1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là nguồn tài nguyên có giá trị to lớn không chỉ về mặt kinh tế mà
còn về xã hội, khoa học, môi trường và quốc phòng. Thế nhưng, hiện nay tài
nguyên rừng nước ta đã bị suy giảm đáng kể cả về số lượng và chất lượng.
Nguyên nhân là do cháy rừng, đốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản, chuyển
đất rừng sang những mục đích sử dụng khác…Kết quả đã làm cho nhiều loài
cây gỗ quí hiếm, cây bản địa, cây có giá trị cao về kinh tế bị đe dọa nghiêm
trọng và có nguy cơ tuyệt chủng.
Để phục vụ công tác trồng rừng, tạo rừng có hiệu quả ngoài vấn đề thời
gian, tiền vốn, nhân lực, thì nguồn giống là một khâu rất quan trọng. Có rất
nhiều phương pháp nhân giống cung cấp cho trồng rừng, phương pháp nhân
giống bằng hạt là một trong những phương pháp có hiệu quả.
Nhân giống từ hạt đã được áp dụng ở Việt Nam từ rất lâu đời và đã đạt
được những thành công nhất định trong nghiên cứu.
Cây Móc (Caryota mitis Lour), Họ Cau (Arecaceae) đã được du nhập
vào Việt Nam từ rất lâu và được trồng và ta thường được gặp ở vùng rừng núi
của nhiều tỉnh từ vùng Tây Bắc cho đến khu vực miền Trung Việt Nam như,
Điện Biên, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn….Và một số tỉnh ở Miền Tây,
Nam Bộ. Chúng có thể thích nghi ở nhiều loại đất ẩm. Nguồn gốc chính của
nó là từ Ấn Độ, Myanma, Malaysia, Đông Dương.
Cây Móc là loài sinh trưởng tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện
tự nhiên khắc nhiệt cao. Do là cây gỗ không có mấy giá trị trong công nghiệp
chế biến gỗ. Cây chỉ sử dụng trong làm cảnh và có ý nghĩa rất lớn về môi
trường sinh thái ở những nơi công cộng, đô thị, đường phố. Chúng có buồng
quả thõng dài tới 2-3 m, trông từ xa tựa như mái tóc xõa dài của một cô gái
miền sơn cước, và khi quả rụng hết để lại xương buồng màu trắng xám, trông
tựa như chòm râu của một tiên lão rất đẹp. Do có dáng đẹp nên được dùng
làm cây cảnh. Ở miền núi, nhiều gia đình có khuôn viên sân vườn rộng, họ
nhằm cung cấp cây con giống cho công tác trồng cây đô thị.
2
2
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Nhân giống bằng hạt là phương pháp nhân giống đem lại hiệu quả cao
và đã được áp dụng phổ biến trong suốt thời gian qua.
Trong gieo ươm, việc xử lý hạt giống là một khâu quan trọng, tùy vào
đặc điểm sinh lý, cấu tạo vỏ hạt của mỗi hạt giống khác nhau thì việc xử lý
hạt cũng khác nhau. Xử lý kích thích hạt giống là tác động đồng loạt lên
lượng hạt giống cần gieo nhằm diệt mấm mống sâu bệnh hại, đồng thời kích
thích hạt nảy mầm nhanh và đều. Có nhiều phương pháp xử lý kích thích hạt
giống khác nhau như: phương pháp vật lý, hóa học, cơ giới,… Nhưng hiện
nay phương pháp vật lý (dùng nước có nhiệt độ khác nhau để kích thích hạt
nảy mầm) thường được sử dụng nhiều hơn. Phương pháp này vừa đơn giản dễ
làm mà lại an toàn có hiệu quả cao, áp dụng cho rất nhiều loại hạt.
Quá trình nảy mầm của hạt giống chia ra làm 3 giai đoạn gối nhau:
+ Giai đoạn vật lý: Hạt hút nước và trương lên làm cho vỏ hạt nứt ra,
dấu hiệu đầu tiên của nẩy mầm (tất cả các hạt lép, hạt chết đều hút nước).
+ Giai đoạn sinh hóa: Dưới tác dụng của nhiệt và ẩm hoạt tính men, hô
hấp và đồng hóa tăng lên, các chất dự trữ được sử dụng và chuyển đến vùng
sinh trưởng.
+ Giai đoạn sinh lý: Sự phân chia và lớn lên của các tế bào làm cho rễ
mầm và chồi mầm đâm ra ngoài hạt thành cây mầm. (Lương Thị Anh - Mai
Quang Trường, 2007) [ 1].
Loại hạt khác nhau thì phương pháp xử lý kích thích khác nhau căn cứ
vào độ dày của vỏ hạt, tinh dầu trong hạt để lựa chọn phương pháp xử lý.
Hạt của cây Móc là loại có vỏ hạt cứng do vậy nước và không khí rất
cơ thể thực vật là không thể thay thế được.
Nitơ có mặt trong axit nucleic, tham gia vào cấu trúc của vòng
porphyril, là những chất đóng vai trò quan trọng trong quang hợp và hô hấp
của thực vật. Nói chung, nitơ là dưỡng chất cơ bản nhất tham gia vào thành
phần chính của protein, vào quá trình hình thành các chất quan trọng như
amino axit, men, nhiều loại vitamin trong cây như B1, B2, B6…Nitơ thúc đẩy
cây tăng trưởng, đâm nhiều chồi, lá to và xanh, quang hợp mạnh. Nếu thiếu
đạm, cây sinh trưởng chậm, còi cọc, lá ít và có kích thước nhỏ và hơi vàng.
Nhưng nếu bón thừa đạm cũng gây tác hại cho cây.
4
4
5
Biểu hiện của triệu chứng thừa đạm là cây sinh trưởng quá mức, cây dễ
đổ ngã, nhiều sâu bệnh, lá có màu xanh đậm vì diệp lục được tổng hợp nhiều
(Trịnh Xuân Vũ, 1975 [15]; Viện thổ nhưỡng nông hóa,1998 [14]; Ekta
Khurana and J.S. Singh, 2000 [16]; Thomas D. Landis,1985[19].
Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng. Lân
có tác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của
hệ rễ. Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát
triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả. Cây được cung cấp đầy đủ
lân sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất chua
và kiềm.
Nếu thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây phồng cứng,
lá màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng; thân cây mềm, thấp; năng xuất
chất khô giảm. Ngoài ra, thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng đạm. Một vài
loại lá kim khi thiếu lân lá sẽ đổi màu xanh thẫm, tím, tím nâu hay đỏ. Ở
những loài cây lá rộng, thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu xanh đậm, xen kẽ với
các vết nâu, cây tăng trưởng chậm. Khi thừa lân không thấy tác hại nghiêm
trọng như thừa nitơ (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [15]; Viện thổ nhưỡng nông hóa,
1998 [14]; Ekta Khurana and J.S. Singh, 2000[16]; Thomas D. Landis,
dụng, bao gồm cả cắt hạt giống vào cuối đối diện để rể nhỏ, ngâm hạt giống
trong conc. Axit sulfuric trong 15 phút, ngâm hạt trong nước sôi ở 98 C và để
lại cho họ mát trong 24 giờ và kiểm soát.
Bên cạnh đó trên thế giới nhiều nhà khoa học cũng công nhận phân bón
giúp cho cây sinh trưởng phát triển nhanh hơn, phân bón còn giúp cây chống
chịu được với hạn hán, sâu bệnh. Phân bón sinh học trở thành phân bón phổ
biến và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp.
Ở Mỹ, Canada, Braxin… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương
pháp bón phân đã tăng năng xuất từ 6,5 tấn/ha lên 25tấn/ha. Do đó tính ưu
việt của chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng
chất phát huy hiệu lực phân đa lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả
cao. Nên trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử dụng
các chể phẩm sinh học rất được chú trọng đầu tư. Phân bón sinh học trở thành
loại phân phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất, nông lâm nghiệp hiện
đại [3].
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về
gieo ươm. Nhìn chung, khi nghiên cứu gieo ươm cây gỗ, một mặt các nhà
nghiên cứu hướng vào xác định những nhân tố sinh thái có ảnh hưởng quyết
6
6
7
định đến sinh trưởng của cây con. Những nhân tố được quan tâm nhiều là ánh
sáng, đất, hỗn hợp ruột bầu, chế độ nước và kích thước bầu. Mặt khác, nhiều
nghiên cứu còn hướng vào việc làm rõ tiêu chuẩn cây con đem trồng.
Khi nghiên cứu gieo ươm thông nhựa (Pinus merkusii), Nguyễn Xuân
Quát (1985)[10] cũng đã tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn
hợp ruột bầu. Để thăm dò phản ứng của cây con với phân bón, Nguyễn Xuân
Quát (1985)[10] và Hoàng Công Đãng (2000) [6] đã bón lót super lân, kali
clorua, sulphat amôn với tỷ lệ từ 0- 6% so với trọng lượng ruột bầu. Đối với
vườn ươm là việc làm cần thiết. Nếu bón lót phân tổng hợp NPK (16:16:8)
cho Chiêu liêu nước, thì hàm lượng thích hợp là 1% so với trọng lượng ruột
bầu. Tương tự, phân super photphat là 1%, còn phân hữu cơ hoai là 15% -
20% so với trọng lượng ruột bầu. Theo Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006)
[9], khi gieo ươm cây Huỷnh liên (Tecoma stans (L.) H.B.K), hỗn hợp ruột
bầu thích hợp bao gồm đất, phân chuồng hoai, xơ dừa, tro, trấu theo tỷ lệ
90:5:2:2,1 và 0,3% kali clorua, 0,5% super lân và 0,1% vôi.
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
* Vị trí địa lí
Đề tài được tiến hành tại vườn ươm trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa lý Thành Phố
Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau:
- Phía Bắc giáp với phường Quán Triều
- Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
- Phía Tây giáp với xã Phúc Hà
- Phía Đông giáp với khu dân cư trường ĐHNL Thái Nguyên.
* Địa hình
Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao. Độ dốc trung
bình10-15
0
, độ cao trung bình 50-70m, địa hình thấp dần từ Tây bắc xuống
Đông Nam.
Vườn ươm khoa lâm nghiệp thuộc trung tâm thực hành thực nghiệm
của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Nằm ở khu vực chân đồi, hầu
hết đất ở đây là loại đất Feralit phát triển trên đá Sa thạch. Do vườn ươm mới
chuyển đến về đây nên đất lấy để hoạt động đóng bầu gieo cây là đất mặt ở
đồi tương đối tốt. Theo kết quả phân tích mẫu đất của trường thì chúng ta có
thể nhận thấy:
8
8
Do vườn ươm nằm trong khu vực của thành phố Thái Nguyên nên nó
mang đầy đủ tính chất chung của khí hậu thành phố:
Bảng 2.2: Một số yếu tố khí hậu từ tháng 1-4 năm 2012 tại Thái Nguyên
Tháng
Nhiệt độ trung
bình (
0
C)
Ẩm độ không khí
trung bình (%)
Lượng mưa (mm)
1 11,9 73 4,4
2 17,3 82 10,8
3 16,7 80 9,3
4 23,4 83 30,1
(Nguồn: Theo trung tâm khí tượng thủy văn Gia Bẩy
thành phố Thái Nguyên năm 2012)
9
9
10
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là: Hạt giống và cây con Móc trong giai đoạn
vườn ươm.
Cây Móc có tên khoa học (Caryota Mitis), Họ cau (Arecaceae), loài
Móc còn có tên gọi khác là cây Đủng đỉnh hay là cây Đuôi cá vì lá có dạng
đuôi cá.
Cây sống ở khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, cận nhiệt đới và nhiệt đới.
Cây phân bố ở khu vực Đông Nam Á như Lào, Việt Nam, Campuchia
trong trồng làm cảnh, trang trí khuôn viên đường phố, làm thức ăn cho một số
loài động vật như loài Vượn cao vít- trùng khánh - cao bằng.[7]. Ngoài ra tại
10
10
11
Ấn Độ người ta còn chiết xuất tinh bột, nhựa từ thân cây, lá được dùng để lợp
nhà, thân cây dùng để xây nhà, sợi từ bẹ lá được dùng làm dây thừng.[17].
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Thu hái chế biến hạt giống; Phương
pháp kích thích hạt cây Móc nẩy mầm bằng nước có nhiệt độ (100
0
C, 80
0
C,
60
0
C, 40
0
C); Ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu (phân vi sinh,
NPK, phân chuồng hoai) đến sinh trưởng của cây Móc.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm tiến hành nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại vườn ươm trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên.
3.2.2.Thời gian tiến hành nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 02/02/2011 đến 30/04/2012
3.3. Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng được mục tiêu đề tài thực hiện một số nội dung sau:
- Thu hái và chế biến hạt giống.
- Nghiên cứu phương pháp xử lý kích thích hạt giống theo các công
thức nước có nhiệt độ khác nhau.
Công thức 1: Nước sôi (100
0
C)
Công thức 2: 4 sôi 1 lạnh (80
0
C)
Công thức 3: 3 sôi 2 lạnh (60
0
C)
Công thức 4: 2 sôi 3 lạnh (40
0
C)
Bước 1: Làm sạch hạt
Bước 2: Ngâm hạt trong thuốc tím nồng độ 0,1% (1g /1lít) với thời gian
15 phút, sau đó vớt hạt lên.
Bước 3: Hòa nước được ở nhiệt độ cần thiết rồi cho hạt vào ngâm trong
nước nguội dần 8 giờ, sau đó vớt hạt lên ủ hạt.
Theo dõi số hạt nảy mầm, định kỳ theo dõi 5 ngày 1 lần vào buổi sáng
kết quả theo dõi ghi chép số hạt đã nảy mầm vào mẫu bảng 3.2:
Bảng 3.1: Theo dõi số hạt nảy mầm của cây Móc
Ngày theo dõi
Số hạt NM
Công thức
1 2 3 4 5 6
1
2
3
4
* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến
sinh trưởng của cây Móc
- Đếm số lá
Các chỉ tiêu đo đếm được ghi vào mẫu bảng 3.3:
Bảng 3.3: Bảng theo dõi sinh trưởng chiều cao
và động thái ra lá của cây Móc
TT
Công thức 1 Công thức 2
H
vn
(cm) Số lá H
vn
(cm) Số lá
1
2
3
4
3.4.2. Phương pháp nội nghiệp
- Bước 1. Tổng hợp rồi nhập số liệu vào máy vi tính.
- Bước 2. Phân tính và xử lý số liệu:
Tính tỷ lệ nảy mầm và thế nảy mầm tính theo tỷ lệ phần trăm.
Tỷ lệ nảy mầm: Là tỷ số phần trăm giữa số hạt nẩy mầm bình thường
so với số hạt đem kiểm tra, được biểu thị bằng công thức[2]:
13
13
14
Tổng số hạt nảy mầm
- Tỷ lệ nảy mầm: G(%) = ––––––––––––––––––––––– x 100
Tổng số hạt kiểm nghiệm
Thế nảy mầm: là tỷ số phần trăm giữa số hạt nẩy mầm bình thường
trong 1/3 thời gian đầu của quá trình nẩy mầm so với hạt đem kiểm tra, được
biểu thị bằng công thức.[2].
I
…
a
X
11
X
12
…………………………X
1
b
1
X
21
X
22
.
X
2
b
2
X
31
X
32
…………………………X
3
b
3
………………………
….
….
1X
2X
3X
….
Xi
A
….
Xa
A
S
X
Trong đó tôi coi:
- Nhân tố A là công thức thí nghiệm (CTTN)
14
14
15
- Giả sử nhân tố A được chia làm a (a công thức thí nghiêm) cấp khác
nhau, mỗi cấp các trị số quan sát lập lại (b
i
) lần.
- Cột 1: Các cấp của nhân tố A
- Cột 2: Các trị số quan sát (số lần nhắc lại cho mỗi công thức của nhân
tố A)
- Cột 3: Tổng giá trị quan sát trong mỗi cấp
- Cột 4: Số trung bình chung của n trị số quan sát
-
X
số trung bình chung của n trị số quan sát
i
b
j
ijT
−=
∑∑
= =1 1
2
n
S
ba
x
C
a
i
b
j
ij
2
2
1 1
=
×
b
i
= b
15
15
16
( )
ba
S
ASi
b
V
a
i
A
×
−=
∑
=
2
1
2
1
(3.2)
Biến động ngẫu nhiên: V
N
là biến động giữa các trị số quan sát trong
cùng một mẫu (trong cùng một cấp nhân tố A), biến động này gọi là biến
động ngẫu nhiên, do các giá trị quan sát của các phần tử trong cùng 1 cấp
i
= b:
( )
2
1
N
N
V
S
a b
=
−
(3.4)
1
2
−
=
a
V
S
A
A
(3.5)
2
2
N
A
không đồng dều tới kết quả thí nghiệm, có ít nhất một công thức khác các
công thức còn lại.
• So sánh và tìm ra công thức trội nhất
Số lần lặp lại ở các công thức là bằng nhau: b
1
= b
2
…….= b
i
= b
Ta sử dụng chỉ tiêu sai dị bảo đảm nhỏ nhất LSD (Least significant
diference), được tính theo công thức sau:
2
2
* *LSD S
b
t
α
=
(3.7)
16
16
17
Tìm công thức trội nhất
- Ta lập bảng hiệu sai các số trung bình
xjxi
−
và so sánh với LSD:
- Nếu
LSDxjxi ≤−
(Bậc tự
do)
MS
(Phương
sai)
F
(F thực
nghiệm)
P-value
(Sự hoán đổi
từ giá trị t
tính)
F crit
(Giá trị
F lý
luận)
Between Groups
(Do nhân tố A)
V
A
a-1
2
A
S
2
A
S
/
2
N
xếp theo cột thì đánh dấu vào columns và mục Label in Firt Rows nếu trong
vùng dữ liệu vào có chứa hàng tiêu đề.
Alpha: nhập (0.05) hay (0.01)
Output range: khai vùng xuất kết quả
18
18
19
PHẦN 4
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
4.1. Kết quả nghiên cứu về quá trình nẩy mầm của hạt giống cây Móc
4.1.1. Kỹ thuật thu hái, chế biến và xử lý kích thích hạt giống cây Móc
Quả Móc được thu hái từ cây sinh trưởng tốt, không sâu bệnh, cây
lấy giống 8 tuổi, được trồng tại xóm gò Móc xã Quyết Thắng Thành phố
Thái Nguyên.
Chỉ thị về độ chín của quả khi thu hái chùm/buồng quả có khoảng 10%
quả chuyển từ màu xanh sang màu đỏ và tím thẫm, hạt mầu đem-cứng, ta tiến
hành thu hoạch hết, vì quả của cây Móc là loại quả khi chín vỏ quả mềm, sau
khi chín có thời kỳ rơi rụng ngắn. Thời gian thu hái quả thực hiện thí nghiệm
là ngày 2 tháng 2 năm 2011.
Quả sau khi thu về cả chùm quả (gồm cả quả đã chín và chưa chín hoàn
toàn) tiến hành phân loại thành quả đã chín hoàn toàn và quả chưa chín,
những quả chưa chín tiến hành ủ quả từ 4-5 ngày cho chín đều trước khi đem
chế biến/tách hạt ra khỏi quả.
Khi quả đã chín đều ta ngâm quả trong nước sạch 2giờ, sau đó vớt lên
chà xát, rồi đãi sạch phần thịt quả bằng nước. Hạt sau khi làm sạch được đem
hong khô ở nơi râm mát, thoáng gió, thường xuyên đảo hạt để hạt khô đều,
thời gian hong hạt là 1 giờ.
Tỷ lệ chế biến: 1,5kg quả/1kg hạt
Trung bình trong 1kg có từ 500 - 600 hạt.
Xử lý kích thích hạt nảy mầm:
trực xạ, tránh mưa dột.
+ Dùng bát to để đong hạt và cát đen theo tỷ lệ trên.
+ Trộn đều cát hơi ướt với hạt. Sau khi trộn hạt với cát đều nhau, rải
một lớp cát dầy 2-3 cm xuống nền ủ hạt, rải hạt đã trộn đều với cát lên trên,
dàn thành luống rộng 0,8 - 1m, cao 15- 20 cm, dài 0,5m, phủ một lớp cát hơi
ướt dầy 2-3cm lên mặt luống và xung quanh luống ủ hạt.
+ Hằng ngày tiến hành kiểm tra khi thấy cát khô thì phải cần bổ
sung nước.
- Bước 6: Theo dõi quả trình nẩy mầm của hạt:
Quy định về hạt đã nẩy mầm:
Hạt cây Móc thuộc nhóm hạt có kích thước lớn nên, hạt được coi như
đã nẩy mầm khi rễ phôi bằng chiều dài của hạt.
Quá trình nẩy mầm của hạt được coi như đã kết thúc: Ngày kết thúc
quá trình nẩy mầm là ngày mà sau đó 5 ngày số hạt nẩy mầm thêm không quá
5% tổng số hạt đem kiểm nghiệm.[1]
Kết quả theo dõi số hạt nẩy mầm được ghi vào mẫu biểu theo dõi quá
trình nẩy mầm của hạt tương ứng theo định kỳ (thời gian) theo dõi.
Thí nghiệm theo dõi thời gian nẩy mầm của hạt Móc ở các công thức
thí nghiệm quả được thể hiện ở bảng 4.1 và hình 4.1.
Qua bảng 4.1 và hình 4.1 ta thấy:
20
20
21
Công thức 1: Sau khi kích thích hạt nẩy mầm, 87 ngày sau hạt mới bắt
đầu nẩy mầm, 20 ngày kết thúc quá trình nẩy mầm, tổng số hạt nẩy mầm là:
67hạt/ 90 hạt (tổng số hạt kiểm nghiệm).
Bảng 4.1: Kết quả nghiên cứu về quá trình nẩy mầm của hạt cây Móc ở
các công thức thí nghiệm
CTTN
Số hạt kiểm
61hạt/ 90 hạt (tổng số hạt kiểm nghiệm).
4.1.2. Kết quả nghiên cứu về khả năng nẩy mầm của hạt cây Móc
Tỷ lệ nẩy mầm: Là tỷ số phần trăm giữa số hạt nẩy mầm (cho cây bình
thường) so với tổng số hạt đem kiểm nghiệm.
Thế nẩy mầm: là tỷ số phần trăm giữa số hạt nẩy mầm bình thường
trong 1/3 thời gian đầu của quá trình nẩy mầm so với hạt đem kiểm tra.
Thế nẩy mầm thể hiện tốc độ nẩy mầm của hạt giống. Thế nẩy mầm
càng cao thì phẩm chất hạt càng tốt và Thời gian nẩy mầm bình quân chậm
chứng tỏ phẩm chất hạt kém.
Tỷ lệ sống: là những hạt tuy không nẩy mầm nhưng vẫn còn sống khỏe.
Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nẩy mầm của hạt cây Móc ở các công thức
thí nghiệm được thể hiện ở bảng 4.2 và hình 4.2:
Bảng 4.2: Kết quả về khả năng nẩy mầm của cây Móc
ở các công thức thí nghiệm
CT
TN
Số hạt kiểm
nghiệm
(hạt)
Thế nẩy mầm
Hạt còn sống
không NM
Tỷ lệ nẩy
mầm
Tỷ lệ sống
(%)
Số hạt NM
1/3 tg đầu
%
Số
nẩy mầm cho tốc độ nẩy mầm là nhanh nhất.
* Số hạt sống bình thường mà không nẩy mầm và tỷ lệ nẩy mầm ở
các công thức cụ thể như sau:
23
23
24
Công thức 1 cho kết quả: Số hạt bình thường (hạt sống) không nẩy
mầm 14 hạt chiếm 16%. Tỷ lệ nẩy mầm là 74% (67/90), số hạt thối 9 hạt.
Công thức 2 cho kết quả: Số hạt bình thường (hạt sống) không nẩy
mầm 9 hạt chiếm 10%.Tỷ lệ nẩy mầm là 88% (79/90), số hạt thối 2 hạt.
Công thức 3 cho kết quả: Số hạt bình thường (hạt sống) không nẩy
mầm 13 hạt chiếm 14%.Tỷ lệ nẩy mầm là 80% (72/90), số hạt thối 5 hạt.
Công thức 4 cho kết quả: Số hạt bình thường (hạt sống) không nẩy
mầm 13 hạt chiếm 14%. Tỷ lệ nẩy mầm là 68% (61/90), số hạt thối 16 hạt.
Như vậy công thức 2 dùng nước ở nhiệt độ 80
0
C để kích thích hạt Móc
nẩy mầm đồng đều nhất (tương ứng có tỷ lệ nẩy mầm cao nhất), tiếp đó đến
công thức 1 rồi đến công thức 3 và cuối cùng là công thức 4.
Để khẳng định ảnh hưởng của các công thức xử lý hạt đến khả năng
nẩy mầm đồng đều/Tỷ lệ (số hạt) nẩy mầm của cây Móc một cách chính xác,
tôi tiến hành phân tích phương sai 1 nhân tố 3 lần lặp ở bảng 4.3:
Bảng 4.3: Bảng tổng hợp kết quả số hạt nẩy mầm của các công thức
Phân cấp nhân tố
A(CTTN)
Số hạt nẩy mầm của các lần lặp lại
S
i
X
i
75,6486)19
2121242325252826232123(
12
1
2
2
2
1 1
=
+++++++++++==
×
=
∑∑
= =
n
S
ba
x
C
a
i
=
CASi
b
V
a
i
A
- Tính biến động ngẫu nhiên
V
N
= V
T
- V
A
= 70,25 - 58,25 = 12
416,19
14
28,58
1
2
=
−
=
−
=
a
V
S
A
A
= 4,07
df1 = a - 1 = 4 - 1 =3
df2 = a(b-1) = 12 - 4 = 8
• So sánh
Thấy rằng F
A
(hạt nẩy mầm) = 12,944 > F
05
(hạt nẩy mầm) = 4,07.
Giả thuyết H
0
bị bác bỏ chấp nhận H
1
.
Vậy nhân tố A(CTTN) tác động không đồng đều đến hạt nẩy mầm của
hạt Móc, có ít nhất 1 công thức tác động trội hơn các công thức còn lại.
Qua xử lý trên EXCEL ta có bảng phân tích phương sai 1 nhân tố đối
với số hạt nẩy mầm (bảng 4.4):
25
25