ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀO HỮU QUẢNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ MỚI
TẠI HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THAI NGUYEN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀO HỮU QUẢNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ MỚI
TẠI HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 8.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THỊ MÃO
Thái Nguyên - 2018
Học viên
Đào Hữu Quảng
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ........................................................ v
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... vi
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề...................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Yêu cầu của đề tài ......................................................................................... 2
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.......................................................... 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 4
1.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam.................................. 6
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới ....................................................... 6
1.2.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam ........................................................ 9
1.3. Tình hình sản xuất ngô ở Phú Thọ ........................................................... 13
1.4. Sản xuất ngô ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ ........................................ 14
1.5. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới và ở Việt Nam ...... 14
1.5.1. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới ........................ 14
1.5.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô ở Việt Nam ........................ 18
Chương 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..... 26
2.1. Vật liệu nghiên cứu .................................................................................. 26
3.4.4. Số hàng hạt/bắp ..................................................................................... 63
3.4.5. Số hạt/hàng ............................................................................................ 65
3.4.6. Khối lượng 1000 hạt ............................................................................. 66
3.4.7. Năng suất lý thuyết................................................................................ 68
3.4.8. Năng suất thực thu................................................................................. 69
KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ .................................................................................. 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 74
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 78
v
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CIMMYT
:
Center for International Maize and Wheat Improvement
- Trung tâm cải tạo ngô và lúa mỳ quốc tế
CNSH
:
Công nghệ sinh học
CV
:
:
Khoa học kỹ thuật
KL1000
:
Khối lượng 1000 hạt
LSD0.05
:
Leat of Significant Difference - Sự sai khác nhỏ
nhất có ý nghĩa ở mức 0,05
NN&PTNT
:
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NSLT
:
Năng suất lý thuyết
NSTT
Sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2016 ................ 8
Bảng 1.4:
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2010- 2016..... 10
Bảng 1.5:
Tình hình sản xuất ngô ở các vùng năm 2016 ........................... 11
Bảng 1.6:
Sản xuất ngô của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010 - 2016 .............. 13
Bảng 1.7:
Sản xuất ngô huyện Phù Ninh giai đoạn 2010 - 2015 ............... 14
Bảng 3.1:
Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống ngô
thí nghiệm vụ Xuân 2017 tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ ... 35
Bảng 3.2:
Chiều cao cây của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân năm
2017 tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ .................................... 39
Bảng 3.3:
Khả năng chống đổ của các giống ngô tham gia thí nghiệm
vụ Xuân 2017 tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ ...................... 57
vii
Bảng 3.10: Số bắp/cây của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân 2017 tại
huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ................................................... 59
Bảng 3.11: Chiều dài bắp của các giống ngô thí nghiệm Vụ xuân 2017
tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ ............................................. 61
Bảng 3.12: Đường kính bắp của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân
2017 tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ .................................... 62
Bảng 3.13: Số hàng hạt/bắp của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân
2017 tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ .................................... 64
Bảng 3.14: Số hạt/hàng của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân 2017 tại
huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ................................................... 65
Bảng 3.15: Khối lượng 1000 của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân
2017 tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ .................................... 67
Bảng 3.16: Năng suất lý thuyết của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân
2017 tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ .................................... 68
Bảng 3.17: Năng suất thực thu của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân
2017 tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ .................................... 70
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea mays L.) là một trong ba cây trồng đảm bảo an ninh
lương thực cho nhiều quốc gia trên thế giới. Toàn thế giới sử dụng 17% tổng
sản lượng ngô làm lương thực, các nước sử dụng ngô làm lương thực chính:
chỉ đứng sau cây lúa, theo thống kê năm 2016, diện tích lúa là 3.334,4 nghìn
ha, diện tích ngô là 1.152,4 nghìn ha. Năng suất ngô của vùng Trung du và
miền núi phía Bắc chỉ đạt 37,9 tạ/ha bằng 83,7% so với trung bình cả nước
(45,3 tạ/ha) (Tổng cục thống kê, 2017) [27].
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam với hơn 80% đất
đai là đồi núi (Cục thống kê tỉnh Phú Thọ) [7]. Đất nông nghiệp đang sử dụng
là 95.987 ha chiếm 27,3 % diện tích đất tự nhiên (351.858 ha), do đó phải lựa
chọn cây trồng phù hợp, có hiệu quả kinh tế cao và áp dụng tốt các biện pháp
kỹ thuật canh tác. Vì vậy, giải pháp tối ưu cho việc nâng cao năng suất và sản
lượng ngô của tỉnh là sử dụng các giống ngô mới cho năng suất cao, có khả
năng chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của huyện Phù Ninh. Để
tìm ra được những giống ngô mới ưu việt nhất đưa vào sản xuất đại trà, cần
tiến hành quá trình so sánh, đánh giá và lựa chọn tại một số địa bàn sản xuất
của địa phương, vì vậy việc tiến hành Nghiên cứu khả năng sinh trưởng,
phát triển của một số giống ngô mới tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Chọn được những giống ngô mới có triển vọng, cho năng suất cao, phù
hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
3. Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi khả năng sinh trưởng của các giống ngô lai mới.
- Theo dõi đặc điểm hình thái của các giống ngô lai mới.
- Đánh giá khả năng chống chịu điều kiện bất thuận và sâu, bệnh hại của các
giống ngô lai mới.
- Đánh giá tiềm năng năng suất của các giống ngô tham gia thí nghiệm.
3
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài bổ sung thêm dữ liệu khoa học về các giống ngô lai mới ở điều
trồng trên vùng đất nghèo dinh dưỡng, thiếu nước, đồi, bãi hoặc có thể trồng
trong cơ cấu cây vụ đông trên đất lúa mà không ảnh hưởng đến 2 vụ lúa.
Trên cơ sở yêu cầu sinh thái của cây ngô, với điều kiện đất đai và khí
hậu của tỉnh Phú Thọ, những giống ngô mới có thể sinh trưởng phát triển tốt
và cho năng suất cao. Tuy nhiên, tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nói riêng
và vùng Trung du miền núi phía Bắc nói chung, nơi có tiềm năng sản xuất
ngô với diện tích lơn nhất cả nước lại được người dân sử dụng các giống ngô
cũ, giống địa phương là chủ yếu, vì vậy năng suất và sản lượng ngô của vùng
đạt rất thấp chưa tương xứng với tiềm năng của vùng. Các kết quả nghiên
cứu, so sánh và lựa chọn giống ngô mới đã được triển khai tại một số tỉnh như
Hà Giang do Sùng Mí Thề thực hiện đã lựa chọn được 2 giống AG59 và
5
DK9901 (Sùng Mí Thề, 2013) [21]. Giống NK67 cũng được Phạm Phương
Chi (2016) [6] kết luận thích ứng với điều kiện sinh thái tỉnh Yên Bái kể cả vụ
Hè Thu và vụ Xuân. Giống NK7328, B265 và VS36 cũng được cho là thích
ứng trong vụ Hè Thu tại tỉnh Quảng Ninh do Vũ Văn Anh (2016) thử nghiệm
[1]. Những giống ngô đó mặc dù có triển vọng về năng suất nhưng chưa được
thử nghiệm tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Từ những lý do trên, việc lựa
chọn giống ngô mới để nâng cao năng suất và sản lượng ngô ở huyện Phù
Ninh, tỉnh Phú Thọ là điều cần thiết.
Hiện nay, một số giống ngô mới cho năng suất và chất lượng cao đã
được công nhận và đang phát triển phổ biến trong sản xuất như:
- Giống ngô lai do Viện nghiên cứu ngô Nguyễn Văn Tuất và cộng sự
(2013)[30] với một số giống khá nổi bật như: LVN10, LVN99, LVN4, LVN9,
VN8960, LVN885, LVN66…
- Nhóm giống ngô lai đơn của Công ty TNHH Syngenta Việt Nam như
NK66; NK4300; NK6654: NK6326…;
- Nhóm giống CP (Công ty TNHH Hạt giống CP Việt Nam) gồm có:
(triệu ha)
(tạ/ha)
(triệu tấn)
2010
164,05
51,89
851,27
2011
171,38
51,77
887,13
2012
179,06
48,89
875,49
1.040,20
Nguồn: FAOSTAT, 2017[34]
Qua bảng 1.1 cho thấy, từ năm 2010 đến nay, năng suất ngô trung bình
của thế giới tương đối ổn định và đạt từ 51,89 đến 57,30 tạ/ha. Năm 2010,
diện tích trồng ngô với 164,05 triệu ha, năng suất đạt 51,89 tạ/ha và sản lượng
đạt 851,27 triệu tấn. Năm 2016 diện tích ngô tăng lên và đạt 181.4 triệu ha,
năng suất đạt 57,3 tạ/ha, sản lượng đạt kỷ lục 1.040,2 triệu tấn. Có được kết
quả trên, trước hết là nhờ sử dụng giống mới và ứng dụng rộng rãi lý thuyết
ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện
pháp kỹ thuật canh tác.
7
Bảng 1.2: Sản xuất ngô ở một số khu vực trên thế giới năm 2016
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(triệu ha)
(tạ/ ha)
(triệu tấn)
Đông Á
Đông Nam Á
9,4
69,5
93,5
Liên minh Châu Âu
8,7
54,1
60,3
Khu vực
Nguồn: FAOSTAT, 2017[34]
Qua bảng 1.2 cho thấy, Đông Á là khu vực có diện tích trồng ngô lớn
thứ 2 sau Bắc Mỹ với 37,3 ha, năng suất ngô đạt 59,5 tạ/ha, sản lượng đạt
221,9 triệu tấn và thấp hơn Bắc Mỹ 303,1 triệu tấn. Năm 2016 Bắc Mỹ đạt
năng suất ngô 96,7 tạ/ha, cao nhất thế giới. Đông nam Á có năng suất đứng
thứ hai nhưng diện tích đứng thứ tư nên sản lượng cũng đứng thứ tư, Nam
Phi có diện tích và năng suất ngô thấp nên sản lượng cũng thấp nhất.
Nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực trên thế
giới là do sự khác nhau rất lớn về trình độ khoa học kỹ thuật, điều kiện tự
nhiên, điều kiện kinh tế chính trị (Ngô Thị Minh Tâm, 2004) [20]. Ở Bắc
và Nam Mỹ có trình độ khoa học phát triển cao trong khi Nam Phi nền kinh
tế kém phát triển cộng thêm tình hình chính trị, an ninh không đảm bảo đã
Trung Quốc
35.981,0
60,0
215.812,1
Brazil
15.431,7
51,8
79.877,7
Mexico
7.060,3
32,7
23.273,3
Ấn Độ
8.600,0
27,5
163,6
Israel
Nguồn: FAOSTAT, 2017 [34]
Qua bảng 1.3 ta thấy, Mỹ có diện tích trồng ngô tuy đứng sau Trung
Quốc 33.644,3 ngàn ha, nhưng năng suất đạt khá cao (107.3 tạ/ha), nên sản
lượng đạt cao nhất thế giới với 361.091,1 ngàn tấn.
Trung Quốc là nước đứng thứ 2 trên thế giới về sản lượng ngô. Năm
2016, diện tích trồng ngô của Trung Quốc là 35.981 nghìn ha, chiếm 19,63%
diện tích trồng ngô thế giới, sản lượng đạt 215812,1 nghìn tấn, chiếm khoảng
20,8% sản lượng ngô toàn thế giới.
Sản xuất ngô trên thế giới có sự khác biệt rất lớn về năng suất giữa các
nước phát triển và các nước đang phát triển. Những nước phát triển đứng đầu
về năng suất ngô như Israe 341tạ/ha, Italia 106,2 tạ/ha, Hy Lạp 119,6 tạ/ha,
Đức 106,8 tạ/ha, Mỹ 107,3 tạ/ha.... Trong khi đó những nước đang phát triển
lại có năng suất ngô rất thấp như Ấn Độ 27,5 tạ/ha, Mexico 33,0tạ/ha...
(FAOSAT, 2017) [34]. Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch này là do
9
sự khác biệt về khoa học kỹ thuật. Ở các nước phát triển 90-100% diện tích
ngô được trồng bằng các giống lai có ưu thế lai cao, trong khi đó các nước
đang phát triển chủ yếu là trồng các giống thụ phấn tự do, diện tích trồng
giống ngô lai chỉ chiếm 37% diện tích. Ngoài ra, ở các nước đang phát triển
do điều kiện kinh tế khó khăn, khả năng đầu tư thâm canh thấp nên không
khai thác hết tiềm năng năng suất của giống.
Theo dự báo của Viện nghiên cứu lương thực Thế giới (IPRI, 2003)
[36], vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15%
dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm
2010
Diện tích
(nghìn ha)
1.126,4
Năng suất
(tạ/ ha)
40,90
Sản lượng
(nghìn tần)
4.606,8
2011
1.121,3
43,13
4.835,7
2012
1.156,10
43,02
4.973,5
5.244,1
Năm
Nguồn: FAOSTAT, 2017 [34].
Số liệu bảng 1.5. cho thấy, sản xuất ngô của nước ta tăng nhanh về diện
tích, năng suất và sản lượng trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016. Năm
2010, cả nước trồng được 1.126,4 nghìn ha, năm 2016 tăng lên và đạt
1.151,83 nghìn ha, tăng hơn 25,43 nghìn ha so với năm 2010. Việc tăng
cường sử dụng giống ngô lai cho năng suất cao kết hợp với các biện pháp kỹ
thuật canh tác tiên tiến, áp dụng những thành tựu khoa học đã khiến cho năng
suất ngô liên tục tăng trong giai đoạn 2010- 2016 (từ 40,9 tạ/ha lên 45,53
tạ/ha). Sản lượng ngô năm 2016 đã tăng so với năm 2010 lên mức 5.244,1
nghìn tấn. Tuy diện tích, năng suất và sản lượng ngô của chúng ta đều tăng
nhanh nhưng so với bình quân chung của thế giới và khu vực thì năng suất
ngô của nước ta còn rất thấp (năm 2016 năng suất ngô của Việt Nam 45,53
tạ/ha, bằng 79,46% năng suất bình quân của thế giới). Điều này đặt ra cho
11
ngành sản xuất ngô Việt Nam những thách thức và khó khăn khá lớn, đặc biệt
là trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay. Đòi hỏi đội ngũ chuyên
môn cũng như các nhà khoa học trong cả nước tiếp tục nỗ lực, nghiên cứu ra
những giống ngô và biện pháp kỹ thuật canh tác hiệu quả để nâng cao năng
suất và chất lượng của sản xuất ngô Việt Nam, góp phần vào sự phát triển của
ngành nông nghiệp Việt Nam.
Sự phát triển ngô ở Việt Nam đã được CIMMYT và FAO cũng như các
nước trong khu vực đánh giá cao. Việt Nam đã đuổi kịp các nước trong khu vực
về trình độ nghiên cứu tạo giống ngô và đang ở giai đoạn đầu đi vào công nghệ
cao (công nghệ gen, nuôi cấy bao phấn và noãn) (Ngô Hữu Tình, 2003) [24].
Trung du và miền núi phía Bắc
509,5
37,9
1.932,3
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung
207,4
45,4
942,4
Tây Nguyên
255,3
53,0
1.247,0
Đông Nam Bộ
75,7
63,0
ngô trọng điểm cung cấp lượng ngô lớn nhất cả nước.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có năng suất cao nhất đạt 55,7 tạ/ha
bằng 126,7% năng suất trung bình của cả nước do vùng có điều kiện tự nhiên
thuận lợi, phù hợp với yêu cầu sinh trưởng, phát triển của cây ngô như: nhiệt
độ bình quân cao 25 - 30oC, nguồn ánh sáng dồi dào, hệ thống thủy lợi đảm
bảo nhu cầu tưới tiêu, nền đất có độ phì nhiêu cao. Tất cả các điều kiện tự
nhiên kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp đã dẫn tới sự tăng
vọt năng suất trung bình của vùng.
Tây Nguyên cũng được xem là trọng điểm sản xuất ngô của cả nước với
diện tích 255,3 nghìn ha đứng thứ hai sau vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
Năng suất trung bình đạt 53,0 tạ/ha. Đứng thứ ba sau vùng Đông Nam Bộ và
Đồng bằng sông Cửu Long. Do có diện tích và năng suất khá cao nên sản
lượng ngô năm 2016 thu được là 1247 nghìn tấn đứng thứ hai của cả nước.
13
Các giống ngô lai mới có tiềm năng năng suất cao đã và đang được
phát triển ở những vùng ngô trọng điểm, vùng thâm canh, có thuỷ lợi, những
vùng đất tốt như: Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông
Nam Bộ và Tây Nguyên. Tuy nhiên, ở các tỉnh miền núi, những vùng khó
khăn, canh tác chủ yếu nhờ nước trời, đất xấu, đầu tư thấp thì giống ngô thụ
phấn tự do chiếm ưu thế và chiếm một diện tích khá lớn.
1.3. Tình hình sản xuất ngô ở Phú Thọ
Cùng với sự phát triển ngô trong cả nước, tỉnh Phú Thọ trong những
năm gần đây cũng rất quan tâm phát triển sản xuất ngô và đã thu được nhiều
kết quả nhất định nhờ có các thành tựu khoa học kỹ thuật mới, được nông
dân ứng dụng mạnh mẽ vào sản xuất ngô cho nên diện tích, năng suất và sản
lượng ngô trên địa bàn toàn tỉnh tăng nhanh.
Bảng 1.6: Sản xuất ngô của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2010 - 2016
Chỉ tiêu
17375,9
45,54
79119,5
2013
18564,4
45,45
84380,0
2014
18651,3
45,99
85785,0
2015
19211,9
46,60
89541,5
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)
2010
1943,1
46,10
8958,4
2011
1947,1
46,59
9076,5
2012
1681,7
46,91
7888,6
46,10 tạ/ha nhưng đến năm 2015 đã tăng lên và đạt 47,26 tạ/ha. Mặc dù năng
suất có tăng lên theo thời gian, nhưng do diện tích giảm dần nên sản lượng
ngô cũng giảm theo, từ 8958,4 tấn năm 2010 xuống còn 8729,6 tấn năm 2015.
1.5. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới
So với lúa mỳ và lúa nước, ngô đang đứng đầu về năng suất, đứng thứ
2 về diện tích. Nhờ vị trí quan trọng trong nền kinh tế nên sản xuất ngô trên
thế giới luôn được quan tâm và ngày càng phát triển.
Mặc dù trong những năm gần đây diện tích cây ngô trên toàn cầu không
tăng mạnh như thế kỷ XX do diện tích canh tác có giới hạn nhưng sản lượng
15
ngô trên thế giới vẫn liên tục tăng. Nguyên nhân chính là do năng suất ngô
được cải thiện nhờ áp dụng các giống ngô lai và các biện pháp kỹ thuật canh
tác tiên tiến vào sản xuất, năm 2010 diện tích trồng ngô trên thế giới là 164,05
triệu ha, với năng suất là 51,89 tạ/ha, đạt tổng sản lượng 851,27 triệu tấn.
Mức tăng trưởng bình quân hàng năm trong sản xuất ngô trên thế giới giai
đoạn 2010- 2016 về diện tích 2,48%, năng suất 0,77%, sản lượng 26,99%.
Đến năm 2016 diện tích trồng ngô trên thế giới 181,40 triệu ha với năng suất
trung bình là 57,30 tạ/ha, sản lượng 1.040,20 triệu tấn (FAOSTAT, 2017)[34].
Có được kết quả trên một phần nhờ vào quá trình lai tạo, chọn lựa giống
và các tiến bộ khoa học, tiến bộ khoa học về ngô lai được phổ biến và mở rộng
nhanh chóng ở Mỹ và các nước tiên tiến khác. Năm 1933, ngô lai ở vùng vành
đai ngô ở Mỹ chỉ chưa đầy 1% nhưng 10 năm sau đã đạt 78%. Đến năm 1965,
100% diện tích ngô vùng vành đai và 95% diện tích ngô toàn nước Mỹ đã trồng
ngô lai. Chính nhờ thay thế các giống thụ phấn tự do bằng các giống ngô lai mà
năng suất của Mỹ năm 1981 đã đạt 68.8 tạ/ha, tăng 4,6 lần so vời năm 1933.
Kế tục sự nghiệp vẻ vang và sáng tạo của thế hệ đi trước, các nhà khoa
học Hoa Kỳ đương đại như: Sprague, Duvick, Hallauer đã có nhiều thành tích
tiến hành sau khi khám phá ra đột biến gen lặn Opapue 2 và gen trội không
hoàn toàn Floury 2 ở ngô. Những gen này quy định hàm lượng đạm và đặc
biệt là hàm lượng Lisine và Tryptophan, đã giải quyết đòi hỏi của thị
trường ngô ngày càng cao theo hướng tăng diện tích ở mức độ nhất định đi
đôi với năng suất và tăng hàm lượng, chất lượng đạm. Cuộc cách mạng về
ngô OPM, nội nhũ cứng chính thức mới được bắt đầu cách đây 20 năm.
Các nhà khoa học ở Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mỳ quốc tế
(CIMMYT) và một số nhà tạo giống trên thế giới đã phải tìm ra những
hướng đi khác. Các nhà khoa học bằng phương pháp tạo giống đặc biệt đã
khắc phục những nhược điểm của các giống ngô QPM nội nhũ mềm và xác
định được gen sử dụng có hiệu quả nhất là Opaque 2. Các giống ngô QPM
có ưu điểm đặc biệt là hàm lượng Triptophan (0,11%), Lysine (0,475%) và