Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2014. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––– VŨ SỸ GIỎI Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG CHÈ MỚI ĐƯỢC TRỒNG
TẠI MÔ HÌNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÁI NGUYÊN NĂM 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học
Khoá học : 2009 - 2013
THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––

về lý luận cũng như thực tiễn. Do đó thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết
đối với mỗi sinh viên. Quá trình thực tập giúp cho sinh viên củng cổ kiến thức
đã được các thầy cô giáo trau dồi suốt trong những năm tháng trên giảng
đường, đồng thời quá trình học tập giúp cho sinh viên trực tiếp cọ sát với công
việc sản suất nông nghiệp từ đó vững vàng hơn trong công tác sau này.
Xuất phát từ yêu cầu về đào tạo và thực tiễn. Được sự đồng ý của ban
chủ nhiệm khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến
hành thực hiện đề tài: “Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một
số giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên năm 2014”
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy cô giáo khoa Nông học. Đặc biệt,
em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo: TS.Dương Trung Dũng và
cô giáo Ths. Vũ Thị Nguyên - Giảng viên khoa nông học - Trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn cho tôi hoàn thành khoá luận
tốt nghiệp này.
Vì thời gian thực tập có hạn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên
báo cáo thực tập tốt nghiệp không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận
được sự thông cảm cũng như những ý kiến đóng góp của thầy cô, bạn bè để đề
tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013
Sinh viên

Vũ Sỹ Giỏi
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1

3.2.3. Kích thước lá và số đôi gân chính của giống chè mới 29
3.2.4. Đặc điểm búp của giống chè mới thời kỳ KTCB 30
3.2.5. Thời gian sinh trưởng và số lứa hái của một số giống chè 30
3.2.6. Tổng số búp và chất lượng búp trên cây chè 31
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33
1. Kết luận 33
2. Đề nghị 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Ý nghĩa
KHKT Khoa học kỹ thuật
KTCB Kỹ thuật cơ bản

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính
năm 2007 - 2011 5
Bảng 1.2: Năng suất chè của Thế Giới và một số nước trồng chè chính
năm 2007 - 2011 6
Bảng 1.3: Sản lượng chè của Thế Giới và một số nước trồng chè chính
năm 2007 - 2011 7
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam từ năm
2002 - 2011 10
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Thái Nguyên từ
năm 2005 - 2011 19
Bảng 3.1: Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2013 24
Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái cây chè thời kỳ KTCB 27

Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có
nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm. Cùng với sự phát triển của các ngành
sản xuất khác, ngành chè thế giới có bước phát triển rộng lớn với hơn 60 quốc
gia sản xuất chè, tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á và Châu Phi. Sản
phẩm từ cây chè đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều
công dụng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là đồ uống.
Việt Nam có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát
triển. Sản xuất chè giữ vài trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất Nông nghiệp,
sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Sản xuất chè cho thu nhập
chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá Nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn vùng
Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam. Do vậy, Việt Nam có chủ trương phát
triển chè trên cả hai hướng: Ổn định diện tích, thay thế giống chè cũ bằng các
giống chè chọn lọc, trồng các nương chè theo kỹ thuật thâm canh, gắn với
công nghệ và kỹ thuật chế biến mới, tạo sản phẩm chè chất lượng cao, an
toàn, đáp ứng yêu cầu thị trường tiêu thụ.
Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng trong việc
nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm. Giống được coi là tiền
đề của sản xuất, là tư liệu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Đối
với sản xuất chè, giống chè lại càng có ý nghĩa quan trọng trong thâm canh
tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Chè là cây lâu năm, trồng một lần cho
thu hoạch nhiều lần, trong thời gian dài từ 40-50 năm, đầu tư trồng chè cao
hơn nhiều lần so với các cây trồng ngắn ngày khác. Không thể phá đi trồng lại
hàng năm được. Mọi quyết định đúng đắn hay sai lầm về giống chè sẽ có ảnh
2
hưởng đến sự phát triển của vườn chè trong thời gian rất dài. Do vậy ở tất cả
các nước trồng chè, giống chè tốt là biện pháp được quan tâm hàng đầu, được
coi là khâu đột phá nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng chè. Chính vì vậy
chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển
của một số giống chè mới tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”

(Sinensis), tên khoa học là Camillia Sinensis (L) O. Kuntze, được phân làm 4
thứ chè khác nhau (Colen Stuart - 1919). Đó là thứ chè Trung Quốc lá nhỏ
(Camellia Sinensis var bohea), thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis
var macrophylla); thứ chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var. Assamica) và chè
Shan (Camellia Sinensis var. Shan). Mỗi thứ chè có đặc điểm hình thái: Thân,
cành, lá, búp khác nhau, có khả năng cho năng suất, chất lượng khác nhau, có
yêu cầu sinh thái khác nhau và phạm vi phân bố khác nhau.
Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất
khác nhau từ 30 độ vĩ nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ bắc (Gruzia - Liên
Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản. Chè
được trồng ở Nhật Bản năm 805 - 814, Indonesia 1684, Liên Xô 1833,
Xrilanca 1837 - 1840, Ấn Độ 1834 - 1840 và Tasmania (châu Đại Dương)
năm 1940.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm. Cây chè sau trồng từ 2 - 3 năm
đã có khả năng ra hoa. Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ
đậu quả rất thấp, thường chỉ đạt từ 2 - 4%. Hoa chè là hoa lưỡng tính, mỗi hoa
khi kết quả có từ 1 - 4 hạt. Mặc dù là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự thụ
của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác hoa,
đây là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè mọc từ hạt có sự phân li lớn
4
về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất lượng. Nói chung những cây chè
con mọc từ hạt có sự phân li lớn so với cây mẹ.
Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả nhân giống bằng hạt thì người
ta có thể nhân giống chè bằng phương pháp nhân giống vô tính như phương
pháp nuôi cấy mô tế bào, ghép cành, giâm cành Ưu điểm của phương pháp
nhân giống vô tính là hệ số nhân giống cao, cây con giữ được những đặc tính
tốt của cây mẹ, vườn chè có độ đồng đều cao, có khả năng cho năng suất cao
hơn so với trồng hạt, nguyên liệu có độ đồng đều cao, dễ canh tác, thu hái và
chế biến. Dựa trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu hết các cơ sở sản xuất

Kenya 149.190 157.700 158.400 171.900 187.855
Bangladest 57.580 58.005 59.000 59.700 56.670
Châu Á 2.612.418 2.661.699 2.684.098 2.779.168 2.879.925

Thế giới 2.905.768 2.969.025 2.997.607 3.117.531 3.256.762

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)
Ấn Độ là nước đứng thứ 2 với diện tích là 580.000ha, chiếm 17,80%
tổng diện tích chè toàn thế giới. Diện tích chè Việt Nam đạt 114.800 ha chiếm
3,52% tổng diện tích chè toàn thế giới. Diện tích chè tập trung chủ yếu ở khu
vực châu Á chiếm 88,43% (2.879.925 ha) diện tích, đây cũng là nơi phát sinh
ra cây chè.
6
* Về năng suất:
Bảng 2.2: Năng suất chè của Thế Giới và một số nước trồng chè chính
năm 2007 - 2011
(Đơn vị: tạ chè khô/ha)
Tên nước
Năm
2007 2008 2009 2010 2011
Trung Quốc 9,405 9,527 9,568 10,338 10,834
Ấn Độ 16,74 16,986 17,021 17,001 16,668
Indonexia 13,591 14,105 14,953 13,915 11,606
Việt Nam 15,27 15,946 16,639 17,532 17,997
Mianma 3,639 3,771 3,935 4,219 3,992
Nhật 19,522 20,104 18,181 18,162 20,565
Kenya 24,447 21,928 19,83 23,211 20,117
Bangladest 10,159 10,171 10,169 10,05 10,676
Châu Á 12,659 13,371 13,515 13,77 13,798
Thế giới 13,666 14,184 14,148 14,441 14,336

1.183.002

1.257.384 1.375.780 1.467.467 1.640.310
Ấn Độ 973.000 987.000 972.700 991.182 966.733
Indonexia 150.623 153.971 156.901 150.342 142.400
Việt Nam 164.000 173.500 185.700 198.466 206.600
Mianma 27.700 29.000 30.500 32.400 31.670
Nhật 94.100 96.500 86.000 85.000 95.012
Kenya 369.600 345.800 314.100 399.000 377.912
Bangladest 58.500 59.000 59.500 60.000 60.500
Châu Á 3.307.013

3.558.977 3.627.689 3.826.864 3.973.576
Thế giới 3.971.051

4.211.397 4.241.120 4.502.160 4.668.968
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)
Qua số liệu Bảng 2.3 cho thấy:
Sản lượng chè toàn thế giới năm 2011 là 4.668.968 tấn tăng 697.917
tấn, tương đương 14,95% so với năm 2007. Trung Quốc là nước có sản lượng
chè lớn nhất thế giới đạt 1.640.310 tấn chiếm 35,13% tổng sản lượng chè toàn
thế giới,chiếm 41,28% tổng sản lượng chè Châu Á. Sản lượng chè thấp nhất
là Mianma chỉ đạt 31.670 tấn chiếm 0,68% tổng sản lượng chè toàn thế giới.
Việt Nam đạt sản lượng 206.600 tấn chiếm 4,42% tổng sản lượng chè toàn thế
giới.
8
2.2.2. Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới
Trung Quốc là quốc gia sản xuất chè hàng đầu thế giới. Nghiên cứu sử
dụng giống chè tốt trong sản xuất được các nhà khoa học Trung Quốc quan
tâm từ rất sớm.

chè mới đã được đưa vào sản xuất, trong đó giống Yabukita được trồng phổ
biến nhất chiếm tới 70% diện tích chè ở Nhật Bản.
9
Kenia mới chỉ bắt đầu sản xuất chè vào những năm 1925 - 1927 tuy
nhiên do có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển, do
chú trọng đầu tư, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cho nên Kênia là
một trong những quốc gia có năng suất chè cao nhất thế giới, đạt trên 1500kg
chè khô/ha. Kênia lần đầu tiên nhập giống chè vào năm 1903 và trồng thành
công ở Limuri với diện tích ban đầu là 0,81ha, cho đến nay công tác giống
được quan tâm rất nhiều ở Kênia. Các giống chè chọn lọc, giâm cành cho
năng suất cao hơn giống chè đại trà tới 20%. Diện tích chè được trồng bằng
các giống chọn lọc, giâm cành chiếm tới 67% ở khu vực tiểu nông và chiếm
tới 33% diện tích chè ở các đồn điền lớn. Ngoài nhân giống bằng hình thức
giâm cành, Kênia còn nhân giống bằng hình thức ghép.
2.2.3. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam
Từ năm 1990 – 1997, diện tích chè từ 60.000 ha tăng lên 81.700 ha
tăng 26,2%, sản lượng chè khô tăng từ 32,2 nghìn tấn lên 52 nghìn tấn. Công
nghệ chế biến chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng, sự chồng chéo về
quản lý ngành chè đã phần nào làm cho ngành chè chững lại. Diện tích chè
tăng nhưng năng suất chè giảm, đời sống người làm chè gặp nhiều khó khăn.
Trước thực trạng đó việc thành lập Tổng công ty chè Việt Nam, thống
nhất quản lý ngành chè được tiến hành, một số liên doanh liên kết với nước
ngoài được thành lập, công nghệ chế biến bước đầu được chú trọng, đổi mới
thị trường xuất khẩu mở rộng sang Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản. Đã củng cố và tạo
được niềm tin cho người trồng chè và làm chè.
Trong những năm gần đây, nhà nước ta có nhiều cơ chế, chính sách đầu
tư cho phát triển cây chè. Do vậy, diện tích, năng suất và sản lượng chè không
ngừng tăng lên.
Theo kết quả số liệu bảng 2.4 cho thấy:
10


86,10

12,11

104,30

2004

92,40

12,93

119,50

2005

97,70

13,56

132,53

2006

102,10

14,79

151,00


198,47

2011

114,80

17,99

206,60

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)
11
Chè là cây công nghiệp thế mạnh của Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích
và thứ 6 về sản lượng chè trên thế giới. Chè phân bố trên 35 tỉnh nhưng tập
trung ở 12 tỉnh trọng điểm (chiếm 94% diện tích toàn quốc). Trong khoảng
mười năm gần đây, sản xuất và xuất khẩu chè của Việt Nam có bước tăng
trưởng khá cả về diện tích, năng suất và chất lượng. Trong 5 năm từ 2007 -
2011, diện tích chè Việt Nam từ 107.400 ha đã tăng lên 114.800 ha, năng suất
tăng từ 15,27 tấn lên 17,99 tạ khô/ha chè búp tươi cho thấy sự tiến bộ vượt
bậc của ngành chè.
2.2.4. Tình hình nghiên cứu chè ở Việt Nam
Tình hình nghiên cứu về giống chè
Khi đến Đông Dương người Pháp đã chú ý ngay đến việc điều tra thu
thập giống chè. Đầu tiên là khảo sát của G.Baux ở Bắc Kỳ năm 1885, tiếp
theo là điều tra của phái đoàn Davie năm 1890 - 1892; Năm 1907 Eberhardt
đã phát hiện ra cây chè dại đầu tiên ở núi Ba Vì (Hà Tây).
Theo Dupasquier (1923) - dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ (1991)
[8]
thì đến

sơ đồ tuyển chọn gồm 4 bước:
Bước 1: Đánh giá khả năng cho sản lượng của cây chè của các cá thể 2
- 3tuổi, bằng các chỉ tiêu hình thái và sinh trưởng trên đồng ruộng kết hợp với
phân tích trong phòng theo các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Số búp nhiều, trọng lượng búp tương đối lớn.
- Tán rộng, chiều cao cây lớn, số cành cấp 1 nhiều.
- Số lá mọc, kích thước lá (dài, rộng) thời gian sinh trưởng đạt trung
bình tiên tiến trong quần thể chọn lọc (sơ đồ 2.1).
+ Giai đoạn 1: Loại bỏ các cá thể có các chỉ tiêu đo đếm dưới mức
trung bình (X
1
) của quần thể;
+ Ở giai đoạn 2: Loại bỏ các cá thể có các chỉ tiêu do đếm dưới mức
trung bình tiên tiến (X
2
), chỉ giữ lại những cá thể sau giai đoạn 2 có các chỉ
tiêu đo đếm ≥ X
2
.
13
X
1
: Là giá trị trung bình đo đếm các chỉ tiêu của quần thể lựa chọn.
X
2
: Là giá trị trung bình đo đếm các chỉ tiêu của cây sau khi đã loại bỏ
ở giai đoạn 1 (X
2
≥ X
1

đoạn 1
Lo
ại bỏ ở giai
đoạn 2
Giữ lại ở giai
đoạn 2
X
1
X
2
14
Về lai tạo giống: Nghiên cứu về lai tạo giống, tác giả: Nguyễn Văn
Toàn (1994)[12] cho rằng: Ở Việt Nam các giống chè thường có hoa, nở vào
tháng 11, tháng 12. Vì thế việc lai giống chè không cần phải bảo quản hạt.
Trong trường hợp hoa nở không cùng nhau có thể bảo quản trong điều kiện
ẩm độ từ 25 - 30%, nhiệt độ bình thường của không khí, trong điều kiện như
vậy, ở Phú Hộ (Phú Thọ) có thể giữ sức nảy mầm của hạt phấn trong vòng 40
ngày.

Vật liệu khởi đầu
Bước 1
Chè 1 đến 2
tuổi
Đánh giá khả năng cho sản lượng, khả năng nhân

Chọn các cây tốt nhất để tiếp tục đánh giá
(Các chỉ tiêu không nhỏ hơn trung bình tiên tiến Đánh giá kh

năng tạo tánĐánh giá
khả năng
nhân giốngĐánh giá
sản lượng

Đánh giá
chỉ tiêu đạt

Đánh giá
chỉ tiêu lá
0
8950, N
0
89401 và N
0
8819, trong đó cây N89502 có số
cành cấp 1 nhiều, lá lớn, gồ ghề, đang được nhân vô tính thành dòng để tiến
hành thí nghiệm so sánh.
Ngoài ra các nhà khoa học Trung tâm nghiên cứu phát triển chè - Viện
KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc còn sử dụng Consixin xử lý trên
mầm chè giống PH
1
, trong thời gian 24 - 48h với nồng độ 0,2% cũng đã thu
được kết quả bước đầu
Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số giống chè ở Thái Nguyên:
Tác giả Lê Tất Khương (1997), cho rằng: Các giống PH
1
, TRI
777
, TH
3

là những giống dễ giâm cành. Tỷ lệ xuất vườn đạt từ 69,7 - 72,0%, giống 1A
là giống khó giâm cành, tỷ lệ xuất vườn chỉ đạt 50,7%.
Nghiên cứu một số biện pháp nâng cao tỷ lệ xuất vườn cho chè giâm
cành tác giả Lê Tất Khương (1997), và số lần bón phân cho chè giâm cành đã
làm tăng tỉ lệ xuất vườn và hạ giá thành cây xuất vườn từ 5,6 - 11,5% trong
đó, công thức đạt hiệu quả kinh tế cao nhất là tăng 25% lượng phân so với
quy trình (78g Ns, 36g Ps, và 60g Ks cho 1m
2

3,6 đợt/năm. Tuy nhiên, trong điều kiện có đốn, hái giữa các giống có sự sai khác
đáng kể về số đợt sinh trưởng, biến động từ 5,5 - 6,2 đợt/năm.

Sơ đồ: 2.3. Đợt sinh trưởng tự nhiên

Mầm chè
được phát
động

Lá vẩy ốc
mở

Lá thật
xuất hiệnCành chè
ngừng sinh

, khi diện tích lá tăng thì sản lượng búp chè cũng tăng.
Đỗ Văn Ngọc (1994), Nguyễn Văn Toàn, Trịnh Văn Loan (1994)[12],
cho rằng: Hệ số diện tích lá có tương quan thuận với tổng số búp chè (R =
0,69) và có tương quan thuận với năng suất búp chè.
Theo Nguyễn Văn Toàn (1994)[12] thì đặc điểm giống chè có năng
suất cao ít nhất phải có hệ số diện tích lá lớn (tạo ra số búp nhiều) và kích
thước lá lớn (có khối lượng búp lớn).
Tình hình sản xuất chè ở Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh có điều kiện đất đai địa hình, khí hậu khá
phù hợp với sự phát triển của cây chè. Thái Nguyên xác định cây chè là cây
công nghiệp chủ lực, đóng góp trong nền kinh tế thị trường.
Thái Nguyên nằm ở vị trí cửa ngõ giao lưu kinh tế giữa vùng Trung Du
Miền Núi phía Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ. Tỉnh Thái Nguyên được bao bọc
bởi các dãy núi cao Bắc Sơn, Ngân Sơn và Tam Đảo. Tỉnh có diện tích tự
nhiên 3.562,82 km
2
, dân số khoảng 1.127.200 người. Thái Nguyên có phía
Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây tiếp giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc,
Tuyên Quang, Phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam
tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Với vị trí địa lý như vậy Thái Nguyên đã trở
thành một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, giáo dục của khu vực Việt
Bắc nói riêng và của vùng Trung Du Miền Núi phía Bắc nói chung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status