ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
………………………………..
LÊ BÁ THÀNH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC MỚI
TẠI TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN – 2010
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
………………………………..
LÊ BÁ THÀNH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC
MỚI TẠI TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số : 60.62.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. DƯ NGỌC THÀNH
biệt là gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ tôi trong quá trình
hoàn thành luận văn này.
Thái nguyên, ngày 05 tháng 5 năm 2010
Tác giả luận văn
Lê Bá Thành
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ được viết tắt
Chữ viết tắt
Cục nông nghiệp quốc gia Mỹ
USDA
Khối lượng 100 hạt
KL.100hạt
Khối lượng 100 quả
KL.100quả
Năng suất hạt
NS hạt
ICRISAT
khô hạn
Năng suất quả thực thu
SNTT
Năng suất quả lý thuyết
NSLT
Năng suất sinh vật
NSSV
Trung tâm giống cây trồng
TTGCT
Tổng sản phẩm quốc nội
GDP
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Diện tích năng suất, sản lượng lạc tỉnh Bắc Giang 2000 - 2008.... 21
Bảng 2.1. Kết quả phân tích đất khu vực nghiên cứu ..................................... 27
Bảng 2.2. Thang điểm đánh giá mức độ nhiễm bệnh gỉ sắt và đốm lá ở lạc
(ICRISAT 1990) ............................................................................. 30
Bảng 3.1. Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi và năng lượng trung
Bảng 3.18. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lạc mô hình tại xã
Lục Sơn ........................................................................................... 58
Bảng 3.19. Hoạch toán kinh tế mô hình tại xã Hùng Sơn .............................. 60
Bảng 3.20. Hoạch toán kinh tế mô hình tại xã Ngọc Sơn............................... 61
Bảng 3.21. Hoạch toán kinh tế mô hình tại xã Lục Sơn ................................. 62
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu của đề tài ........................................................................................ 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 4
5. Những đóng góp mới của đề tài.................................................................... 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.......................................................... 5
1.1. Nguồn gốc và phân loại của cây lạc........................................................... 5
1.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới.................................... 6
1.2.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới.................................................... 6
1.2.2. Một số yếu tố hạn chế chính đến sản xuất lạc trên thế giới ............... 8
1.2.3. Nghiên cứu và chọn tạo giống lạc trên thế giới .............................. 10
1.3. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc ở Việt Nam................................... 11
1.3.1. Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam .................................................. 11
1.3.2. Một số yếu tố hạn chế sản xuất lạc ở Việt Nam............................... 16
1.3.3. Tình hình nghiên cứu lạc ở Việt Nam.............................................. 17
1.4. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lạc ở Bắc Giang ................................. 20
1.4.1. Tình hình sản xuất lạc ở Bắc Giang ................................................. 20
1.4.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lạc ở Bắc Giang.................... 21
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................ 24
2.1. Vật liệu nghiên cứu .................................................................................. 24
2.2. Nội dung nghiên cứu................................................................................ 25
3.5.3.3. Hiệu quả kinh tế của 3 giống lạc trong vụ thu-đông 2009 ....... 59
3.5.3.4. Kế hoạch mở rộng mô hình trên đồng ruộng nông dân ........... 63
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ...................................................... 63
A. Kết Luận ..................................................................................................... 63
B. Kiến nghị .................................................................................................... 65
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ............... 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 67
PHỤ LỤC........................................................................................................ 73
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, nhờ sự chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch,
tập chung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội
chủ nghĩa, bộ mặt đất nước có nhiều thay đổi, GDP bình quân đầu người đạt
trên 1.000 USD/năm, nước ta đã thoát khỏi nhóm các nước nghèo trên thế
giới. Nền kinh tế đã và đang hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu, đặc biệt trong
lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã thu được những thành tựu đáng kể, nhiều
sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu với khối lượng lớn mang lại nguồn lợi cho
đất nước và cho người sản xuất. Từ một nước thiếu lương thực, hàng năm
phải nhập khẩu hàng nghìn tấn lương thực, nay đã trở thành nước đứng thứ 2
thế giới về xuất khẩu gạo. Do đó chúng ta có điều kiện để chú ý hơn vào phát
triển các cây trồng khác, trong đó có cây công nghiệp ngắn ngày, đặc biệt là
cây đậu đỗ, đáp ứng nhu cầu nội tiêu, phục vụ chế biến và xuất khẩu.
Về giá trị kinh tế, cây lạc là một trong những cây lấy dầu quan trọng nhất
trên thế giới. Đối với Việt Nam, cây lạc đang đứng đầu trong số các cây công
nghiệp ngắn ngày tham gia vào thị trường xuất khẩu, chính vì vậy lạc và đậu
tương đang là một trong 10 chương trình ưu tiên phát triển của nhà nước. Mỗi
của các giống lạc, chọn ra bộ giống phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng,
đồng thời xây dựng các mô hình khuyến cáo mở rộng các giống mới có triển
vọng vào sản xuất là một yêu cầu thiết thực đối với sản xuất. Do vậy chúng
tôi lựa chọn đề tài:''Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một
số giống lạc mới tại tỉnh Bắc Giang".
2. Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số
giống lạc có triển vọng, nhằm chọn ra các giống có năng suất cao, phù hợp
với điều kiện thực tế sản xuất, góp phần phát triển sản xuất lạc ở Bắc Giang.
Xây dựng mô hình khuyến cáo mở rộng các giống lạc mới có triển vọng
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài sẽ góp phần bổ xung cơ sở lý luận cho việc phát triển các giống
lạc mới ở vụ thu-đông và vụ xuân ở các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của
một số giống lạc mới ở vụ thu-đông, vụ xuân và các mô hình khuyến cáo mở
rộng các giống lạc có triển vọng sẽ là tài liệu cho các sinh viên, nhà nghiên
cứu tham khảo.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá, lựa chọn và bổ xung được các giống lạc có khả năng sinh
trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao phù hợp với điều kiện sản xuất lạc ở
Bắc Giang.
Xây dựng mô hình các giống lạc có năng suất, chất lượng cao nhằm tăng
hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất, tăng thu nhập cho nông dân.
Mở rộng diện tích lạc góp phần bảo vệ môi trường đất. Cải tạo và nâng
cao độ phì cho đất bạc màu tỉnh Bắc Giang.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
lạc trồng Arachis hypogaea ở nước nào của Châu Mỹ cho tới nay vẫn còn
nhiều quan điểm khác nhau [5].
Lịch sử trồng lạc tại các nước Nam Mỹ có từ khoảng 1500-1200 năm
trước Công nguyên. Từ thế kỷ XV trở đi lạc được lan truyền sang các Châu
lục khác. Sau chuyến đi thứ nhất của Columbus cây lạc được đưa vào Châu
Âu vào thế kỷ XVI và vào Châu Á khoảng thế kỷ XVII-XVIII.
Lịch sử trồng lạc ở Việt Nam tới nay chưa được xác minh rõ ràng. Sách
“Vân Đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn có mô tả nhận xét nhiều loại cây trồng
nông nghiệp ở nước ta, nhưng cũng không đề cập đến cây lạc. Nếu căn cứ vào
tên gọi mà xét đoán danh từ “Lạc” có thể do từ Hán “Hoa sinh” là người
Trung Quốc gọi là cây lạc. Như vậy cây lạc có thể từ Trung Quốc nhập vào
nước ta khoảng thế kỷ XVII, XVIII
Lạc thuộc loại cánh bướm (Fabaceae), chi Arachis. Từ lâu người ta chỉ
biết đến một loài của chi Arachis, đó là lạc trồng A. hypogaea do Line mô tả
từ năm 1753.
Dựa trên cấu trúc hình thái chia loài lạc trồng làm 2 nhóm lớn: nhóm
phân cành xen kẽ và nhóm phân cành liên tục ứng với nhóm Virginia và
nhóm Spanish, Valencia theo Gregory [27].
Theo thời gian sinh trưởng lạc được phân làm 3 nhóm như sau:
Nhóm 1: Nhóm chín sớm từ 80-100 ngày
Nhóm 2: Nhóm chín trung bình từ 101-120 ngày
Nhóm 3: Nhóm chín muộn trên 120 ngày
Với điều kiện thời tiết và tập quán sản xuất như ở miền Bắc Việt Nam
(từ Thanh Hoá trở ra), để phù hợp cho việc bố trí cây trồng trong cơ cầu thời
vụ thì có thể chia ngưỡng TGST ở các tỉnh phía Bắc chia làm 4 nhóm sau:
Nhóm 1: Nhóm chín cực sớm từ 90 - 100 ngày
Nhóm 2: Nhóm chín sớm từ 101 - 120 ngày
Nhóm 3: Nhóm chín trung bình từ: 121 - 140 ngày
tấn/năm, điển hình như khu vực Đông Nam Á những năm 90 tăng gần 300%
so với những năm 70 (Cesar. L. Revoredo, Stanley M. Fletcher, 2002),
(Florkowski W. J.,1994) [32], [35]. Sản lượng lạc trung bình của thế giới
trong 6 năm gần đây (2000 - 2005) là 32,261 triệu tấn/năm tăng so với nhưng
năm 70 là 93,1%, tăng so với năm 90 là 23,5% (USDA-Agricultural statics,
2006) [50].
Ấn độ là nước có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới, song lạc chủ yếu
được trồng ở những vùng khô hạn, năng suất lạc thấp so với năng suất trung
bình của thế giới (theo Florkowski W. j (1994), Cesar. L. R., Stanley M. F.
(2002) [32], [35]. Diện tích lạc trung bình những năm 70 là 7,159 triệu ha,
năng suất 8,1tạ/ha. Theo thống kê của FAO, USDA (2000 - 2005) [34] diện
tích lạc trung bình của Ấn Độ là 8 triệu ha, năng suất trung bình 8,6 tạ/ha so
với những năm 90 giảm 8,5%. Trung Quốc diện tích lạc trong những năm 60
là 1,919 triệu ha năng suất 11,4 tạ/ha và tăng liên tục, năm 1980 diện tích lạc
của Trung Quốc là 2,647 triệu ha năng suất trung bình 17,6 tạ/ha [34], [35].
Theo USDA (2000-2005) [50] những năm gần đây trung bình diện tích trồng
lạc hàng năm của Trung Quốc là 5,035 triệu ha, chiếm 20% tổng diện tích lạc
toàn thế giới. Năng suất trung bình là 28,2 tạ/ha. Mỹ là nước có diện tích lạc
và năng suất ổn định, năm 2000 - 2004 diện tích là 0,578 triệu ha, năng suất
trung bình 31,7 tạ/ha. Tiếp đến là Nigiêria năm 2000 - 2004 diện tích lạc từ
1,22 - 1,23 triệu ha, năng suất đạt 8,6 tạ/ha. Inđônêsia năm 2004 diện tích lạc
là 0,7 triệu ha, năng suất trung bình 15,9 tạ/ha. Ngoài các nước trên lạc còn
được trồng một diện tích lớn lở Sênêgan, Bu Ma, Su Đăng, Bu Ki Na, Hàn
Quốc, Achentina.
1.2.2. Một số yếu tố hạn chế chính đến sản xuất lạc trên thế giới
Lạc là cây trồng có tiềm năng cho năng suất rất cao, tuy nhiên nhiều nơi
con người chưa chú ý khai thác được tiềm năng này. Vì vậy diện tích trồng
lạc của nhiều nước giảm do năng suất lạc thấp, kém hiệu quả kinh tế. Để giải
năng suất cao chống chịu được sâu bệnh vì vậy hàng năm các nước trên thế
giới thiệt hại một lượng lớn về năng suất của lạc như: Ấn độ năm 1987 sâu
bệnh hại thiệt hại tới 150 triệu đô la, Nêgiêria năm 1975 thiệt hại 250 triệu đô
la [8]. Trung Quốc những năm 70 do chưa có giống tốt, kháng bệnh nên năng
suất lạc chỉ đạt 11,0 - 12,0 tạ/ha. Từ đầu thập kỷ 90 đến nay nhờ có công tác
chọn tạo giống và kết hợp với các biện pháp nâng có năng suất lạc đã đạt tới
30,1 tạ/ha năm 2005 [50].
1.2.3. Nghiên cứu và chọn tạo giống lạc trên thế giới
Để khắc phục các yếu tố hạn chế, nâng cao năng suất, sản lượng lạc trên
thế giới trong những thập kỷ qua, nhiều công trình nghiên cứu về chọn tạo các
giống mới và các biện pháp kỹ thuật trồng lạc đã được thực hiện và đạt được
kết quả tốt.
Công tác thu thập và chọn tạo các giống lạc: Các giống lạc đã được
nhiều nước và các tổ chức quốc tế thu thập, bảo tồn nguồn gen và để đánh giá
năng suất chất lượng giống, qua đó chọn tạo ra được các giống mới có khả
năng kháng được sâu bệnh và cho năng suất cao như: Ở Mỹ thu thập được
29.000 lượt mẫu giống (Banks, 1976) [31], Australia đã thu thập được 6.290
lượt giống (Arora R. K., 1989) [29]. ICRISAT là cơ sở nghiên cứu lớn nhất
về cây lạc, tại đây các nhà khoa học đã thu thập được 13.915 lượt mẫu giống
lạc từ 89 nước khác nhau trên thế giới. Đồng thời thu thập được 301 lượt mẫu
giống lạc thuộc 35 loài dại của chi Arachis, đây là nguồn gen có giá trị trong
công tác cải tiến giống theo hướng chống bệnh và chịu được môi trường đất
bất lợi. Cùng với thu thập đánh giá các giống lạc ICRISAT đã cung cấp
107.710 lượt mẫu giống lạc cho nhiều nước để làm nguyên liệu nghiên cứu
chọn tạo giống mới (Mengesha,1993) [41]. Nhờ vậy mà ICRISAT đã chọn tạo
ra được nhiều giống mới có năng suất cao như: ICGV-SM 83005 [45], ICGV
89214, ICGV 91098, ICGV 88438, [37]; các giống lạc chín sớm ICGV 86015
[46], ICGV 86062, ICGS (E) [28]...
yêu cầu kỹ thuật canh tác và đầu tư không quá cao, giá trị thu được và thị
trường khá ổn định, có nhiều giống lạc có tiềm năng xuất cao nên đã có một
vai trò quan trọng trong định hướng phát triển sản xuất hàng hoá ở các vùng
sản xuất và là cây trồng được chọn thay thế một phần diện tích lúa năng suất
thấp không ổn định.
Ở Việt Nam, năm 1932 chỉ có 3.8000 ha. Đến năm 1960, ở các tỉnh miền
Bắc diện tích trống lạc tăng nhanh, sau giải phóng 1954 đạt từ 25.000 30.000ha.
Sản xuất lạc được phân bố trên tất cả các vùng sinh thái nông nghệp của
Việt Nam, diện tích lạc chiếm khoảng 28% tổng diện tích gieo trồng các cây
công nghiệp ngắn ngày (Nguyễn Thị Chinh, 2005)[1] và do xu hướng tăng
trong giai đoạn 2000- 2008. Theo số liệu thống kê sơ bộ năm 2008 diện tích
lạc trên toàn quốc là 256.000 ha sản lượng 533.800 tấn với năng suất trung
bình 20,9 tấn/ha (Vietnam's Statistical Office, 2007-2008)[51]. Phân bố ở 8
vùng sinh thái khác nhau
Vùng đồng bằng Sông Hồng: Lạc được trồng chủ yếu ở các tỉnh: Vĩnh
Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên,
Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình với diện tích 34,5.000 ha chiếm
13,48% diện tích trồng lạc của cả nước với sản lượng đạt 82,5.000 tấn chiếm
15,46% sản lượng lạc toàn quốc đạt 23,9 tấn/ha. Cao hơn năng suất bình quân
cả nước 14,4%.
Vùng Đông Bắc: Lạc được trồng tập trung ở các tỉnh: Phú Thọ, Thái
Nguyên, Bắc Giang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai,
Yên Bái, Lạng Sơn với diện tích trồng 41.600 ha chiếm 16,25% diện tích
trồng lạc của cả nước. Đạt sản lượng 73,3.000 tấn chiếm 13,73% sản lượng
lạc toàn quốc, đạt 17,6 tấn/ha, thấp hơn năng suất bình quân toàn quốc 15,8%.
Vùng Tây Bắc: Bao gồm các tỉnh: Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai
Châu với diện tích trồng lạc 7.700 ha, chiếm 3,1% diện tích trồng lạc của cả
nước với sản lượng đạt 13,4.000 tấn, năng suất 17,4 tấn/ha, chiếm 2,51% sản
Diện tích trồng lạc của Việt Nam liên tục tăng năm 2000 diện tích trồng
lạc là 244.900 ha nhưng đến năm 2008 diện tích đã tăng lên 256.000ha.
Tuy chưa phải là nước có năng suất lạc cao trong số các nước trồng lạc
trên thế giới, nhưng năng suất lạc của nước ta luôn cao bằng và cao hơn năng
suất trung bình của toàn thế giới. Trong những năm gần đây, do thị trường
tiêu thụ khá ổn định, các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất lạc
như: Giống mới , kỹ thuật canh tác tiên tiến được triển khai áp dụng rộng rãi,
điều kiện phục vụ sản xuất như tưới tiêu được cải thiện, đầu tư thâm canh
trong sản xuất được chú trọng, nên năng suất lạc của nước ta không ngừng
được cảo thịện và nâng cao, năm 2000 sản lượng lạc chỉ đạt 355.300 tấn
nhưng đến năm 2008 là 533.800 tấn.
Tỉnh có sản lượng lạc cao nhất là Tây Ninh (73.900 tấn) tiếp đến là Nghệ
An (52.100 tấn), Hà Tĩnh (44.600 tấn), Thanh Hoá (28.800 tấn)..
Theo theo Đường Hồng Dật (2007)[5] diện tích và năng suất lạc trong
những năm 1960 - 1974 là năm 1960 diện tích lạc miền Bắc là 41.400 ha,
năng suất đạt 9,4 tạ/ha, các tỉnh phía Nam 28.440 ha, năng suất 8,61 ta/ha.
Nhưng đến năm 1974 diện tích lạc miền Bắc là 37.260ha, năng suất đạt 8,59
tạ/ha, miền Nam là 39.200 ha với năng suất 11,30 tạ/ha.
Những năm gần đây, nhà nước ta có chủ trương phát triển mạnh cây lạc,
cho nên diện tích trồng lạc tăng lên đáng kể. Năm 2008, diện tích trồng lạc
của cả nước đạt 256.000 ha, Năng suất lạc cũng tăng nhiều đạt 20,09 tạ/ha,
với sản lượng đạt 533.800 tấn.
Cho đến nay, diện tích trồng lạc ở nước ta vẫn khá phân tán, diện tích
manh mún, rải rác ở các hộ, cho nên sản lượng lạc không có điều kiện tập
trung thành khối lượng hàng hoá lớn, chất lượng không đồng đều. Ở một số
địa phương đã hình thành một vài vùng trồng lạc tập trung như Diễn châu
(Nghệ An), Hậu Lộc (Thanh Hoá), Hiệp Hoà, Lục Nam (Bắc Giang). Trong
cả nước chỉ có khoảng 5 - 6 tỉnh có diện tích trồng lạc trên 10.000 ha.