Thực trạng thâm hụt ngân sách quốc gia và các giải pháp chính phủ sử dụng để giảm thâm hụt ngân sách giai đoạn 2007 2011 - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, thâm hụt ngân sách là vấn đề của mọi quốc
gia trên thế giới và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Việc xử
lý thâm hụt ngân sách là một vấn đề nhạy cảm, bởi vì nó không
những chỉ tác động trước mắt đến nền kinh tế của mỗi quốc gia mà
còn ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của đất nước. Trong bối
cảnh nền kinh tế thế giới đang trên đà phục hồi, còn có nhiều biến
động…Việc tìm ra giải pháp để điều chỉnh thâm hụt ngân sách ở
các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là một
vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết. Ngân sách nước ta luôn trong
tình trạng thâm hụt trong thời gian dài và ngày càng tác động tiêu
cực đến nền kinh tế cũng như đời sống nhân dân. Đây chính là
nguy cơ khủng hoảng kinh tế, gia tăng lạm phát, gây mất niềm tin
của người dân và các nhà đầu tư. Những điều này sẽ gây khó khăn
cho Chính phủ trong việc thực hiện các chính sách tài khóa và tiền
tệ.
Vậy thâm hụt ngân sách là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân
sách diễn ra ở Việt Nam trong các năm qua như thế nào? Giải pháp
nào để xử lý thâm hụt NSNN, ổn định vĩ mô nền kinh tế, thực hiện
hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội,
tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay? Bài tiểu luận
này với đề tài “Các biện pháp mà Chính phủ Việt nam sử dụng
để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2007 -
2011” là quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra đáp án cho những câu
hỏi trên.
Những người thực hiện
Nhóm hai
Phần I: Lý thuyết
I . Khái niệm ngân sách nhà nước và thâm hụt ngân sách nhà
nước.
1 Khái niệm ngân sách nhà nước.

quyền.
Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong
nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình
thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển
ổn định và bền vững.
Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh
phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh
nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và
điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng
của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh
của các Doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các
doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để
chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh
tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn
kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho
sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu
hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông
qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua
thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng
đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh
Về mặt kinh tế
kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo sự định hướng phát triển
kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế và thuế suất của nhà
nước sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển thu hút sự đầu tư
của các doanh nghiệp.ngoài ra nhà nước còn dùng ngân sách nhà
nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận
lợi cho các doanh nghiệp hoạt động thanh
Về mặt xã hội
vai trò điều tiết thu nhập giữa các tần lớp dân cư trong xã hội.Trợ

thường được chia làm 3 dạng:
• Thâm hụt ngân sách thực tế: Là thâm hụt khi số chi thực tế
vượt quá số thu thực tế trong một thời kỳ nhất định.
G
B=0
B>0
B<0
T
Y
B<0: thâm hụt ngân sách
B>0: thặng dư ngân sách
B=0: cân bằng ngân sách
G
• Thâm hụt ngân sách cơ cấu: Đó là thâm hụt tính toán trong
trường hợp nếu nền kinh tế hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng.
Các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy
biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội
hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,
• Thâm hụt ngân sách chu kỳ: Là các khoản thâm hụt gây ra bởi
tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của
sản lượng và thu nhập quốc dân. .
Thâm hụt chu kỳ bằng hiệu số giữa thâm hụt thực tế và thâm hụt
cơ cấu.
Trong ba loại thâm hụt trên, thâm hụt cơ cấu phản ánh kết quả
hoạt động chủ quan của chính sách tài khóa như: định ra thuế suất,
phúc lợi, bảo hiểm…Vì vậy, để đánh giá đến chính sách tài khóa
phải sử dụng đến thâm hụt cơ cấu.
II. Tác động của thâm hụt ngân sách đến nền kinh tế.
1. Thâm hụt ngân sách và vấn đề tháo lui đầu tư.
Các biện pháp của chính sách tài khóa chủ động gây nên thâm

LM
1
E
1
E
IS
1
IS

O Y
0
Y
1
Y
Nghiên cứu tác động của thâm hụt vào tháo lui đầu tư đưa đến
kết luận là: Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa
và chính sách tiền tệ.
2.Thâm hụt ngân sách – một trong những nguyên nhân gây
lạm phát.
“Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian.”
Khi ngân sách thâm hụt lớn, chính phủ có thể in thêm tiền, giảm
lãi suất kích thích đầu tư làm cho tăng tổng cầu là nguyên nhân
gây ra lạm phát.Tác hại của lạm phát là rất lớn như phân phối lại
thu nhập và của cải một cách ngẫu nhiên, gây biến dạng về cơ cấu
sản xuất và làm việc trong nền kinh tế Như vậy, nghĩa là thâm
hụt NSNN gián tiếp gây ra các tác động trên làm tổn hại đến nền
kinh tế.
3.Thâm hụt ngân sách tác động đến cán cân thương mại.
Hiệu số giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong khoản giao dịch còn
gọi là cán cân thương mại. Các hoạt động xuất và nhập hàng hóa

Sẽ có một mức thuế tối ưu cho phép nhà nước đạt số thu ngân sách
nhà nước từ thuế là lớn nhất. Khi thuế nằm dưới mức tối ưu này thì
tăng thuế sẽ làm cho số thu của ngân sách nhà nước tăng lên. Tuy
nhiên, nếu thuế suất đã cao hơn mức tối ưu thì thu ngân sách nhà
nước sẽ giảm đi. Lúc này việc tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư tư nhân
dẫn đến nguồn thu của ngân sách nhà nước từ thuế sẽ giảm đi.
Ưu điểm của việc tăng thuế là khi còn trong vùng có thể chịu đựng
được thì việc tăng thuế sẽ làm tăng nguồn thu ngân sách, đồng thời
kích thích các đối tượng mở mang các hoạt động kinh tế, tăng khả
năng sinh lời, tăng lợi nhuận và một phần lợi nhuận đó sẽ được nộp
vào nhân sách nhà nước. Tuy nhiên nếu thuế suất đã nằm ngoài khả
năng chịu đựng của doanh nghiệp thì việc tăng thuế sẽ làm giảm đầu
tư, từ đó làm giảm nguồn thu của ngân sách nhà nước. Mặt khác,
việc tăng thuế sẽ thúc đẩy cạnh tranh không lành mạnh và trốn thuế,
lậu thuế.
Trên thực tế việc tăng thuế không phải là biện pháp dễ áp dụng và
rất tốn kém. Tăng thuế có khả thi hay không còn phụ thuộc vào sức
chịu đựng của nền kinh tế, phụ thuộc vào hiệu quả của hệ thống thu
thuế, phụ thuộc vào hiệu suất của từng sắc thuế. Trong thời kỳ kinh
tế suy thoái , hoạt động kinh tế mờ nhạt thì việc tăng thuế chỉ giúp
giảm bội chi ngân sách nhà nước trong ngắn hạn. Trong dài hạn,
tăng thuế sẽ khiến suy thoái ngày càng sâu sắc, nền kinh tế càng rơi
vào khủng hoảng. Việc tăng thuế sẽ cản trở hoạt đông sản xuất của
doanh nghiệp, làm tăng số lượng nợ đọng thuế của doanh nghiệp,
đẩy các doanh nghiệp vào tình trạng tài chính không lành mạnh.
1.2 Vay nợ trong nước.
Vay nợ trong nước được Chính phủ thực hiện dưới hình thức phát
hành công trái, trái phiếu. Công trái, trái phiếu là những chứng chỉ
ghi nhận nợ của nhà nước, được nhà nước phát hành nhằm vay dân
cư, các tổ chức kinh tế - xã hội và các ngân hàng.

Chính phủ (trừ khi thâm hụt ngân sách bắt nguồn từ việc đầu tư cho
các dự án có lãi trong tương lai của Chính phủ).
Đặc biệt, khi nền kinh tế đang trong tình trạng lạm phát kéo dài,
giá trị thực của trái phiếu Chính phủ giảm nhanh chóng làm cho
chúng trở nên kém hấp dẫn. Chính phủ có thể sử dụng quyền lực của
mình để buộc các chủ thể khác giữ trái phiếu của mình. Điều này sẽ
làm giảm uy tín của Chính phủ và việc huy động qua kênh này trong
các năm sau sẽ trở nên khó khăn hơn. Cùng với đó là việc lãi suất
chưa đáp ứng được kỳ vọng của thị trường nên việc phát hành trái
phiếu rất dễ gặp thất bại. Hậu quả có khi cũng tệ không kém, thị
trường gần như không có tính thanh khoản.
1.3 Vay nợ nước ngoài.
Chính phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng các nguồn vốn nước ngoài
thông qua nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nước ngoài từ các
Chính phủ nước ngoài, các định chế tài chính thế giới như Ngân
hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng phát
triển Châu Á (ADB), các tổ chức liên Chinh phủ, các tổ chức quốc
tế…
Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các Chính phủ,
các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cung cấp cho chính
phủ một nước nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển
kinh tế - xã hội và hiện nay chủ yếu dưới hình thức không hoàn lại
ODA.
Vay nợ nước ngoài thưc hiên dưới hình thức: phát hành trái phiếu
bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng…
Ưu điểm: nó là một biện pháp tài trợ cho ngân sách nhà nước một
cách hiệu quả, có thể bù đắp được các khoản bội chi mà không gây
sức ép lạm phát cho nền kinh tế. Đây cũng là nguồn vốn quan trọng
bổ sung cho nguồn ốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội.

hụt ngân sách, không phải trả lãi và không tăng thêm gánh nặng nợ
nần.
Do in tiền có thể gây lạm phát rất lớn nên biện pháp này rất ít khi
được sử dụng đến trong giai đoạn hiện nay. Từ năm 1992, Việt Nam
đã chấm dứt hoàn toàn việc phát hành tiền cho thâm hụt ngân sách.
2. Giảm chi
E
1
E
Đây tuy là một biện pháp tình thế nhưng vô cùng quan trọng đối
với các nước bội chi ngân sách nhà nước và xuất hiện lạm phát.
cơ chế quản lý đầu tư công nghĩa là chỉ đầu tư vào những công
trình chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển
kinh tế - xã hội, đặc biệt là những dự án chưa và không hiệu quả thì
phải cắt giảm hoặc không đầu tư. Mặt khác bên cạnh tiết kiệm đầu
tư công thì cũng phải cắt giảm các khoản chi tiêu nếu các khoản chi
tiêu này là chưa hiệu quả và chưa thực sự cần thiết.
Chính phủ cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình
trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40%) vào các nguồn
thu không bền vững từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay.
nhân (hiện chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong khi con số
này ở các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động
sản
AD AD
1
AD
2
AS
L
AD

với GDP
2007 56.500 5%
2008 66.200 4,95%
2009 142.355 6,9%
2010 119.700 6,2%
2011 211.300 5.8%
Thâm hụt ngân sách Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2011
Nhìn vào số liệu trên ta thấy rằng trong giai đoạn từ 2007-2011
bội chi ngân sách của nước ta tương đối cao. Hầu hết là trên 5%.
Theo IMF thâm hụt ngân sách của Việt Nam tính bình quân cho
giai đoạn 2007-2011 là khoảng 4,8% của GDP, thâm hụt ngân sách
của Việt Nam cao nhất nếu so với các nước trong khu vực như
Trung Quốc (1,2%), Indonesia (0,8%), Malaysia (2,7%),
Philippines (2,8%) và Thái Lan (2%).
Thâm hụt ngân sách của Việt Nam và một số nước chấu Á
(2005 - 2009)
Theo các nhà kinh tế học nhận định rằng nề kinh tế nước ta còn
chịu nhiều những sự tác động do sự tác động mạnh mẽ của nền
kinh tế thế giới. trong đó thâm hụt ngân sách sẽ giảm nhưng vẫn
còn ở mức đáng báo động.
Chính việc bội chi ngân sách đã gây ra nhiều những tác động
nặng nề về lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô
2 Sự tác động của thâm hụt ngân sách tới lạm phát của nước
ta
Bội chi ngân sách của nước ta từ 2007 tới nay đều ở mức cao trên
5% (trừ 2008 là 4.9%) đã gây áp lực lên lạm phát
Trong tổng chi cho ngân sách thi tỉ trọng chi cho đầu tư và chi
cho các lĩnh vực xã hội luôn ở mức cao nhất là đầu tư cộng. Đặc
biệt là giai đoạn 2009-2010 nhằm ngăn chặn đà suy thoái kinh tế
do ảnh hưởng của cuộc suy thoái toàn cầu, đầu tư công tăng rất

8,3
23,
6,9
9,2
18,16
Y
AS
L
AS
S
AD
1
AD
2
Y
*
AD
+ Giả sử ban đầu, nền kinh tế đạt trạng
thái cân bằng:
+ khi đầu tư công tăng lên thì AD dịch
chuyển từ AD
1
AD
2
, nghĩa là nền
kinh tế đang tăng trưởng nóng tỉ lệ
lạm phát tăng cao
Trong đó: Hàng ăn và dịch
8,4
11,

Theo dự báo mới nhất của Tổng cục Thuế (TCT), trong giai đoạn
2007 - 2011, tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) ước đạt trên
1.400.000 tỷ đồng, tăng 85,4% so với giai đoạn 2001 - 2005, trong
đó, thu nội địa không kể dầu thô đạt khoảng 850.000 - 900.000 tỷ
đồng.
“Nguồn thu thuế và phí vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu
NSNN giai đoạn tới và ước đạt từ 92 - 94%”, TCT nhận định.
Trong đó, thu nội địa (không kể dầu thô) tiếp tục tăng trưởng cao
và giữ vai trò chủ đạo trong tổng số thu thuế và phí. Cụ thể, theo
dự báo của TCT, trong giai đoạn tới, số thu thuế nội địa tăng bình
quân hàng năm khoảng 14 - 16%, nâng tỷ trọng trong tổng thu
NSNN từ 53,7% ở giai đoạn 2001 - 2005 lên 60 - 63% trong giai
đoạn tới.
Xét theo góc độ cơ cấu thu từ khu vực kinh tế, dự báo của TCT
là thu từ khu vực DN chiếm tỷ lệ 73,1% trong tổng số thu nội địa
của giai đoạn 2007 - 2011. Thu từ khu vực DN có vốn đầu tư nước
ngoài (ĐTNN) tiếp tục tăng trưởng và dẫn đầu trong khu vực DN
với mức tăng bình quân khoảng 27,6%/năm. “Thu thuế từ khu vực
DN có vốn ĐTNN sẽ trở thành nguồn thu quan trọng của NSNN.
Đến năm 2010, khu vực này chiếm tỷ trọng tới 43,2% tổng thu từ
khu vực DN”, TCT dự báo. Số thu từ khu vực công thương nghiệp,
dịch vụ ngoài quốc doanh cũng sẽ có mức tăng trưởng mạnh trong
thời gian tới với tốc độ bình quân 18%/năm. Theo TCT, tuy đến
năm 2008, tốc độ tăng thu ở khu vực này sẽ chững lại do việc
chuyển một bộ phận cá nhân kinh doanh sang nộp thuế thu nhập cá
nhân, nhưng đến năm 2010, tỷ trọng thu từ khu vực này vẫn đạt
khoảng 22% trong tổng số thu từ khu vực DN. Trong khi đó, thu từ
khu vực DNNN chỉ tăng khoảng 6,9%/năm vào những năm tới do
không thành lập thêm DNNN và tiếp tục sắp xếp lại DNNN, thực
hiện ưu đãi thuế đối với DNNN chuyển đổi sở hữu…

Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan
trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi NSNN và xuất hiện lạm
phát. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chỉ đầu
tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra
những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự
án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không
đầu tư. Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư
công.
Cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho an sinh
xã hội; tăng chi có trong điểm cho phát triển nông nghiệp, nông
thôn và những vùng khó khăn.
Rà soát, xây dựng và hoàn thiện các định mức chi một cách khoa
học và hợp lý, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, tham nhũng, hạn
chế tình trạng thất thoát, lãng phí trong quá trình sử dụng quỹ ngân
sách.
Tinh giản và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Phải phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức lập
pháp, hành pháp, tư pháp, các mối quan hệ và cơ chế phối hợp
giữa các tổ chức đó với nhau, tinh gọn tổ chức, bộ máy và biên
chế; khắc phục sự trùng lặp, chồng chéo về chức năng làm ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động của Nhà nước.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, hiện đại hóa nền
hành chính quốc gia, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính.
Tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức, chính sách tài chính
công, xây dựng chính phủ điện tử và từng bước hiện đại hóa nền
hành chính Nhà nước
Xây dựng đồng bộ, nâng cao chất lượng và tổ chức thực hiện có
hiệu quả hệ thống pháp luật và các chính sách phát triển kinh tế -
xã hội, thực hiện ngày càng tốt hơn an sinh và phúc lợi xã hội.
Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chiến lược quy hoạch và bằng

Số bội chi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status