1
Phần1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, Thế giới đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng năng lượng
trầm trọng. Theo dự báo của các nhà khoa học trên thế giới, nguồn năng
lượng từ các sản phẩm hóa thạch, dầu mỏ sẽ bị cạn kiệt, và yêu cầu bức xúc
về vấn đề ô nhiễm môi trường với những tác động gây thay đổi khí hậu toàn
cầu làm ảnh hưởng tới sức khỏe của con người. Chính những vấn đề đó đã
làm tăng thêm gánh nặng cho các quốc gia về tài chính và vấn đề môi trường
trong quá trình phát triển, trong đó có Việt Nam. Để ổn định và đảm bảo an
ninh năng lượng, đáp ứng nhu cầu của con người, các nhà khoa học đang tập
trung nghiên cứu tìm ra những nguồn nhiên liệu mới. Trong đó nghiên cứu
phát triển nhiên liệu sinh học có nguồn gốc từ thực vật đang được quan tâm.
Năng lượng không chỉ cần trong quá khứ mà nhu cầu về năng lượng
tăng liên tục do sự phát triển của công nghệ tiên tiến và gia tăng dân số. Trong
cuộc sống hiện nay con người đã và đang khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên
thiên nhiên. Các nguồn năng lượng hóa thạch như dầu mỏ, than đá là những
nguồn năng lượng không tái tạo được, chúng đang dần cạn kiệt. Sự phát triển
của các quốc gia phụ thuộc rất lớn vào nguồn xăng hoặc diesel không chỉ làm
tăng gánh nặng tài chính mà còn tác động đến môi trường do việc thải ra các
chất ô nhiễm như chì, benzen, lưu huỳnh, dioxit, oxit nitơ và carbon
monoxide. Các chất khí này chiếm đến 64% không khí ô nhiễm ở các thành
phố lớn và các vùng ngoại ô lân cận, do đó ảnh hưởng đến sức khỏe gây ra
nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Việc đảm bảo nguồn năng lượng dài hạn thay thế
năng lượng hoá thạch ngày càng trở nên cấp thiết, nhất là khi dầu mỏ đang
cạn dần và trở nên đắt đỏ.
Trong bối cảnh đó, nhiên liệu sinh học đã được chọn mặt gửi vàng như
là một "ứng cử viên" đầy triển vọng nhằm thay thế một phần hoặc toàn bộ
nguồn nhiên liệu truyền thống nói trên.
1
2
3
Cao lương ngọt có năng lượng khá cao, Cứ 16 tấn cây cao lương ngọt có thể
sản xuất được 1 tấn ethanol, phần bã còn lại còn có thể chiết xuất được 500kg
dầu diesel sinh học. tương đương với mía và gần gấp 4 lần so với ngô mà
không có phế phẩm như sắn. Thân cây sau khi được ép lấy nước có thể phơi
khô dùng làm chất đốt để sản xuất điện. Và cũng như các loại nhiên liệu sinh
học khác, ethanol điều chế từ cao lương ngọt không phát thải CO
2
như nhiên
liệu hóa thạch.
Phát triển và chế biến cao lương là một vấn đề mới, ít nghiên cứu lớn,
ngoài các nghiên cứu rất giá trị của viện ICRISAT (Ấn Độ). Khó khăn lớn
hiện nay là chưa có giống cao lương ngọt sinh trưởng, phát trển phù hợp cho
các vùng sinh thái. Vì vậy nghiên cứu tuyển chọn hoặc lai tạo được các dòng,
giống cao lương ngọt có sản lượng thân ngọt cao phù hợp với điều kiện Việt
Nam là vấn đề rất cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi đã tiến hành
đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống
cao lương ngọt trồng thời vụ tháng 5 tại Thái Nguyên” .
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng của các giống cao lương
ngọt thí nghiệm.
- Nghiên cứu khả năng chống chịu của các giống cao lương ngọt thí
nghiệm trong điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh.
- Theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
cao lương ngọt thí nghiệm.
- Xác định được một số chỉ tiêu liên quan đến hàm lượng đường của
các dòng giống cao lương thí nghiệm.
1.2.2. Mục đích nghiên cứu
chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi thì công tác chọn giống đóng
một vai trò vô cùng quan trọng. Vavilop đã nói “Chọn giống có thể coi như
một khoa học nhưng là một nghệ thuật như một lĩnh vực sản xuất của nền sản
xuất nông nghiệp”.
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật có rất
nhiều phương pháp để chọn tạo giống cây trồng mới như nhân giống vô tính,
gây đột biến, lai tạo. Có thể rút ngắn được thời gian tạo giống, tạo ra được
giống tốt, có năng suất cao ổn định, sức chống chịu tốt với điều kiện ngoại
cảnh bất thuận. Nhưng với trang thiết bị kỹ thuật của chúng ta hiện nay thì
việc áp dụng các phương pháp tạo giống trên còn nhiều hạn chế, do vậy nhập
nội là phương pháp tạo giống mới nhanh nhất và hiệu quả nhất. Để chọn được
giống nhập nội tốt, phù hợp với địa phương thì việc khảo nghiệm tìm hiểu khả
năng sinh trưởng, khả năng chống chịu và năng suất chất lượng của giống
trong vùng sinh thái khác nhau là rất quan trọng.
Nếu các giống mới chưa được khảo nghiệm kỹ lưỡng và chưa được
công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện
tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng
suất cây trồng. Như vậy khảo nghiệm là việc làm cần thiết quyết định sự
thành công của giống nhập nội.
Mặt khác Việt Nam là một nước nằm trong khu vực Châu Á, thuộc khu
vực nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều nhưng lượng mưa lại không phân bố đều
5
6
trong năm nên có thể nói hạn là một trong những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng
đến sinh trưởng phát triển và năng suất của hầu hết các loại cây trồng. Hàng
năm diện tích lúa nước bị hạn cục bộ khoảng 0,4 triệu ha. Cao lương là cây
trồng có khả năng chịu hạn cao thích nghi với điều kiện khí hậu Việt Nam.
Để mở rộng diện tích trồng cao lương trước tiên phải chọn được bộ
giống phù hợp với từng vùng miền của Việt Nam, thích nghi với điều kiện khí
hậu, có khả năng chống chịu sâu bệnh đồng thời cho năng suất thân lá cao
Nhưng quang hợp theo chu trình C4 đây chính là một ưu điểm vượt trội của
cao lương. Nhờ quang hợp theo đường hướng này mà cao lương ngọt có thể
tổng hợp chất hữu cơ ở điều kiện nhiệt độ cao và không xảy hiện tượng quang
hô hấp. Ngược lại, lúa là đại diện của các loại cỏ ôn đới, sử dụng chu trình
C3. Cao lương ngọt là sự kết hợp tuyệt vời giữa lúa với cây trồng nhiệt đới
với bộ gen lớn hơn nhiều và sự bổ xung các gen có lợi khác từ mía, và là một
trong những cây trồng hiệu quả nhất trên thế giới trong việc sản xuất sinh
khối cây trồng hiện nay.
Theo báo cáo từ các khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ thì
cây cao lương là cây trồng trồng được trên các loại đất từ chua đến kiềm, đất
ngập nước hay khô hạn, nồng độ muối cao, các loại nấm bệnh cũng như cỏ
dại (Duke, 1983). Cây cao lương có đặc điểm hình thái và sinh lý cho phép nó
có thể sinh trưởng và phát triển trong điều kiện khô hạn vì có bộ rễ ăn sâu và
lan rộng, lớp phấn muội dày và bao phủ toàn thân, bề mặt lá và khả năng tự
dừng sinh trưởng trong điều kiện hạn, phục hồi bình thường trở lại khi điều
kiện thuận lợi. Do vậy nó có thể phát triển ở những vùng nhiệt đới và á nhiệt
đới với lượng mưa hàng năm chỉ 400-600mm quá khô không trồng được ngô,
cây cao lương không chỉ có khả năng sinh trưởng trong vùng hạn mà cây cao
lương có khả năng phát triển cả với vùng ngập nước, do đó nó cũng có thể
trồng được ở những vùng có lượng mưa lớn. Cây cao lương sinh trưởng được
từ độ cao 0-2300m so với mực nước biển (ICRISAT, 1996). Khoảng pH đất
mà cao lương có thể sinh trưởng được rất rộng từ 5,0-8,5 (ICRISAT, 1996).
Khoảng nhiệt độ cao lương có thể thích ứng được là 2,0
0
C - 41
0
C, nhiệt độ
7
8
hàng năm trung bình có thể từ 7,8
0
C, tuy nhiệt nhiệt độ tối thích là
27
0
C (Wilson và Myer, 1954). Đa số các giống cao lương hiện nay không phản
ứng với ánh sáng, tuy nhiên cao lương là cây trồng ngày ngắn.
2.4. Thời gian sinh trưởng
Thời gian từ gieo đến thu hoạch hạt là một trong những yếu tố quan
trọng để phân loại các giống cao lương, bố trí mùa vụ. Thời gian sinh trưởng
8
9
thường ít thay đổi tuy nhiên nó cũng phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, mùa
vụ, cùng một giống nếu trồng sớm thường có thời gian sinh trưởng dài hơn
nếu trồng muộn. Sau đây là bảng phân loại giống căn cứ theo thời gian từ gieo
đến hạt chín sinh lý
Bảng 2.1: Phân loại giống cao lương theo thời gian sinh trưởng
Đơn vị : ngày
Chín rất sớm
≤
90
Chín sớm 91-100
Chín sớm trung bình 101-108
Chín trung bình 109-114
Chín muộn trung bình 115-120
Chín muộn 121-124
Chín rất muộn
≥
125
Cách phân loại này dựa trên điều kiện thời tiết bình thường, dưới điều
kiện thời tiết khắc nghiệt hoặc rất thuận lợi có thể kéo dài hoặc rút ngắn thời
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất cao lương của một số châu lục giai đoạn
1990- 2009
Năm
Châu lục
1990 1995 2000 2005 2009
Châu
Phi
DT (triệu ha) 16,46 21,62 21,26 28,73 27,79
NS (tạ/ha) 7,28 8,24 8,66 8,69 9,77
SL (triệu tấn) 11,98 17,81 18,41 24,95 27,17
Châu
Mỹ
DT (triệu
tấn)
7,28 6,26 7,08 5,95 5,93
NS (tạ/ha) 33,84 31,30 32,81 35,82 35,67
SL (triệu tấn) 24,64 19,58 23,24 21,30 21,14
Châu Á
DT (triệu
tấn)
17,20 13,77 11,74 10,65 9,10
NS (tạ/ha) 10,80 11,14 9,50 10,03 11,46
SL (triệu tấn) 18,57 15,34 11,15 10,69 10,42
Châu Âu
DT (triệu
tấn)
0,27 0,13 0,23 0,14 0,15
NS (tạ/ha) 24,82 43,17 33,39 41,45 44,33
SL (triệu tấn) 0,67 0,55 0,76 0,58 0,67
Châu
ethanol. Đồng thời Mỹ cũng là quốc gia xuất khẩu cao lương lớn nhất thế giới
chiếm 80% sản lượng cao lương xuất khẩu của thế giới. Sản lượng cao lương
xuất khẩu của Mỹ tăng liên tục trong vòng 35 năm năm qua. Năm 2010 lượng
cao lương xuất khẩu của Mỹ tăng 15% so với năm 2009.Trồng cao lương để
sản xuất Ethanol sẽ là hướng đi mà quốc gia lựa chọn trong thời kỳ khủng
hoảng năng lượng như hiện nay. Ở Mỹ cao lương được trồng chủ yếu ở
Kansas, Nebraska và Texas (NASS, 2007)
2.5.1.2. Tình hình nghiên cứu cao lương trên thế giới
Nhận thức được vai trò quan trọng của cao lương cũng như nhu cầu
tiêu thụ cao lương của con người không ngừng tăng lên. Nhiều nước đã đầu tư
cho việc tăng năng suất và diện tích trồng cao lương. Vấn đề đặt ra là chúng
ta phải tăng năng suất cao lương bằng cách sử dụng các giống có tiềm năng
năng suất cao và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất.
12
13
Ở Châu Phi dự án nghiên cứu cao lương cấp nhà nước được phê duyệt
năm 1984, bắt đầu hoạt động từ năm 1986 đến 1991 dưới nguồn vốn tài trợ
của chính phủ Mỹ.
Công tác nghiên cứu cao lương trên thế giới đang ngày càng được mở
rộng với các tổ chức và nhiều chương trình nghiên cứu như:
ICRISAT: Trung tâm nghiên cứu cây trồng vùng bán khô hạn.
NRCS: National Research Centre for Sorghum
INTSORMIL-CRSP: Chương trình hỗ trợ nghiên cứu hợp tác quốc tế
về cây cao lương và cây kê.
INRAN: viện nghiên cứu nông nghiệp Niger
SAFGRAD: Tổ chức nghiên cứu và phát triển cây ngũ cốc vùng bán
khô hạn.
CGIAR: trung tâm nghiên cứu tư vấn nông nghiệp quốc tế.
2.5.2. Một số kết quả nghiên cứu về chọn giống cao lương trên thế giới
2.5.2.1. Một số giống đang trồng phổ biến hiện nay
trường thích hợp nhất để cây trồng cho năng suất cao.
Tại Trung Quốc, Viện Đại học nông nghiệp Thẩm Dương đã nghiên
cứu 58 dòng lúa miến ngọt và lọc ra một số giống tốt, thích hợp với vùng
đông bắc
Trong năm 2004, 21 giống cao lương ngọt (A 63, 51 Volzhskoye,
Kamyshinskoye 7, Kinelskoye 3, và các giống khác) đã được công nhận trồng
ở các vùng khác nhau của Liên bang Nga.
Trong số 90 dòng thử nghiệm tại Israel đã tìm thấy 9 dòng phù hợp
cho quá trình tổng hợp đường. (Blum và cs,1975)
Theo Blum et al (1977). Sau khi khảo nghiệm 1 số giống cao lương
ngọt có nguồn gốc từ Mỹ đã phát hiện được 3 giống có hàm lượng đương
trong thân lá cao, 3.500-5.000 kg đường/ha trong cùng điều kiện canh tác như
các giống khác.
14
15
Ở Italia, năng suất mía cao nhất đạt 3,4 - 4,5 tấn/ha khi được trồng trên
đất tốt, đủ nước; cao lương cũng cho năng suất tương tự nhưng chỉ được trồng
ở nơi nơi khô hạn, khắc nghiệt hơn. (Rauppu và cs, 1980).
Giống cao lương ngọt Keller thu hoạch được 43 tấn thân lá/ mẫu tương
đương 633 lít ethanol (Hills và cs, 1981.).
Sau khi khảo nghiệm 5 giống (Rio, Dale, RM-57-1 và J-set-3) đưa ra
kết luận rằng: giống Rio có số lá/ thân nhiều hơn các giống khác (8,02 lá)
chiều cao cây trung bình 307 cm; trong khi đó giống RM-57-1 và Dale cho
năng suất sinh vật học cao nhất đạt 51,8 tấn và 50,6 tấn /ha trong cùng điều
kiện canh tác. (Muddemmanavar ,1983).
Sau khi tiến hành đánh giá các dòng cao lương khác nhau tại Rahuri,
cho thấy chiều cao của các dòng cao lương dao động từ 180cm (dòng IS-660)
đến 350 cm (dòng IS-306). Bapat et al. (1983)
Chiu và Hu (1984) (Trung Quốc) chỉ ra rằng năng suất sinh khối trung
bình liên quan chặt chẽ với chiều cao thân cây, năng suất hạt và số lượng
1988). Đồng thời Rio là giống có hàm lượng nước ép cao 45,5-50,4%, hàm
lượng đường (19,6-21,0%), hàm lượng tinh bột (14,28-26,2%), đường thô
(1,75-3,37 tấn/ha).
Theo Ratnavati (2004), sau khi khảo nghiệm hàm lượng nước và chất
lượng đường 5 giống cao lương ngọt (Keller, SSV-84, BJ-248, Wrey và
NSSH-104) giống Keller được đánh giá là giống có hàm lượng đường cao
nhất, rất thích hợp phục vụ sản xuất ethanol.
2.5.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng tổ hợp NPK tới sự sinh trưởng, phát triển và
năng suất cây cao lương ngọt
Cân bằng dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất cây trồng.
Việc sử dụng kết hợp các loại phân bón có kết quả cao hơn khi sử dụng riêng
lẻ. Tăng mức độ bón N làm tăng năng suất cây trồng chỉ lên đến một mức độ
nhất định. Tương tự như vậy, P và K có những hạn chế của mình khi áp dụng
một mình. Như vậy, để cho cây sinh trưởng tốt và năng suất cao thì cần có tỷ
lệ chất dinh dưỡng thích hợp ( Maturi và Mengel, 1973).
* Nghiên cứu ảnh hưởng của Nitơ tới sự sinh trưởng, phát triển và năng
suất cây cao lương ngọt: Nitơ là một trong những chất dinh dưỡng quan trọng
nhất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất của cây cao lương. Hầu hết
16
17
trên đất trồng cao lương ở Ấn Độ đang bị thiếu hụt Nitơ , do đó bón N trở
thành hạn chế đáng kể trong canh tác.
Khi nghiên cứu bón N cho cao lương một mình hoặc kết hợp với các dinh
dưỡng khác ta thấy nhìn chung cây vẫn hấp thu tốt (Hons et al, 1986). Cao lương
chỉ yêu cầu thấp đến trung bình lượng phân đạm bón để có thể sinh trưởng và
đạt năng suất. Ở giai đoạn đầu sinh trưởng, hàm lượng và tỷ lệ tích luỹ chất khô
cũng tăng lên khi lượng bón N tăng. Tùy vào điều kiện khí hậu lưọng phân bón N
làm tăng đáng kể năng suất, độ dài tai và số hạt mỗi tai (Reddy và Husain,1968;
premsingh và Choubey,1972; Singh và Bain;1972). Áp dụng 120kg/ha tăng chiều
dài chùm hoa, số lượng hạt, trọng lượng hạt (Escasinas et al 1981).
đời nay.
Theo quyết định 177/2007/QĐ-TTg ngày 20/11/2007 của thủ tướng
chính phủ về việc phê duyệt đề án Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm
2015, tầm nhìn đến năm 2020, với mục tiêu sản xuất xăng E10 và dầu sinh
học nhằm thay thế một phần nhiên liệu truyền thống hiện nay. Theo đề án,
trong giai đoạn 2006-2010, Việt Nam sẽ tiếp cận công nghệ sản xuất xăng
sinh học tại một số tỉnh thành. quy hoạch vùng trồng cây nguyên liệu cho
năng suất cao. đào tạo cán bộ chuyên sâu về kĩ thuật. Giai đoạn 2011-2015, sẽ
phát triển mạnh sản suất và sử dụng nhiên liệu sinh học thay thế một phần
nhiên liệu truyền thống, mở rộng quy mô sản xuất và mạng lưới phân bố phục
vụ cho giao thông và các ngành sản suất công nghiệp khác, đa dạng hóa
nguồn nguyên liệu.
Thời gian gần đây chính phủ Việt Nam đã cho phép các công ty, cá tổ
chức nước ngoài hợp tác với các viện, trường đại học nghiên cứu phát triển
cây cao lương ngọt làm nguyen liệu sản xuất xăng sinh học. Hãng Rusni
Distilleries (Ấn Độ) cho biết, để chạy một nhà máy ethanol sinh học công suất
40 tấn/ngày, cần 6800 hecta miến ngọt giống bình thường hoặc 4500 hecta
giống tốt. Như vậy, để đạt chỉ tiêu 5000 tấn ethanol sinh học vào năm 2010
thì chúng ta phải trồng khoảng 1900-2900 ha miến ngọt vào đầu năm 2010.
Trong những năm gần đây, một số đơn vị nghiên cứu đã tiến hành
nghiên cứu cao lương ngọt làm nhiên liệu sinh học trong đó điển hình là đề tài
cấp nhà nước "Nghiên cứu tuyển trọn một số giống cao lương ngọt (sweet
sorghum) có năng suất cao, chất lượng tốt cho sản xuất ethanol nhiên liệu" ,
với mục tiêu tuyển chọn và xây dựng quy trình thâm canh cao lương ngọt.
18
19
Tuy nhiên bộ giống sử dụng trong đề tài này là những giống thuần nhập nội từ
ICRISAT (Ấn Độ) năng suất chỉ đạt 30-35 tấn/ha ( theo đăng ký của đề tài).
Ngoài ra cũng đã có một vài nơi thử nghiệm các giống khác nhưng năng suất
thấp, chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Phía nhà trường sẽ lập một nhóm nghiêm
cứu tiến hành triển khai nghiên cứu trên diện tích 5ha từ vụ xuân 2011.
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng
Thí nghiệm được tiến hành với 5 giống cao lương ngọt nhập nội từ
Nhật Bản ( 5B x 3reps)
Tên công thức Tên giống
1 B6-5
2 B8-5
3 B9-5
4 B16-5
5 B19-5
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Tại khu thí nghiệm cây trồng cạn - Trung tâm thực hành thực nghiệm-
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
3.1.3. Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 5/2011-11/2012
+ Gieo ngày 23/5/2011
+ Ngày trồng ngoài đồng ruộng 8/6/2011
20
21
3.2. Nội dung nghiên cứu
Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, hàm lượng đường, tình
hình sâu hại và khả năng cho năng suất của 5 giống cao lương ngọt tham
gia thí nghiệm trong điều kiện thời vụ tháng 5 tại Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên
3.3. Phương pháp nghiên cứu
- Mật độ: 10 cây/m
2
- Khoảng cách:
+ Hàng cách hàng 65cm
+ Cây cách cây 15 cm
Phân bón: 6-15 tấn phân chuồng + 3 tấn phân hữu cơ vi sinh Sông
Gianh + 600kg Urê + 600kg supelan +
224kg KCl (tính cho 1 ha).
+ Bón lót: 100% phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh, lân
1/6 N +1/6 K
+ Thúc lần 1 (25 ngày sau trồng)
1/6 N +1/6 K
+ Thúc lần 2 (50 ngày sau trồng)
1/6 N +1/6 K
+ Thúc lần 3 (75 ngày sau trồng)
1/6 N +1/6 K
+ Thúc lần 4 (100 ngày sau trồng)
1/6 N +1/6 K
+ Thúc lần 5 (125 ngày sau trồng)
1/6 N +1/6 K
- Phương pháp bón phân:
+ Bón lót kết hợp làm đất lần cuối.
+ Bón thúc lần 1: rạch rãnh:
Cách hàng 15cm
Độ sâu 5 - 7cm
Bón phân kết hợp vun nhẹ gốc, làm cỏ
+ Bón thúc lần 2: rạch rãnh:
Cách hàng 15cm
Độ sâu 5 - 7cm
3.3.3.2. Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu
23
24
* Khả năng chống chịu sâu bệnh
Theo dõi các loại sâu bệnh hại phát sinh ghi tên, ngày phát hiện, phần
trăm cây bị hại.
* Khả năng chống đổ
Đánh giá theo thang điểm (căn cứ vào độ nghiêng của cây khi gặp
mưa bão).
+ Không đổ, Điểm 1 (hầu hết các cây đều đứng thẳng)
+ Nhẹ, Điểm 2 (<25% số cây bị đổ rạp)
+ Trung bình, Điểm 3 (25%-50% số cây bị đổ rạp, các cây khác nghiêng ≈
45%).
+ Nặng, Điểm 4 (51-75% số cây bị đổ rạp)
+ Rất nặng, Điểm 5 (>75% số cây bị đổ rạp)
3.3.3.3. Các chỉ tiêu sau thu hoạch
- Đếm số cây thực tế thu hoạch/ô: Đếm số cây thực tế thu được trên
mỗi ô trước khi thu hoạch. Sau đó nhổ mỗi ô 5 cây liên tiếp ở 2 hàng giữa của
ô và theo dõi xác định các chỉ tiêu sau:
- Hàm lượng đường: sau khi loại bỏ lá, bông cờ ép thân lấy dịch ép sau
đó đo hàm hàm lượng đường bằng máy Brix
- Khối lượng tươi: khối lượng thân lá (đơn vị: g)
3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu thu được của các cây/ô chia cho số cây theo dõi để lấy số
liệu trung bình của từng ô rồi tính trung bình của các lần đo.
- Các số liệu khi tính toán được xử lý trên EXCEL 2003 và phần mềm
IRRISTAT 5.0
24
25
Phần 4