Vận Tải Bảo Hiểm Ngoại Thương
MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
1. Thế nào là Logistic? 3
2. Thực trạng ngành Logistic Việt Nam 3
2.1. Số lượng các doanh nghiệp Logistic 3
2.2. Quy mô các doanh nghiệp Logistic 3
2.3. Cơ sở hạ tầng ngành 4
2.4. Nguồn nhân lực ngành 4
2.5. Một số điểm nổi bật năm 2009 5
3. Nguyên nhân sâu xa của thực trạng trên 5
4. Định hướng phát triển cho ngành Logistic Việt Nam 7
Lời kết 9
Tài liệu tham khảo 10
1
Vận Tải Bảo Hiểm Ngoại Thương
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay Logistic ở Việt Nam đang đóng một vai trò quan trọng trong việc
vận chuyển hàng hóa và giao thương trong nước và quốc tế, trong tương tai đây
sẽ là ngành mang lại nguồn lợi khổng lồ. Tuy nhiên có đặt bối cảnh ngành
Logistics Việt Nam trong bối cảnh ngành Logistics quốc tế thì mới biết mình
đang ở đâu và như thế nào. Logistic Việt Nam đang phát triển mạnh nhưng so
với sự phát triển Logistic trên thế giới thì đó chỉ chiếm một phần nhỏ và vẫn còn
nhiều hạn chế. Trong bài viết này chỉ ra những điểm khó khăn, hạn chế đồng
thời đưa ra một số giải pháp có thể giúp ngành Logistic Việt Nam phát triển tốt
hơn.
2
Vận Tải Bảo Hiểm Ngoại Thương
1. Thế nào là Logistic?
Hiểu một cách đơn giản Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây
chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh
Thực tế hiện nay, năng lực của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics
của chúng ta theo đánh giá của chính những người trong cuộc là manh mún, quy
mô nhỏ bé, cơ sở hạ tầng kho bãi, thiết bị, phương tiện yếu kém, nhân lực không
đủ chuyên môn…. Thay vì liên kết, hợp tác thì các doanh nghiệp Việt Nam lại
3
Vận Tải Bảo Hiểm Ngoại Thương
cạnh tranh không lành mạnh, làm ăn chụp giựt, phá giá… trong khi chất lượng
chưa cao thì lại tự làm yếu nhau và làm yếu chính mình.
2.3. Cơ sở hạ tầng ngành
Hiện nay hạ tầng cơ sở logistics tại VN nói chung còn nghèo nàn, qui mô
nhỏ, bố trí bất hợp lý. Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông của VN bao gồm trên
17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266
cảng biển và 20 sân bay. Tuy nhiên chất lượng của hệ thống này là không đồng
đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặt kỹ thuật. Hiện tại, chỉ có khoảng 20
cảng biển có thể tham gia việc vận tải hàng hoá quốc tế, các cảng đang trong quá
trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa dược
trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều
hành xếp dỡ container.
Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng (máy
bay) cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm. Chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là
đón được các máy bay chở hàng quốc tế. Các sân bay quốc tế như TSN, Nội
Bài, Đà nẳng vẫn chưa có nhà ga hàng hóa, khu vực họat động cho đại lý
logistics thực hiện gom hàng và khai quan như các nước trong khu vực đang
làm. Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp, dường không dược thiết
kế để vận chuyển container, các đội xe tải chuyên dùng hiện đang cũ kỹ, năng
lực vận tải đường sắt không đựơc vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, lượng hàng hoá vận chuyển đường sắt
chiếm khoảng 15% tổng lượng hàng hoá lưu thông. Tuy nhiên, đường sắt VN
vẫn đang đồng thời sử dụng 2 loại khổ ray khác nhau (1.000 và 1.435 mm) với
tải trọng thấp. Chuyến tàu nhanh nhất chạy tuyến Hà Nội - TP Hồ Chí Minh
đang được triển khai đầu tư, một số đã đi vào hoạt động giai đoạn đầu. Có thể
dẫn ra một vài ví dụ. Ngày 17/3/2009, liên doanh Schenker Việt Nam và
Gemadept đã đưa vào hoạt động Trung tâm Logistics SGL tại KCN Sóng Thần
(Bình Dương). Đây là trung tâm kho vận phục vụ chính cho các ngành có sản
phẩm công nghệ cao, điện tử, hàng công nghiệp, hóa phẩm, may mặc và tiêu
dùng. Ngày 1/10/2009, Cty SX - XNK Bình Dương (Protrade) và Tập đoàn
Logistics YCH - Singapore, cũng đã ký kết liên doanh thành lập Trung tâm
Logistics YCH – Protrade; dự kiến đi vào hoạt động trong quý 1/2010 sắp tới.
• Việc rút ngắn cự ly các đường bay của ngành Hàng không Việt Nam
trong năm 2009, cũng được ghi nhận là rất tích cực, góp phần đáng kể nhằm tiết
kiệm thời gian, tiết giảm chi phí cho khách hàng.
3. Nguyên nhân sâu xa của thực trạng trên
Các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là các doanh nghiệp sinh sau đẻ
muộn so với rất nhiều công ty nước ngoài vốn có lịch sử phát triển kinh doanh
từ rất lâu đời như Schenker Logistics, Maersk Logistics…
Tầm bao phủ hoạt động của các công ty Việt Nam chỉ trong phạm vi nội
địa hoặc một vài nước trong khu vực, trong khi tầm bao phủ của các công ty
nước ngoài là toàn cầu. Đây là một cản trở rất lớn khi các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ trọn gói cho khách hàng vì ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, các
công ty lớn thường có xu hướng sourcing (khai thác nguồn hàng và dịch vụ) từ
nhiều quốc gia và lãnh thổ trên thế giới như NIKE, ADIDAS, NOKIA… Chúng
ta có thể tính đến vai trò của các đại lý mà các công ty Việt Nam thiết lập ở các
quốc gia khác, nhưng quan hệ này rất lỏng lẻo, không đồng nhất.
Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chỉ tập trung khai thác vào các
mảng nhỏ trong toàn bộ chuỗi cung ứng mà chúng ta thấy phổ biến là hình thức
giao nhận vận tải (Freight Forwarding). Đây là hình thức khá đơn giản, các công
ty giao nhận đóng vai trò là người buôn cước sỉ sau đó bán lại cho người mua lẻ.
Thông qua các hãng vận tải biển, cũng như hàng không. Hàng sau khi được gom
5
Vận Tải Bảo Hiểm Ngoại Thương
website thì phần lớn website của Việt Nam chỉ đơn thuần giới thiệu về mình, về
dịch vụ của mình mà thiếu hẳn các tiện ích mà khách hàng cần như công cụ
Track&Trace (theo dõi đơn hàng, theo dõi lịch trình tàu), booking, theo dõi
chứng từ.
Cho đến nay, tình liên kết của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất
yếu, các công ty hầu như hoạt động độc lập.
Vấn đề thương hiệu: hiện tại VIệt Nam vẫn chưa có được thượng hiệu
mạnh tầm cỡ khu vực chứ chưa nói gì đến tầm cỡ thế giới.
Nhân lực: chúng ta đang thiếu một đội ngũ chuyên viên trong ngành
Logistic chuyên nghiệp và được đào tạo bài bản. Bản thân các trường đại học
lớn cũng chưa hề có khoa dạy về nghề này.
6
Vận Tải Bảo Hiểm Ngoại Thương
Hiện nay giá cả trong nước liên tục tăng cao, đặc biệt giá xăng dầu khiến
cho giá cước của các hãng vận tải tăng theo làm giảm sự cạnh tranh về giá so
với các công ty nước ngoài.
4. Định hướng phát triển cho ngành Logistic Việt Nam
Dựa trên các nguyên nhân rút ra từ thực trạng phát triển chậm và yếu kém
của Logistic Việt Nam, em xin được đưa ra một vài định hướng để ngành
Logistic Việt Nam phát triển tốt hơn và để thực hiện được điều đó cần có sự
phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước và các cơ quan, tổ chức chuyên ngành, các hiệp
hội vận tải ở Việt Nam cũng như sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước và các địa
phương.
Thứ nhất, xây dựng và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng giao thông nói chung,
hệ thống cầu cảng, bến bãi nói riêng cho cả ngành hàng không, hàng hải và
đường sắt. Việc này không khó, nếu Việt Nam không đủ trình độ để xây dựng
các cảng nước sâu và hiện đại thì có thể thực hiện theo cách liên doanh với công
ty nước ngoài hoặc đấu thầu trực tiếp, mời gọi các nhà thầu nước ngoài. Một khi
đã xây dựng được hệ thống cảng biển hiện đại thì rất có thể Việt Nam sẽ là một
trạm trung chuyển lớn của thế giới. Bên cạnh đó đối với ngành đường sắt ta
khác, có như thế nhu cầu về Logistic sẽ tăng và các công ty Logistic có thêm
nhiều cơ hội phát triển.
8
Vận Tải Bảo Hiểm Ngoại Thương
KẾT LUẬN
Những năm gần đây, Logistics bắt đầu thu hút sự chú ý của các cấp quản lý
Nhà nước cũng như các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho
vận trong và ngoài nước, chính vì thế tất yếu sẽ làm cho ngành này trở nên sôi
động hơn và cạnh tranh gay gắt hơn. Các công ty Logistic Việt Nam tuy còn nhỏ
và thua kém các công ty Logistic nước ngoài về nhiều mặt nhưng vẫn có thể
cạnh tranh được nếu có một chiến lược đúng đắn. Thị trường Logistic Việt Nam
còn rất lớn và đầy tiềm năng, do đó cơ hội vẫn còn nhiều cho các công ty nội
địa. Với các giải pháp được đưa ra sẽ tạo được hướng phát triển tốt cho các công
ty Logistic Việt Nam, giúp các công ty nâng cao được lợi thế cạnh tranh và
ngành Logistic nước ta ngày càng lớn mạnh./.
9
Vận Tải Bảo Hiểm Ngoại Thương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-PhD Triệu Hồng Cẩm, 2006, Vận Tải Quốc Tế, nxb Văn Hóa Sài Gòn.
-PGS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân, 2003, Logistic Những Vấn Đề Cơ Bản, nxb
Thống Kê.
-PGS.TS. Đoàn Thị Hồng Vân, 2006, Quản Trị Logistic, xnb Thống Kê.
www.saga.vn
www.agro.gov.vn
www.quantrihaucan.blogspot.com
www.vlr.vn
10