ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
QUỐC VIỆT HÙNG
KỸ THUẬT GIEO ƯƠM GIỐNG
CÂY QUẾ (CINNAMOMUM CASIA. BL) TẠI VƯỜN ƯƠM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2010 - 2014
Thái nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM QUỐC VIỆT HÙNG
Giáo viên phản biện Tác giả khóa luận
SV. Quốc Việt Hùng
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là dịp để củng cố những kiến thức đã học và bước
đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cho sinh viên khi ra trường.
Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại
Học Nông Lâm Thái Nguyên. Tôi đã tiến hành đợt tốt nghiệp với đề tài:
“Kỹ thuật gieo ươm giống cây Quế (Cinnamomum casia. BL) tại
Vườn ươm Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”.
Trong quá trình thực tập bằng niềm say mê, nhiệt tình, và sự cố gắng
của bản thân cùng với sự giúp đỡ của thầy GS.TS Đặng Kim Vui, các thầy cô
trong khoa và các cán bộ trong Vườn ươm khoa Lâm Nghiệp đã tận tình giúp
đỡ, chỉ bảo tôi để hoàn thành đề tài này.
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc
tới tất cả các sự giúp đỡ đó.
Do thời gian có hạn và trình độ có hạn, nên chắc chắn đề tài không
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý của các thầy
cô và các bạn đồng nghiệp để bản đề tài này hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 24 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
PHẦN 3
.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 11
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 11
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 11
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 11
3.2.2. Thời gian tiến hành nghiên cứu 12
3.3. Nội dung nghiên cứu 12
3.4. Phương pháp nghiên cứu 12
3.4.1.Phương pháp ngoại nghiệp 13
3.4.2. Phương pháp nội nghiệp 17
PHẦN 4
.
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 23
4.1. Kết quả nghiên cứu về qúa trình nảy mầm của hạt giống ở các phương
pháp kích thích khác nhau 23
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
5.1. Kết luận 41
5.3. Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT CT
Công thức
CTTN
Công thức thí nghiệm
H
vn
Chiều cao vút ngọn
D
00
Đường kính cổ rễ
Bảng 4.9. Bảng sai dị từng cặp
xjxi −
cho sự tăng trưởng chiều cao vút ngọn của
cây Quế 31
Bảng 4.10. Kết quả theo dõi sinh trưởng đường kích cổ rễ ở các công thức thí
nghiệm 32
Bảng 4.11. Sắp xếp các chỉ số quan sát đường kính
trung bình trong phân tích
phương sai một nhân tố 34
Bảng 4.12. Phân tích phương sai một nhân tố đối với đương kính cổ rễ cây Quế 34
Bảng 4.13. Bảng sai dị từng cặp
ji
xx −
cho sự tăng trưởng đường kính (D
00
) của
cây Quế 35
Bảng 4.14. Kết quả đánh giá chất lượng cây con ở lần đo cuối ………………… 36
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Hình ảnh hạt Quế nảy mầm ở 3 công thức 23
Hình 4.2. Đồ thị biểu diễn tỷ lệ nảy mầm của hạt cây Quế ở các công thức thí
nghiệm 25
Hình 4.3. Đồ thị biểu diễn sinh trưởng về chiều cao của cây Quế 29
Hình 4.3. Biểu đồ biểu diễn sinh trưởng về đường kính cổ rễ của cây Quế ở các
CTTN 33
thủy điện, nước sản xuất, nước ăn, biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học, vẫn
chưa được cải thiện là mấy.
Những cây đặc sản đa tác dụng như: Trám trắng, Trám đen, Trám ba
cạnh, Dẻ, Quế, vẫn chưa được chú trọng mà trong khi đó loài cây này có
tính chất gỗ tốt, lại có khả năng phòng hộ cao, tao cấu trúc rừng bền vững.
2
Với những hậu quả do thiếu rừng gây nên và những nhu cầu về gỗ tốt của con
người thì chúng ta quan tâng đến những cây lâm nghiệp có kích thước đảm
bảo chức năng của rừng.
Nước ta với điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiệt đới gió ẩm, trong điều
kiện đó nông dân vùng trung du, cao nguyên hoặc miền núi nước ta có thể gây
trồng một số cây gỗ có thời gian tương đối mọc nhanh, có hiệu quả kinh tế
cao chỉ sau một thời gian khá ngắn. Đó là cây Quế, tên khoa học là
Cinnamomum casia. BL thuộc giống Cinnamomum , họ Lauraceae.
Giá trị kinh tế: Cây quế là loại cây thân gỗ, sống lâu năm lá rộng,
thường xanh. Cây quế thường mọc tự nhiên thành rừng và cũng được người
dân gây trồng nhiều nơi ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta để lấy vỏ, và
chế biến tinh dầu. Lượng tinh dầu của quế tập trung nhiều nhất ở vỏ. Vỏ quế ở
Việt Nam có hàm lượng tinh dầu từ 2- 4% cao hơn quế trồng ở Trung Quốc,
Srilanka và nhiều nước khác trên thế giới.
Gỗ quế sử dụng để dùng đồ gia dụng và làm gỗ xây dựng. Vỏ quế còn
được dùng làm dược liệu và gia vị. Rừng quế sau 8-10 năm tuổi có thể cho
6000kg vỏ lấy từ thân và cành. Lá quế cũng có thể dùng để trưng cất tinh dầu
cung cấp cho thị trường địa phương và xuất khẩu.
Yêu cầu sinh thái: Cây quế mọc tự nhiên và nhiều ở vùng núi Bắc bộ và
Bắc Trung bộ Việt Nam ở độ cao lừ 300-800m so với mặt nước biển; lượng
mưa khá cao 1800 -3000mml/năm, không có mùa khô rõ rệt; độ ẩm không khí
cao 85%.
Cây quế cần đất tốt giàu mùn, đạm và kali. Đất có thành phần cơ giới
làm quen với thực tiễn sản xuất, thực hiện kỹ thuật gieo ươm cây con từ hạt
cho loài cây Quế.
4
- Đề tài thực hiện giúp chúng tôi biết phương pháp theo dõi tỉ lệ nẩy
mầm và thế nảy mầm, phương pháp điều tra theo dõi tình hình sinh trưởng
của cây.
- Việc tìm hiểu đề tài là cơ sở đề xuất phương pháp tạo bầu, chăm sóc
cây Quế giai đoạn vườn ươm.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tế sản xuất
- Đề tài thực hiện giúp chúng ta đi sâu vào công tác tạo giống cây Quế
nhằm cung cấp giống cho việc trồng rừng hiện nay được nhanh hơn và hiệu
quả hơn.
- Rút ngắn thời gian sản xuất, hạ giá thành. 5
PHẦN 2
Theo Nguyễn Văn Sở (2004) [9], thành phần ruột bầu là một trong
những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của cây con trong
vườn ươm. Hỗn hợp ruột bầu tốt phải đảm bảo những điều kiện lý tính và hóa
tính giúp cây sinh trưởng khỏe mạnh. Một hỗn hợp ruột bầu nhẹ, thoáng khí,
khả năng giữ nước cao nhưng nghèo chất khoáng cũng không giúp cây phát
triển tốt. ngược lại, một hỗn hợp ruột bầu chứa nhiều chất khoáng, nhưng cấu
trúc đất nặng, khó thẫm nước và thoát nước cũng ảnh hưởng xấu đến cây con.
Thành phần hỗn hợp ruột bầu bao gồm đất, phân bón (hữu cơ, vô cơ)
và chất phụ gia để đảm bảo điều kiện lý hóa của ruột bầu. đất được chọn làm
ruột bầu là đất tốt, có khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt, thành phần cơ giới
từ cát pha thị nhẹ, pH trung tính, không mang mầm mống sâu bệnh hại.
Theo Nguyễn Xuân Quát (1985) [8] để giúp cây sinh trưởng và phát
triển tốt, vấn đề bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện thêm tính chất của ruột
bầu bằng cách bón phân là cần thiết. trong giai đoạn vườn ươm, những yếu tố
đặc biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụ gia.
Đạm (N) là chất dinh dưỡng cần cho sinh trưởng và phát triển của cây
trồng. Mặc dù hàm lượng trong cây không cao, nhưng Nitơ có vai trò quan
trọng bậc nhất. Thiếu Nitơ cây không thể tồn tại. Nitơ là thành phần quan
trọng cấu tạo nên tất cả các axit amin tổng hợp nên tất cả các loại protein
trong cơ thể thực vật. Vai trò của Nitơ trong cơ thể thực vật là không thể thay
thế được.
Nitơ có trong axit nucleic, tham gia vào cấu trúc của vòng porphyril, là
những chất đóng vai trò quan trọng trong quang hợp và hô hấp của thực vật.
Nói chung, Nitơ là những chất cơ bản nhất tham gia vào thành phần chính của
protein, vào quá trình hình thành các chất quan trọng như amino axit, men,
7
nhiều loại vitamim trong cây như B
1
B
4
, giúp cây tăng sức đề kháng, cứng nhắc, ít đổ ngã,
chống sâu bệnh, chịu hạn và rét. Do vậy nếu thiếu Kali, thì cây có biểu hiện
8
về hình thái rất rõ như lá hơi ngắn, phiến lá hẹp và hơi nhìu màu lục tối, sau
chuyển sang vàng xuất hiện những chấm đỏ, lá bị khô (cháy) rồi rủ xuống
(Trịnh Xuân Vũ, 1975 [12]; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [11]).
Các chất phụ gia thường được sử dụng là sơ dừa, tro trấu….chúng có
tác dụng làm cho xốp đất, giữ ẩm, thoáng khí…
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới
Theo Thomas 1985 [13], chất lượng cây con có mỗi quan hệ logic với
tình trạng chất khoáng. Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh
trưởng và phát triển cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ
qua màu sắc của lá. Phân tích thành phần hóa học của mô là cách duy nhất đi
lường mực độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con.
Gallardo và đồng nghiệp đã bắt đầu một phân tích proteomic của quá
trình nảy mầm của hạt giống cây Arbidopsis bằng cách sử dụng ecotype
Landsberg Landsberg erecta.
Nghiên cứu về số lượng và kích cỡ hạt cây nảy mầm bằng gỗ Tếch
(Tectona grandis L.) được tổ chức tại Mae Tha của Lampang tỉnh và phòng
thí nghiệm hạt giống, Cục Lâm Nghiệp Hoàng Gia, Bangkok.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của presowing, phương pháp điều trị hạt.
Giống nảy mầm của 10 loại cây lâm nghiệp, sau khi lưu trữ cho một
năm, được thực hiện nhằm tăng tỉ lệ nảy mầm của nhửng hạt giống bằng cách
xem xét giá trị nảy mầm. Năm presowing phương pháp điều trị khác nhau
được sử dụng, bảo gồm cả cắt hạt giống vào cuối đối diện để rễ nhỏ, ngâm hạt
giống trong cồn. Axit sunfuric trong 15 phút, ngâm hạt trong nước sôi 98
0
C
một vấn đề khó, bởi vì hiện nay còn thiếu những điều kiện nghiên cứu cần
thiết Nguyễn Xuân Quát (1985) [8].
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thước bầu đến sinh trưởng
của cây con cũng đã được nhiều tác giả quan tâm.Theo Nguyễn Tuấn Bình
10
(2000) [2], kích thước bầu thíc hợp cho gieo ươm Dầu song nàng la 20x30
cm, đục 8 lỗ.
Theo Nguyễn Văn Sở (2004) [9], sự phát triển của cây con phụ thuộc
không chỉ vào tính chất di truyền của cây, mà còn vào môi trường sinh trưởng
của nó (tính chất lý hóa tính chất của ruật bầu). Tuy nhiên không phải tất cả
các loài cây đều cần một hỗn hợp như nhau, mà chúng thay đổi tùy thuộc vào
đặc tính sinh thái học của mỗi loài cây.
Theo Nguyễn Thị Mừng (1997) [6], thành phần ruột bầu được cấu tạo
từ 79% đất + 18% phân chuồng + 0,5%N + 2%P + 0,5%K hoặc 80% đất
+15% phân chuồng + 1%N + 3%P + 1%K sẽ đảm bảo cho cây Cẩm lai
(Dalbergia bariaensis Pierre ) sinh trưởng tốt trong giai đoạn vườn ươm.
Khi nghiên cứu gieo ươm Dầu song nàng (Dipterrocarpur dyerii),
Nguyễn Tuấn Bình (2002) [2] cũng nhận thấy hỗn hợp ruột bầu có ảnh
hưởng rất nhiều đến sinh trưởng cây con. Theo tác giả, đất feralit đổ vàng trên
phiến thạch sét và đất sám trên granit có tác dụng nâng cao sức sinh trưởng
của cây con Dầu song nàng. Hàm lượng lân supe photphat (Long Thành)
thích hợp cho sinh trưởng của cây Dầu song nàng là 2% - 3%, còn phân NPK
là 3% so với trọng lượng bầu.
Theo Nguyễn Văn Thêm và Phạm Thanh Hải (2004) [10], bón lót cho
chiêu liêu nước (Terminalia calamansanai ) trong giai đoạn 6 tháng tuổi vườn
ươm là việc làm cần thiết. Nếu bón phân tổng hợp NPK (16:16:8) cho Chiêu
liêu nước, thì hàm lượng thích hợp là 1% so với trọng lượng ruột bầu. Tương
tự, phân super photphat là 1%, còn phân hữu cơ hoai là 15% - 20% so với
trọng lượn ruột bầu. Theo Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006) [7], khi gieo ươm
- Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
- Phía Tây giáp với xã Phúc Hà
- Phía Đông giáp với khu dân cư trường ĐHNL Thái Nguyên.
3.2.1.2. Đặc điểm đất đai
Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao. Độ dốc trung
bình 10 – 15
0
,
độ cao trung bình 50 – 70m địa hình thấp dần từ Tây Bắc
xuống Đông Nam.
Vườn ươm nằm ở khu chân đồi, hầu hết đất ở đây là đất Feralit phát
triển trên đá Sa thạch
12
3.2.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Do vườn ươm của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nằm trong
khu vực thành phố Thái Nguyên nên mang đầy đủ đặc điểm của thành phố
Thái Nguyên. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt mùa nóng ẩm và
mùa khô lạnh.
Lượng mưa trung bình năm: 1500-2000mm
Nhiệt độ trung bình năm: 24-25°C
Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất: 29°C
Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất: 16°C
Độ ẩm trung bình: 80-85%.
3.2.2. Thời gian tiến hành nghiên cứu
- Thời gian bắt đầu thực hiện : 10/01/2014
- Khoảng thời gian thu thập số liệu định kỳ là 2 tuần
- Thời gian kết thúc theo dõi: 15/05/2014
3.3. Nội dung nghiên cứu
Để áp dụng được mục tiêu đề tài thực hiện một số nội dung sau:
- Công thức 1: Nước lã
- Công thức 2: 1 sôi 2 lạnh (20
0
)
- Công thức 3: 2 sôi 3 lạnh (40
0
)
Bước 1: Làm sạch hạt.
Bước 2: Ngâm hạt vào thuốc tím nồng độ 0,1% trong 15 phút hoặc
ngâm trong dung dịch Boóc đô nồng độ 1% trong 3 – 4 phút.
Bước 3: Hòa nước ở nhiệt độ cần thiết rồi cho hạt vào ngâm nước
nguội dần trong khoang thời gian 3 đến 4 giờ, sau đó vớt hạt lên ủ hạt ở khăn
ẩm và rửa chua mỗi ngày.
Theo dõi số hạt nảy mầm, định kỳ theo dõi 5 ngày 1 lần vào mỗi buổi
sáng, kết quả theo dõi ghi chép số hạt đã nảy mầm vào bảng 3.1.
14
Bảng 3.1. Theo dõi số hạt nảy mầm
Ngày theo dõi
Công
thức
Số hạt nảy
mầm
Số hạt sống chưa
nảy mầm
Số hạt
thối
15
Bảng 3.2. Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm
Số lần nhắc lại Công thức thí nghiệm
1 CT1 CT2 CT3 CT4
2 CT2 CT4 CT1 CT3
3 CT3 CT1 CT4 CT2
Công tác thực hiện thí nghiệm 2
- Chuẩn bị hạt giống 1kg
- Chuẩn bị đất đóng bầu
Đất phải được sàng nhỏ, diệt sạch mầm mống sâu bệnh, cỏ dại và phải
được phơi ải để cải thiện tính chất lý tính của đất.
- Kĩ thuật tạo bầu: Túi bầu kích thước 8 – 12cm, loại bầu polyetylelen.
Đất và phân để tạo hỗn hợp ruột bầu phải được chộn đều trước khi đóng bầu.
Ruột bầu không nên đóng chặt quá hoặc quá lỏng, ruột bầu phải đảm bảo độ
xốp, độ ẩm, độ xốp của ruột bầu là từ 60 – 70%. Để đóng bầu nhanh và chặt
đều thì ta thực hiện theo các bước sau: Dùng tay xoa hoặc giữ để tách miệng
bầu và kéo cho túi bầu phồng ra sau đó một tay giữ túi bầu đồng thời dùng
ngón tay cái và ngón tay trỏ giữa căng miệng túi. Tay kia bốc hoặc xúc đất
cho vào túi bầu rồi ấn nhẹ cho đất hơi chặt ở túi bầu. Tiếp tục cho đất vào đầy
túi, vỗ nhệ cho đất nén xuống đáy và cho thành bầu thẳng.
Luống xếp bầu phải có nền phẳng, luống phải được bố trí bằng mặt
vườn ươm. Xếp bầu theo hàng tạo thành luống theo đáy luống, dùng đất tơi
mịn vun xung quanh luống để cố định luống bầu và giữ độ ẩm cho cây. Cách
xếp bầu cho đều và đứng: xếp bầu lên luống đã chuẩn bị sẵn, hàng đầu xếp
thảng hàng ngay ngắn, hàng sau xếp so le với hàng đầu.
- Cấy hạt mầm:
vn
(cm)
D
00
(mm)
H
vn
(cm)
D
00
(mm)
H
vn
(cm)
D
00
(mm)
H
vn
(cm)
D
00
(mm)
1
2
3