Nghiên cứu ảnh hưởng của việc khai thác than tại mỏ than khánh hòa đến môi trường nước xã phúc hà TPThái nguyên - Pdf 13

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
BKHCN : Bộ Khoa học Công nghệ
BTNMT : Bộ Tài nguyên Môi trường
CNH- HĐH : Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
HST : Hệ sinh thái
KLN : Kim loại nặng
ONMT : Ô nhiễm môi trường
QLMT : Quản lý môi trường
TCCP : Tiêu chuẩn cho phép
THCS : Trung học cơ sở
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
UBND : Ủy ban nhân dân
VSV : Vi sinh vật
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
5
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 . Đặt vấn đề
Bất kỳ hoạt động kinh tế xã hội cũng như trong đời sống sinh hoạt con
người đều phải sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau. Mặc dù đã có nhiều
tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong việc tìm kiếm nguồn năng lượng mới, song
chúng chưa thể thay thế cho nhiên liệu hoá thạch và có khả năng cạn kiệt bất cứ
lúc nào như than đá, dầu mỏ. Quá trình khai thác và đốt cháy các nhiên liệu hoá
thạch có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đặc biệt là khai thác và sử dụng than.
Nếu như quá trình đốt cháy than tạo ra các khí nhà kính thì quá trình
khai thác và chế biến than lại gây ô nhiễm, suy thoái, và có những sự cố môi
trường diễn ra ngày càng phức tạp đặt con người trước sự trả thù ghê gớm của
thiên nhiên đã ảnh hưởng trở lại tới phát triển kinh tế của con người.

- Các mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn
nghiên cứu
- Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực
tế của cơ sở.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.
- Củng cố và nâng cao kiến thức thực tế.
- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường và vận dụng kiến
thức vào thực tế
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đưa ra các tác động của hoạt động khai thác than tới môi trường nước,
từ đó giúp cho đơn vị tổ chức khai thác có các biện pháp quản lý, ngăn ngừa,
giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường nước, cảnh quan và con người.
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường
cho mọi thành viên tham gia hoạt động khoáng sản.
6
7
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của để tài
2.1.1 Cơ sở lý luận vấn đề nghiên cứu
2.1.1.1. Môi trường và ô nhiễm môi trường
a. Khái niệm về môi trường:
- Theo quy định trong Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam thi: "Môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ
mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản
xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật." (Luật Bảo vệ Môi
trường của Việt Nam,2005).[8]
b. Khái niệm ô nhiễm môi trường có rất nhiều khái niệm khác nhau:

Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất
mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều
hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Có thể
nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước.
Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km
3
,
tập trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km
3
), còn lại trong khí quyển và
thạch quyển. 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong
băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ. Lượng nước
trong khí quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối
0,00007% tổng lượng nước trên trái đất. Lượng nước ngọt con người sử dụng
8
9
xuất phát từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105.000km
3
/năm. Lượng nước
con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km
3
, trong đó 8% cho sinh
hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp).
2.1.1.4. Tác nhân và thông số ô nhiễm môi trường nước
* pH:
pH là một trong những thông số quan trọng và được sử dụng thường
xuyên nhất trong hóa nước, dùng để đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn
nước, chất lượng nước thải, đánh giá độ cứng của nước, sự keo tụ, khả năng
ăn mòn…. Và trong nhiều tính toán về cân bằng axit bazơ
Giá trị pH chỉ ra mức độ axit (khi pH<7) hoặc kiềm (khi pH>7), thể

• Vận chuyển, chế biến khoáng sản gây ô nhiễm bụi, khí, nước và chất
thải rắn.
• Sử dụng khoáng sản gây ra ô nhiễm không khí (SO
2
, bụi, khí độc ), ô
nhiễm nước, chất thải rắn
2.1.2. Căn cứ pháp lý
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước
CHXHCNVN khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/07/2006.
- Luật Tài nguyên nước đã được Quốc hội nước CHXHXNVN thông
qua ngày 29/11/2005.
- Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 được Quốc hội nước
CHXHCNVN khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP sửa đổi bổ xung nghị định 80/2006/NĐ-
CP về việc quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của luật BVMT.
10
11
- Nghị quyết số 41 – NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về
BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước
- Quyết định số 35/2002/QĐ- BKHCN ngày 5/6/2000 của BKHCN về
việc ban hành tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (31 tiêu chuẩn)
- Quyết định số 34/2004/QĐ- BKHCN ngày 9/10/2004 về việc ban
hành tiêu chuẩn Việt Nam
- Quyết định số 22/2006/QĐ- BTNMT ngày 18/12/2006 của BTNMT
về việc bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam (5 tiêu chuẩn)
- Quyết định số 16/2008/QĐ- BTNMT ngày 31/12/2008 của BTNMT về
việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường
Một số TCVN, QCVN liên quan tới chất lượng nước
- TCVN 5992:1995 (ISO 5667-2: 1991) - Chất lượng nước- Lấy mẫu.

Bảng 2.1. Sản xuất than theo quốc gia (triệu tấn)
Quốc gia 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Tỷ lệ
Dự trữ
(năm)
China 1772 1772 1992,3 1992,3 2380 2380 42,5% 41
USA 41 5187,6 1026,5 1053,6 1040,2 1062,8 18% 224
EU 638 628,4 608 595,5 593,4 587,7 5,2% 51
India 638 628,4 428,4 447,3 478,4 521,7 5,8% 114
Australia 351,5 628,4 378,8 385,3 399 401,5 6,6% 190
Russia 276,7 281,7 298,5 309,2 314,2 326,5 4,6% 481
South
Africa
237,9 243,4 244,4 244,8 247,7 250,4 4,2% 121
Indonesi
a
114,3 132,4 146,9 195 217,4 229,5 4,2% 19
Gemany 209,4 207,8 202,8 197,2 201,9 192,4 3,2% 35
Poland 163,8 162,4 159,5 156,1 145,9 143,9 1,8% 52
Total 5187,6 5585,3 5886,7 6195,1 6421,2 6781,2 100% 142
Nguồn: HASC tổng hợp [6]
Điện là ngành tiêu thụ than lớn nhất hiện nay và sẽ còn duy trì trong
12
13
tương lai. Khoảng 39% lượng điện sản xuất ra trên thế giới là từ nguồn
nguyên liệu này.
Lượng tiêu thụ than cũng được dự báo sẽ tăng ở mức từ 0.9% đến 1.5%
từ nay cho đến năm 2030. Tiêu thụ về than cho nhu cầu trong các lò hơi sẽ
tăng khoảng 1.5%/năm trong khi than non, được sử dụng trong sản xuất điện,
tăng với mức 1%/năm. Cầu về than cốc, loại than được sử dụng trong công
nghiệp thép và kim loại được dự báo tăng với tốc độ 0.9%.

Colombia 50,4 56,4 59,2 68,3 74,5 81,5 7,5%
Trung
Quốc
103,4 95,5 93,1 85,6 75,4 68,8 6,3%
Nam Phi 78,7 79,4 78,8 75,8 72,6 68,2 6,3%
Canada 27,7 28,8 31,2 31,2 33,4 36,5 3,4%
Total 713,9 764 936 1000,6 1073,4 1087,3 100%
Bên cạnh những nước sản xuất được than họ đem đi để xuất khẩu thì
những quốc gia không sản xuất được than hay lượng sản xuất ra chưa đáp ứng
được nhu cầu của họ trong hiện tại và tương lai thì họ buộc phải đi nhập khẩu
để cân đối nguồn cung cho các hoạt động trong nước của mình.
14
15
Đất nước nhập khẩu lớn nhất là Nhật – quốc gia không sản xuất được
than mà nhu cầu lại rất lớn. Tiếp theo đó là Triều Tiên với 107.1 triệu tấn
được nhập khẩu năm 2008. (Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà Thành, 2010)
[6].
15
16
Bảng 2.3. Nhập khẩu than theo Quốc gia và năm (triệu tấn)
Quốc gia 2006 2007 2008 Tỷ lệ
Nhật 199,7 208 206 19,4%
Nam Tiều Tiên 84,1 94,1 107,1 10,1%
Ấn Độ 52,7 29,6 70,9 6,7%
Đài Loan 69,1 72,5 70,9 6,7%
Đức 50,6 56,2 55,7 5,2%
Tổng 991,8 1056,5 1063,2 100%
2.2.1.2. Ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác than trên thế giới
Hiện nay, khai thác than trên thế giới đang áp dụng hai loại hình công
nghệ khai thác chủ yếu đó là công nghệ khai thác hầm lò và khai thác lộ thiên.

tuỳ thuộc vào các điều kiện, yếu tố cụ thể như: công nghệ khai thác (đi kèm là
các yếu tố đặc trưng về chất thải, sự cố môi trường …), các điều kiện về địa
lý, địa chất và các điều kiện tự nhiên khác.
Hoạt động khai thác than đem lại hiệu quả về mặt kinh tế rất lớn nhưng
bên cạnh đó khai thác than cũng đã và đang gây ra những tác động không nhỏ
đến chất lượng môi trường tại các khu mỏ khai thác và khu vực dân cư vùng mỏ.
Ô nhiễm môi trường tại khu vực mỏ khai thác than đang là vấn đề lớn
cho các nhà chức trách ở nhiều quốc gia đang khai thác và sử dụng loại tài
nguyên nhiên liệu này. Tại Hoa kỳ, khai thác than là một trong những nguyên
nhân hàng đầu gây ra ô nhiễm môi trường. Theo số liệu thống kê cho thấy,
hoạt động khai thác than tại nước này hàng năm thải hồi khoảng 60% lượng
khí SO
2
, 33% lượng Hg, 25% lượng khí NO
x
và 33% thán khí trên tổng số ô
nhiễm không khí toàn quốc (Mai Thanh Tuyết, 2004)[9]. Vậy, chúng ta thấy
dù có những thuận lợi rất lớn về kĩ thuật cũng như công nghệ trong khai thác
17
18
nhưng ngành than Hoa Kỳ vẫn phải gánh chịu những hậu quả xấu do hoạt
động khai thác than để lại đó là vấn nạn ô nhiễm môi trường
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.2.1. Hoạt động khai thác than ở Việt Nam
a. Điểm qua tài nguyên than Việt Nam
Tài nguyên than Việt Nam phân bố khắp cả nước gồm có 5 loại than
chính như: than antraxit, than mỡ, than bùn, than ngọn lửa dài và than nâu
(Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006)[3].
* Than antraxit (than đá)
Trữ lượng than đá được đánh giá là 3,5 tỷ tấn trong đó ở vùng Quảng

xét vào sau năm 2020. Khai thác tối đa hợp lý cũng chỉ nên là 15 tr.T/n ở giai
đoạn 2010-2015. (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006)[3].
-Than antraxit ở các vùng khác. Có nhiều trữ lượng than đá antraxit khác
nằm rải rác ở các tỉnh: Hải Dương, Bắc Giang, Thái Nguyên, Sơn La, Quảng
Nam, với trữ lượng từ vài trăm nghìn tấn đến vài chục triệu tấn. ở các nơi này, quy
mô khai thác thường từ vài nghìn tấn đến 100-200 ngh.T/n. Tổng sản lượng hiện
nay không quá 200 ngh.T/n. (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006)[3].
* Than mỡ
Trữ lượng tiềm năng được đánh giá sơ bộ là 27 triệu tấn, trong đó trữ
lượng địa chất là 17,6 triệu tấn, chủ yếu tập trung ở 2 mỏ Làng Cẩm (Thái
Nguyên) và mỏ Khe Bố (Nghệ An). Ngoài ra, than mỡ còn có ở các tỉnh: Sơn
La, Lai Châu, Hoà Bình song với trữ lượng nhỏ. Than mỡ được dùng chủ yếu
cho ngành luyện kim với nhu cầu rất lớn sau năm 2000, nhưng trữ lượng than
mỡ ở ta lại rất ít, điều kiện khai thác rất khó khăn. Sản lượng than mỡ khó có
khả năng cao hơn 0,2-0,3 tr.T/n, trong khi nhu cầu sẽ tăng đến 5-6 tr.T/n vào
giai đoạn 2010-2020. (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006)[3].
19
20
* Than bùn
Than bùn ở Việt Nam nằm rải rác từ Bắc đến Nam, nhưng chủ yếu tập
trung ở đồng bằng sông Cửu Long (với hai mỏ than lớn là U-Minh-Thượng và
U-Minh-Hạ). Cụ thể: - Đồng bằng Bắc Bộ: 1.650 tr.m3
- Ven biển Miền Trung: 490tr.m3
- Đồng bằng Nam Bộ: 5.000tr.m3 Trước đây vùng đồng bằng Nam Bộ
được đánh giá có trữ lượng là 1 tỷ tấn và còn cao hơn nữa. Nhưng nạn cháy
rừng đã phá huỷ làm mất rất nhiều trữ lượng than. Từ trước tới nay than bùn
được khai thác chủ yếu dùng làm chất đốt sinh hoạt (pha trộn với than antraxit
của Quảng Ninh) và làm phân bón ruộng với quy mô nhỏ, khai thác thủ công
là chính, sản lượng khai thác hiện nay được đánh giá là chưa đến 10 vạn T/n.
Khai thác than bùn làm chất đốt hay làm phân bón đều không có hiệu quả cao,

và Đầu tư, 2006)[3].
Như vậy, tài nguyên than Việt Nam rất đa dạng, phong phú và có trữ
lượng lớn trong đó trữ lượng than có khả năng khai thác cao đặc biệt là vùng
bể than Quảng Ninh.
b. Sản lượng khai thác than trong những năm gần đây ở Việt Nam
Theo thống kê năm 2010 của BP Năng lượng khảo sát, kết thúc 2009
Việt Nam có lượng dự trữ than đá là 150 triệu tấn, đưa vào sản xuất được 45
triệu tấn chiếm 0.73% của tổng số thế giới. (Công ty Cổ phần Chứng khoán
Hà Thành, 2010)[6].
Từ những năm trước Việt Nam chủ yếu sản xuất than để xuất khẩu, tuy
nhiên đến năm 2010 kế hoạch này đã thay đổi, hạn chế xuất khẩu để đáp ứng
nhu cầu than trong nước. Theo số HASC thống kê được, sản lượng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2003-2009 như sau:
21
22

Nguồn: HASC tổng hợp[6]
Hình 2.2. Sản lượng và xuất khẩu than tại Việt Nam (2003-2009)
Từ biểu đồ trên cho thấy lượng than sản suất ra trong 3 năm trở lại đây khá
đều không có nhiều sự đột biến, nhưng lượng than xuất khẩu gần bằng 50% lượng
sản xuất được là một thực trạng đáng lo ngại cho ngành than Việt Nam.
Ngành than trong năm 2009 sản xuất khoảng 43 triệu tấn than (tăng
9,8% so với năm 2008), trong đó xuất khẩu chiếm hơn một nửa (25,2 triệu
tấn, tăng 28%). Mặc dù khối lượng xuất khẩu tăng đáng kể, giá trị xuất khẩu
lại giảm 7%. Trung Quốc vẫn là đối tác nhập khẩu than lớn nhất, chiếm đến
81% tổng khối lượng than và 70% tổng giá trị than xuất khẩu của Việt Nam.
Cũng trong thời gian thống kê này, sản lượng tiêu thụ than của Việt
Nam tăng 119.89%. Đặc biệt, nhu cầu tiêu thụ than của Việt Nam được dự
đoán tăng trong những năm tiếp theo.
Như vậy, sản lượng khai thác than ở nước ta đang tăng rất nhanh, cung

Sáu, Cửa Ông , Mông Dương nhiều năm nay phải sống trong bụi than. Đặc biệt
tuyến đường “bão táp” (Mạo Khê – Bến Cân, Vàng Danh ra cảng Điền Công,
khu vực cảng 6, khu vực cầu 4 phường Cẩm Sơn và từ Cửa Ông đến Mông
Dương…) bụi than đã quá đến mức báo động (Bộ tài nguyên và Môi trường,
2006) [4].
Qua kết quả quan trắc môi trường trên khu vực mỏ khai thác, nồng độ
bụi tại các mỏ được quan trắc đều vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) nhiều lần
23
24
(như khu vực mỏ Mông Dương, Hà Trung, Hồng Hà, Vàng Danh và Khe
Ngát). Nước thải của công ty than Hà Lầm (Quảng Ninh) có hàm lượng BOD
(nhu cầu ôxi hoá sinh học) và COD (nhu cầu ôxi hoá hoá học) vượt TCCP
nhiều lần (từ 3,9-5,7 lần); hàm lượng Sunfua, TSS của công ty than Mông
Dương (Quảng Ninh) cao gấp đôi mức TCCP; hàm lượng TSS trong nước
thải của công ty than Dương Huy (Quảng Ninh) còn vượt đến 15,6 lần TCCP
(Báo điện tử Quảng Ninh, 2007) [1].
Ngoài ra, khi quan trắc các thông số môi trường (đất, nước và không
khí) tại nhiều cty khai thác than khác thì các thông số được quan trắc đều
không đạt TCCP.
Bên cạnh đó, hoạt động khai thác than có những ảnh hưởng rất lớn đến
khả năng canh tác nông nghiệp tại các khu vực gần khu mỏ khai thác. Ô
nhiễm môi trường tại Đông Triều (Quảng Ninh) do khai thác than đã làm suy
giảm nghiêm trọng chất lượng đất canh tác nông nghiệp, ảnh hưởng đến năng
suất cây trồng. Ước tính thiệt hại do ô nhiễm môi trường tại đây làm suy giảm
20% năng suất lúa toàn huyện (Báo điện tử Quảng Ninh, 2007)[1].
Có thể nói, việc tăng sản lượng khai thác than trong những năm qua đã
và đang kéo theo nhiều những tác động xấu cho môi trường, ảnh hưởng không
nhỏ đến HST tại khu vực khai thác và hoạt động sống của người dân quanh
vùng. Trong khi đó thì chính sách đầu tư cho các giải pháp bảo vệ môi trường,
chống ô nhiễm lại chưa tương sứng với sản lượng khai thác hàng năm.

than đều bị ô nhiễm mangan, vượt quá qui chuẩn cho phép.
Theo số liệu phân tích tại một số điểm giếng nước tại 3 tỉnh còn cho
thấy, các giếng nước tại các điểm khu dân cư, khu mỏ than, có dấu hiệu ô
nhiễm amoni và coliform ở mức độ nhỏ, có xu hướng giảm.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status