứu về đặc điểm thực vật học, sinh thái học của cây chuối
2.3.1. Đặc điểm thực vật học
2.3.1.1. Bộ rễ
Rễ chuối thuộc lớp một lá mầm, rễ chùm. Ở cây con mọc từ hạt thì rễ
sơ cấp chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, sau đó chỉ có rễ phụ mọc từ thân củ.
Đường kính rễ từ 5,1- 8,5mm. Mỗi điểm mắt, thân, củ có 1 - 3 rễ. Mỗi
thân củ thường có từ 200 - 300 rễ, đặc biệt có thể đạt tối đa 1000 rễ. Đầu rễ
chính bị tổn thương thì mọc ra chùm rễ ở đó.[2]
Người ta chia rễ chuối thành 2 lớp: lớp rễ ngang và lớp rễ đứng.
- Lớp rễ ngang: mọc xung quanh thân ngầm, phân bố trên lớp đất mặt,
Thân giả do các bẹ lá mọc dài ôm sát lấy nhau, tạo thành một khối trụ tròn
nhẵn, có thể cao từ 2 - 5m, có khi cao 6 - 8m. Tùy theo loài, tùy vào cường độ
chăm bón mà thân giả có thể cao hay thấp, to hay nhỏ và màu sắc, độ bền chắc
cũng khác nhau. Do đó khả năng chống đổ, chống sâu bệnh cũng khác nhau.
Trong quá trình phát triển, thân giả cần được vệ sinh sạch sẽ để tránh
sâu bệnh đặc biệt là sâu đục thân.
Khi cây phân hóa mầm hoa thì thân củ mọc ra cuống chùm hoa. Cuống
này vươn dài lên vượt ra khỏi thân giả, đưa chùm hoa ra ngoài phát triển tạo
thành buồng quả chuối. Phần cuống đó gọi là thân ký sinh.[2]
Mỗi thân giả chỉ cho một buồng chuối độc nhất rồi chết và được các
nhánh ngang (chồi con) thay thế. Sự tồn tại được bảo đảm bằng sinh sản vô
tính.[1]
2.3.1.3 Lá chuối
Lá chuối gồm có bẹ lá, cuống lá và phiến lá. Khi mới nảy chồi, cây có
lá kiếm, thường có 3 - 5 lá kiếm rồi cây mới hình thành lá thật. Lá cuốn thành
hình ống, một nửa cuốn vào trong, nằm gọn trong rãnh của gân chính, còn
nửa kia cuốn ngược lại bao ra ngoài gân chính, lá mọc xen kẽ hình xoắn ốc
cho nên điểm sinh trưởng luôn luôn được che kín hoàn toàn.
Theo các tác giả Trung Quốc cây chuối tiêu phân hóa hoa khi đạt được
22 lá thật. Tổng số lá thật của nó đạt 28 - 30 lá. Sau khi phân hóa hoa cây còn
ra tiếp 8 lá nữa thì hoa xuất hiện. Trước khi hoa ra, có xuất hiện một lá nhỏ
chỉ bằng 1/2 kích thước các lá khác. Tuổi thọ trung bình của một lá chuối là
90 ngày (phạm vi không quá 130 ngày). Nếu vườn chuối bị bệnh đốm lá
(Cercospora musac Zim), thì tuổi thọ lá giảm nhanh. Giải phẫu lá thấy giữa
các gân lá có các "tế bào bản lề" nó nằm giữa điểm giao nhau của cuống lá
chính và gân phụ, những tế bào này rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh.
Khi môi trường hạn, nắng gay gắt các tế bào này mất nước làm cho nó xẹp lại,
2 mép phiến lá rủ xuống để giảm bớt sự thoát hơi nước. Ngược lại khi môi
10
10
Cấu tạo một hoa đơn bao gồm đủ các bộ phận: đế, đài, tràng, nhị, nhụy
(thuộc loại hoa đủ). Song căn cứ vào hình thái của ha người ta chia ra làm 3
loại: hoa cái, hoa lưỡng tính và hoa đực.[3]
11
11
12
Hoa cái là phần sẽ phát triển thành quả chuối sau này, thường tập trung
ở gốc chùm hoa, luôn luôn nở trước các hoa khác và quyết định đến năng suất
của cây chuối. Số hoa cái nhiều hay ít được quyết định ngay từ khi phân hóa
hoa. Lúc này nếu cây chuối sung sức, đủ đạm thì số hoa cái sẽ nhiều.
Số lượng hoa lưỡng tính trên chùm hoa ít, khả năng hình thành quả
kém. Hoa đực là phần không thể phát triển thành quả được và rụng dần theo
thời gian.
Quá trình chuyển đổi từ sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh
thực cần có một số điều kiện nhất định, mà trong đó quan trọng nhất là sự tích
lũy dinh dưỡng (gồm hàm lượng hydrat cacbon, các chất có đạm và các chất vô
cơ ). Vì vậy trồng chuối vào vụ nào thuận lợi, cây sinh trưởng nhanh, bón
phân đầy đủ, cây nhanh chóng đạt được số lá tối đa, thì sẽ sớm ra hoa.
Quả chuối thuộc loại quả mọng phần ăn được do tử phòng phát triển
thành. Khi mới phát dục quả còn mang cạnh, càng già quả tròn dần. Khi gặp
điều kiện lạnh khô (mùa Đông) trọng lượng quả chỉ bằng 1/2 mùa Hè, quả
ngắn, có cạnh. Mùa Hè quả thẳng, tròn, bình quân trọng lượng quả chuối tiêu
89 - 90g. Lớn có thể từ 130 - 150g. Quả phát triển liên tục từ tuần đầu đến
tuần 10 - 12. Sau đó là giai đoạn tích lũy và chuyển hóa trong quả.
Trong quá trình chọn lọc, các loài chuối không hạt được chú ý phát
triển. Trong sản xuất hiện nay nơi nào chăm sóc kém thì một số loài lại quay
trở lại tính hoang dã của tổ tiên chúng, lại mang hạt.[3]
2.3.1.5. Chồi con và sự đẻ chồi của chuối
Chồi con là thế hệ tiếp theo để duy trì nòi giống của chuối. Chồi được
mọc ra từ thân thật. Các chồi ở vị trí thấp của cây mọc trước, dần dần lên các
C thấy cây chuối tiêu cao lá bị vàng song
chuối tiêu lùn lá vẫn còn xanh.
Theo Ganry (1980) nhiệt độ tối thích cho sự sinh trưởng thân lá là 26 -
28
0
C, đối với sự phát triển của quả là 29 - 30
0
C, nhiệt độ xuống dưới 16
0
C đã
làm tổn hại lá của nhóm Cavendish; cây ngừng sinh trưởng hoàn toàn ở nhiệt
độ 10
0
C và ở 11
0
C quả bị hại, nhiệt độ xuống thấp hơn sẽ gây chết thân giả.
Nhiệt độ ảnh hưởng đến nhịp độ sinh trưởng, thời gian ra lá, ra hoa và
ảnh hưởng đến phẩm chất, trọng lượng quả. Khi nhiệt độ quá cao trong thời
gian ngắn cũng ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất quả như hóa nâu thịt
quả, tích lũy tinh bột, chuyển hóa và tạo các este thơm, độ chắc của thịt quả
(Phạm Văn Duệ, 2006) [2].
Ở những vùng có nhiệt độ tháng 12 và tháng 1 lạnh, song nếu chỉ trong
chốc lát về ban đêm, còn ban ngày lại nóng, nhiệt độ cao như ở Ghinê thì ít
ảnh hưởng đến sinh trưởng của chuối, song một số vùng như ở Israel, châu
Úc, đảo Canari, nam châu Phi có một mùa Đông lạnh và khô kéo dài thì
chuối chỉ sinh trưởng và ra hoa kết quả trong vòng nửa năm.[3]
2.3.2.2. Điều kiện về nước
Nhu cầu nước của cây chuối là rất lớn. Theo tác giả J.Shampion diện
tích thoát hơi nước của một cây chuối tiêu lùn khoảng 13,5 m
3
quả, cường độ ánh sáng thích hợp để cây quang hợp là: 1000 - 10000 lux,
hoạt động quang hợp của lá mạnh nhất ở 2000 - 5000 lux (mặc dù nó có thể
chịu đến 10000 lux. Bức xạ quá mạnh và đột ngột sẽ làm bỏng (rám) chỗ
cong của cổ buồng và quả chuối.[3]
Về độ dài ngày, chuối là cây trồng yêu cầu không nghiêm ngặt, chúng
có thể phân hóa ở bất kỳ độ chiếu sáng nào.
Chuối tiêu chịu cường độ ánh sáng yếu hơn chuối tây. Khi đủ ánh sáng lá
tăng trưởng mạnh, lá rộng, dày, có màu xanh đậm, phản quang, tốc độ ra lá nhanh.
14
14
15
2.3.2.4. Ảnh hưởng của gió bão
Gió ảnh hưởng rất lớn đến chuối, nó làm cây bốc hơi nước nhanh, làm
rách lá, gẫy buồng đổ cây… Nhất là ở các vùng có gió bão hàng năm. Chỉ
riêng việc làm rách lá cũng làm giảm năng suất tới 20 - 25% ở Camơrun và
10% ở Bờ Biển Ngà. Thậm chí một số vùng phải bỏ nghề trồng chuối vì gió
quá mạnh. Ở ta còn bị ảnh hưởng bởi gió nóng (gió Lào) làm lá khô héo, quả
cũng bị nhỏ và quắt lại.[3]
Gió nhẹ 4 - 5 m/s làm thông thoáng vườn, giảm sâu bệnh [2]. Để hạn
chế tác hại của gió bão, người ta chọn đai rừng chắn gió, chọn các giống
chống đổ tốt hoặc làm cọc chống.[3]
2.3.2.5. Điều kiện về đất
Đất trồng ảnh hưởng đến năng suất quả và quy cách, phẩm chất quả,
đặc biệt là trong việc trồng chuối hàng hóa xuất khẩu.
Đất thích hợp cho việc trồng chuối là đất phù sa, đất bazan, đất có kết
cấu tốt và độ xốp; có khả năng thoát nước dễ và giữ chế độ nước cân bằng với
chế độ khí; có độ mùn 1,5 - 2%, tầng canh tác dày từ 60cm, pH 6 - 7,5 là thích
hợp nhất.[2]
Các loại đất khác nhau ảnh hưởng đến số nải và chiều dài quả khác nhau.
Bảng 2.3: Ảnh hưởng của đất trồng tới số nải và chiều dài quả
Ở nước ta chuối từ lâu đã là cây trồng quen thuộc bởi không những nó
là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, sớm cho thu hoạch, dễ trồng và
cho sản lượng khá cao, có hiệu quả kinh tế lớn mà còn có khả năng thích ứng
khá tốt với nhiều loại đất đai,nhiều vùng khí hậu. Nó cũng yêu cầu kỹ thuật
song không có gì phức tạp và phù hợp với dân trí ở nước ta. Chuối là cây
trồng có năng suất khá cao, bình quân có thể đạt 20 - 30 tấn/ha. Trên thế giới
nhiều vùng trồng chuối đã đạt năng suất khá như: Paragoay: 35 tấn/ha;
Braxin: 50 tấn/ha. Những vùng thâm canh, chuyên canh cao như một số nước
Trung Mỹ (Panama, Costarica ) đã có điển hình đạt 100 tấn/ha.
Chuối là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao và cần ít vốn đầu tư. Hàng
năm kim ngạch xuất khẩu chuối của Việt Nam sang Trung Quốc chiếm tỷ lệ
lớn và ổn định. Do vậy chuối luôn luôn là mặt hàng có giá trị cao trong các
nông sản xuất khẩu ở nước ta.
2.4.2. Giá trị dinh dưỡng
Chuối là cây trồng được sử dụng triệt để nhất. Người Trung Quốc có
nói bộ phận nào của cây chuối cũng đều là của quý giá. Từ củ chuối, thân
chuối, lá khô lá tươi, hoa, trái xanh trái chín đều có thể sử dụng được: để ăn,
16
16
17
làm rau sạch, làm kẹo chuối, mứt chuối, lá tươi và khô làm nguyên liệu gói,
trái chuối chín để cải thiện dinh dưỡng cho mọi người và làm hàng hoá.
Chuối có vỏ màu vàng, quả no tròn và dài, vỏ mỏng, thịt dẻo và mềm,
mùi vị thơm ngon, dinh dưỡng phong phú. Chuối có chứa 16 loại Acid amin
và nhiều Vitamin, thích hợp dùng cho cả người lớn và trẻ em.
Quả chuối chứa nhiều thành phần dinh dưỡng thiết yếu mà cơ thể cần,
vì thế mà nó còn được xem là kho cung cấp năng lượng trong thiên nhiên. Hiện
nay trên thế giới có 1/2 sản lượng chuối được dùng ăn tươi, 1/2 còn lại được sử
dụng dưới dạng nấu chín và chế biến thành các loại thực phẩm khác [10].
Kết quả phân tích hàm lượng dinh dưỡng ở một số giống chuối đang
Carbohydrate cao gấp 2 lần, protein cao gấp 4 lần, Vitamin A và sắt cao gấp 5
lần, những loại Vitamin và khoáng chất khác cao gấp 2 lần, hàm lượng
Phosphorus cao gấp 3 lần [17].
Trong chuối, hàm lượng kali (potassium) chiếm tỉ lệ rất cao, chứa nhiều
loại đường thiên nhiên như: fructose, sucrose, glucose, cung cấp một năng lượng
dồi dào cho cơ thể. Hai quả chuối có thể cung cấp năng lượng cho 90 phút luyện
tập thể thao. Không những thế, chuối còn giúp điều trị một số bệnh, nhờ đó
chuối được xếp vào hạng “top” trong thực đơn hàng ngày [17].
Mới đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng, quả chuối, loại trái cây
phổ thông trên thế giới là một thần dược. Chuối là loại trái cây dễ tiêu hóa, là
thực phẩm giàu chất carbon hydrate, các loại vitamin, nhiều chất khoáng.
Thành phần bổ dưỡng của chuối khác nhau trong từng loại chuối, trong từng
thời kỳ thu hoạch và khi sử dụng nó (xanh hay chín). Một quả chuối chín có
thể cung cấp đủ năng lượng calo trong mỗi ngày. Về dinh dưỡng, cứ 100g
chuối cung cấp 99 calo, rất bổ ích cho người chơi thể thao vì cơ bắp hấp thụ
đường trong chuối nhanh hơn. Chuối giúp phục hồi sức khỏe nhanh, nhưng
không nên ăn nhiều chuối khô, vì 100g chuối khô cung cấp đến 285 calo [17].
Ngoài ra trong quả chuối chín có chứa 0,5 - 0,7% chất xơ hoà tan. Acid
hữu cơ trong chuối chủ yếu là Acid malic. Dù là chuối tươi hay chuối sấy
khô, đều chứa hàm lượng đường lớn, mỗi quả chuối có khoảng 335kj đường
(1kj = 0,24kcal ) [12].
Như vậy cây chuối đem lại cho con người rất nhiều lợi ích, do đó ngành
trồng chuối cần được mở rộng hơn nữa trên cơ sở áp dụng rộng rãi các biện
pháp khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất để nâng cao năng suất chất lượng
của chuối.
2.5. Tình hình sản xuất chuối trên thế giới và trong nước
2.5.1. Tình hình sản xuất chuối trên thế giới
Chuối là loại cây nhiệt đới được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia và
vùng miền trên thế giới, đồng thời cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong
18
các nước đang phát triển có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận các kỹ
thuật mới. Đây là những điều kiện tốt cho sự phát triển sản xuất chuối cũng
như phát triển thị trường chuối trên thế giới.
19
19
20
Bảng 2.6: Diện tích và sản lượng chuối 10 nước đứng đầu trên thế giới
2008 - 2010
Đơn vị
Tên nước
Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
2008 2009 2010 2008 2009 2010
Thế giới 4.778.464 4.843.110 4.771.944 93.745.445
95.816.62
7
102.114.819
Ân Độ 709.000 770.300 844.000 26.217.000
26.469.50
0
31.897.900
Brazil 513.097 479.614 486.991 6.998.150 6.783.480 6.978.310
Philippin 438.593 446.400 449.610 8.687.620 9.013.190 9.101.340
Trung
Quốc
328.906 350.224 413.853
8.042.372
9.006.450 9.848.895
Ecuado 215.521 216.115 215.647 6.701.150 7.637.320 7.931.060
Thái Lan 132.491 133.162 133.527 1.540.480 1.400.000 1.584.900
Việt Nam 95.000 95.000 99.600 1.400.000 1.532.420 1.481.400
nước xuất khẩu chuối lớn với 200.000 tấn/năm, tăng trưởng xuất khẩu chuối
của nước này trong năm 2010 đạt 20% so với năm trước và kim ngạch xuất
khẩu đạt 602,4 triệu USD (Theo FAO Star, 2010) [22].
(Theo: UNCTAD Secretariat from FAO statistics)[22]
Hình 2.1. Biểu đồ tỷ trọng xuất khẩu chuối trên thế giới năm 2010
Tình hình nhập khẩu chuối chỉ riêng EU, Mỹ và Nhật, đã chiếm trên
70% nhập khẩu trên toàn thế giới năm 2009. Thế giới nhập khẩu chuối tăng lên
khoảng 14,3 triệu tấn trong năm 2010. Riêng Mỹ đứng đầu trong các nước
nhập khẩu chuối, năm 2009 Mỹ nhập khẩu chuối tương đương 1,9 tỷ đồng và
Mỹ và Canada nhập khẩu hơn 4,6 triệu tấn năm 2010. Còn tại Nhật Bản nhập
khẩu chuối được dự báo tăng 0,7% mỗi năm, đạt gần 1,1 triệu tấn năm 2010.
Các nước Đông Á đang phát triển nhập khẩu đạt 1,3 triệu tấn trong năm 2010,
cộng với 75% so với thập kỷ này và giá sẽ tăng từ 1 - 2% mỗi năm. Đối với các
nước thuộc khu vực EC và khu vực Trung Đông, nhập khẩu chuối năm 2010 là
3,9 triệu tấn và 900 nghìn tấn. Theo một bản báo cáo được công bố của FAO
21
Ecuador
39%
Nước khác
33%
Costa Rica
15%
Colombia
13%
21
22
đã chỉ ra chuối là mặt hàng nông sản ít chịu tác động của các cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu hơn so với các mặt hàng nông sản khác. FAO dự đoán nhập
khẩu chuối năm 2009 sẽ giảm nhẹ xuống còn 13.8 triệu tấn. Nhập khẩu chuối
của EU, Mỹ và các nước phát triển lần lượt giảm 4,1%, 5,5% và 3,2%. Nhu cầu
29,6% 10,4%
7,7%
4,4%
22
23
vào thị trường châu Âu, Nhật Bản. Thời gian gần đây các tỉnh Cà Mau, Đồng
Nai, Quảng Ngãi… đã có những bước cải thiện trong việc trồng và phát triển
cây chuối tiến tới xuất khẩu sản phẩm chuối (Nguyễn Văn Luật, 2010) [13].
Bảng 2.7: Diện tích, năng suất, sản lượng chuối cả nước
từ năm 2008 - 2010
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)
2008 98.400 164,6 1.602.500
2009 101.000 159,6 1.611.800
2010 105.500 157,4 1.660.800
(Nguồn: http://www.agroviet.gov.vn)[19]
Qua bảng số liệu cho thấy, diện tích trồng chuối của nước tăng từ
98.400 ha (năm 2008) lên 101.000 ha (năm 2009), năm 2010 mức tăng không
đáng kể đạt 105.500 ha. Tuy nhiên năng suất chuối lại có xu hướng giảm dần
năm 2008 đạt 164,6 tạ/ha giảm xuống 159,6 tạ/ha năm 2009 và năm 2010
giảm xuống còn 157,4 tạ/ha. Điều đó cho thấy sản lượng chuối hàng năm tăng
lên là do tăng diện tích. Do đó cần chú trọng việc tăng diện tích trồng chuối đi
đôi với việc tăng năng suất cây chuối.
Ở miền Bắc những tỉnh có sản lượng chuối lớn là: Vĩnh Yên, Phú Thọ,
3 Bắc Cạn 500 112,0 5.600
4 Tuyên Quang 300 180,0 5.400
5 Lào Cai 900 134,4 12.100
6 Yên Bái 1.100 100,0 11.000
7 Thái Nguyên 1.500 132,7 19.900
8 Lạng Sơn 1.100 63,6 7.000
9 Bắc Giang 1.000 119,0 11.900
10 Phú Thọ 2.200 208,2 45.800
11 Điện Biên 200 145,0 2.900
12 Lai Châu 200 40,0 800
13 Sơn La 1.800 108,9 19.600
14 Hoà Bình 1.500 115,3 17.300
II ĐB.Sông Hồng 15.900 262,0 416.600
III Bắc Trung Bộ & DHMT 28.400 153,3 435.300
IV Tây Nguyên 4.200 182,1 76.500
V Đông Nam Bộ 10.200 157,4 160.500
VI ĐB.Sông Cửu Long 33.700 120,1 404.600
(Nguồn: http://www.agroviet.gov.vn)[19]
Qua bảng trên ta thấy, ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc tỉnh có
diện tích cao nhất là Phú Thọ đạt 2.200 ha chiếm hơn 16% tổng diện tích của
vùng và Phú Thọ cũng là địa phương có năng suất cao nhất vùng đạt 208.2
tạ/ha. Tiếp theo là các tỉnh như Sơn La, Hòa Bình, Thái Nguyên, Lạng Sơn,
Yên Bái… có diện tích từ 1.100 - 1.800 ha. So với cả nước diện tích của vùng
chiếm hơn 12%, sản lượng chiếm hơn 10% và năng suất thuộc diện khá thấp
so với các vùng trên cả nước, điều kiện khí hậu và địa hình phức tạ có ảnh
hưởng lớn đến việc mở rộng diện tích trồng chuối của vùng. Vùng có diện
tích trồng chuối lớn nhất cả nước là ĐB.Sông Cửu Long với diện tích chiếm
hơn 31% tổng diện tích cả nước, vùng có năng suất cao nhất là ĐB.Sông
Hồng đạt 262 tạ/ha.
24
- Nhóm chuối tiêu, gồm 3 giống: tiêu cao, tiêu lùn, tiêu nhỏ. Đây là loại
được trồng rộng rãi ở nước ta. Hàng năm cho sản lượng lớn nhất và cũng
đóng vai trò chủ yếu trong xuất khẩu chuối của nước ta. Có phẩm chất tốt,
25
25