Đề án nghiên cứu đầu tư quốc tế và các giải pháp - Pdf 13

Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
MỞ ĐẦU
Đầu tư ra nước ngoài là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế chung
của các quốc gia trên khắp thế giới, Việt Nam ta cũng không nằm ngoài xu thế
này. Các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu mang vốn đi đầu tư ra nước ngoài từ
những năm 1987, và đến nay xem như đã hơn 20 năm “ta mang quân đi đánh xứ
người”. Tuy nhiên, khi nhìn trên danh sách xếp hạng của thế giới về FDI ra nước
ngoài, thì cái tên nước Việt Nam đứng ở thứ hạng 76 vào năm 2007 và thứ 82
vào năm 2008. Điều này nói lên rằng Việt Nam ta đang bị tụt hạng về xếp hạng
đầu tư ra nước ngoài. Trong khi Trung Quốc - quốc gia láng giếng với nước ta thì
lại tăng hạng từ 17 năm 2007 lên hạng thứ 12 năm 2008. Phải chăng việc đầu tư
ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa phát huy hiệu quả ?
Chúng ta còn gặp phải những khó khăn và vướng mắc gì khi đầu tư ra nước
ngoài ?
Để giải đáp những thắc mắc trên, đề tài về “Thực trạng đầu tư ra nước
ngoài của Việt Nam và những giải pháp”, với mong muốn tìm hiểu cặn kẽ hơn về
những gì đạt được và chưa đạt được trong việc đầu tư ra nước ngoài của các
doanh nghiệp Việt Nam, từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp
cho doanh nghiệp và các cơ quan ban ngành liên quan.
Mặc dù đầu tư ra nước ngoài đã được hơn 20 năm, nhưng việc đầu tư của
các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn hạn chế. Và thông tin, số liệu vẫn chưa được
thống kê và công bố đầy đủ, thống nhất. Do vậy, chúng em chỉ chuyên sâu phân
tích về thực trạng đầu tư ra nước ngoài ở ba khía cạnh: đầu tư ra nước ngoài theo
năm, theo ngành, và theo đối tác.
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 1
Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
CHƯƠNG I : NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI
1.1.Khái niệm FDI

sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn
được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng
vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau về
FDI: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước
(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư)
cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI
với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài
sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những
trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản
được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" “.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực
tiếp nước ngoài như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là
việc nhà đầu tư ở một nươc khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào
quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực
thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của mình”.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu
hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bát động sản, các loại hợp đòng và
giáy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinh
nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi
nợ…). Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước
ngoài. Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tư bản trong phạm vi
quốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử
dụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư.
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 3
Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
1.2.Các hình thức FDI phổ biến và đặc trưng cơ bản của chúng
1.2.1. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh với nươc ngoài gọi tắt là liên doanh là hình thức

nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đtư, định giá tài sản
góp vốn giải quyết việc làm cho người lao động của đối tác trong nước; không
chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, dễ bị mất cơ hội kinh doanh khó
giải quyết khác biệt vè tập quán, văn hoá.
1.2.2. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài nhưng ít phổ biến hơn hình thức liên doanh trong hoạt
động đầu tư quốc tế.
Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh
có tư cách pháp nhân, được thành lập dựa trên các mục đích của chủ đầu tư và
nước sở tại.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành quản lý
của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện về môi
trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các đk về chính trị, kt luạt háp văn hoá
mức độ cạnh tranh…
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là 1 thự thể
pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại. Thành lập dưới dạng công
ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Đối với nước tiếp nhận
-Ưu điểm: nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù DN bị lỗ; giải
quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư; tập trung thu hút vốn
và công nghệ của nước ngoài vào những linh vực khuyến khích xuất khảu; tiếp
cận được thị trường nước ngoài.
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 5
Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
-Nhược điểm: khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài đê
nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật ở các doanh nghiệp trong nước.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài
-Ưu điểm: chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp thực hiện được chiến

sinh lời.
Đối với nước đầu tư
-Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của dối tác nước sở tại vào
được những linh vực hạn chế đầu tư thâm nhập được nhưng thị trường truyền
thống của nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị
trường mới và xây dựng các mối quan hệ; không bị tác động lớn do khác biệt về
văn hoá; chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.
-Nhược điểm: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ hợp tác với
đối tác nước sở tại thiếu tính chắc chắn làm các nhà đầu tư e ngại.
1.2.4. Đầu tư theo hợp đồng BOT
BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) là một thuật ngữ để chỉ một số
mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhan để thực hiện xây dựng cơ sở hạ
tầng vẫn được dành riêng cho khu vực nhà nước. Trong một dự án xây dựng
BOT, một doanh nhân tư nhân được đặc quyền xây dựng và vận hành một công
trình mà thường do chính phủ thực hiện. Công trình này có thể là nhà máy điện,
sân bay, cầu, cầu đường… Vào cuối giai đoạn vận hành doanh nghiệp tư nhân sẽ
chuyển quyền sở hữu dự án về cho chính phủ. Ngoài hợp đồng BOT còn có
BTO, BT.
Hợp đồng BOT là văn bản kí kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với cơ
quan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ
tầng (kể cả mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh trong một
thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển giao
không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 7
Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh BTO và hợp đồng xây dựng
chuyển giao BT, được hình thành tương tự như hợp đồng BOT nhưng có điểm
khác là: đối với hợp đồng BTO sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tư
nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chinh phủ nước chủ nhà

-Nhược điểm: việc đàm phán và thực thi hợp đồng BOT thương gặp nhiều khó
khăn tốn kém nhiều thời gian và công sức.
1.2.5. Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company)
Holding company là một trong những mô hình tổ chức quản lí được thừa
nhận rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở
mức đủ để kiểm soát hoạt động quản lí và điều hành công ty đó thông qua việc
gây ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hợp đồng quản trị.
Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới
hạn hoạt động của mình trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và giám sát
hoạt động quản lí của các công ty con, các công ty con vẫn duy trì quyền kiểm
soát hoạt động kinh doanh của mình một cách độc lập, tạo rất nhiều thuận lợi:
-Cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều dự án đầu tư
khác nhau mà còn tạo điểu kiện thuận lợi cho họ điều phối hoạt động và hỗ trợ
các công ty trực thuộc trong việc tiêps thị, tiệu thụ hàng hoá, điều tiết chi phí thu
nhập và các nghiệp vụ tài chính.
-Quản lí các khoản vốn góp của mình trong công ty khác như một thể
thống nhất và chịu trách nhiệm về vịec ra quyết định và lập kế hoạch chiến lược
điều phối các hoạt động và tài chính của cả nhóm công ty.
-Lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát các luồng lưu chuyển vốn trong danh
mục đầu tư. Holding company có thể thực hiện cả hoạt động tài trợ đầu tư cho
các công ty con và cung cấp dịch vụ tài chính nội bộ cho các công ty này.
-Cung cấp cho các công ty con các dịch vụ như kiểm toán nội bộ, quan hệ
đối ngoại, phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển (R&D)…
1.2.6. Hình thức công ty cổ phần
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 9
Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
Công ty cổ phần (công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn)là doanh nghiệp
trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần các cổ

Việc thành lập chi nhánh thường đơn giản hơn so với việc thành lập công
ty con. Do không thành lập 1 pháp nhân độc lập, việc thành lập chi nhánh không
phải tuân thủ theo các quy định về thành lập công ty, thường chỉ thông qua việc
đăng kí tại các cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà.
1.2.8. Hình thức công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp danh,
ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp
danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp và phải chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty; thành viên
góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn
đã góp vào công ty. Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng
khoán nào. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn
đề quản lý công ty, còn thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ
lệ quy định tại điều lệ công ty nhưng không được tham gia quản lý công ty và
hoạt động kinh doanh nhân danh công ty.
Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
hình thức đầu tư này mang đặc trưng của công ty đối nhân tiền về thân nhân
trách nhiệm vô hạn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ. Hình thức đầu tư này trước hết rất
phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm rõ rệt nên cũng
được các doanh nghiệp lớn quan tâm.
Việc cho ra đời hình thức cty hợp danh ở các nước nhằm tạo thêm cơ hội
cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư cho phù hợp với yều cầu, lợi ích của
họ. Thực tế cho thấy một số loại hình dịch vụ như tư vấn pháp luật, khám chữa
bệnh, thiết kế kiến trúc đã và đang phát triển nhanh chóng. Đó là những dịch vụ
mà người tiêu dùng không thể kiểm tra được chất lượng cung ứng trước khi sử
dụng, nhưng lại có ảnh hưởng đến sức khởe tính mạng và tài sản của người tiêu
dùng khi sử dụng. Việc thành lập công ty hợp danh là hình thức thức đầu tư phù
hợp trong việc phát triển và cung cấp các dịch vụ nêu trên. Trong đó những
người có vốn đóng vai trò là thành viên góp vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn còn
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 11

pháp
-MA theo chiều dọc diễn ra khi 2 cty hoạt động ở 2 lĩnh vự khác nhau
nhưng cùng chịu sự chi phối của 1 cty mẹ, laọi hình MA này thwongf xảy ra ở
các cty xuyên quốc gia
-MA theo hướng đa dạng hoá hay kết hợp thường xảy ra khi các ty lớn
tiến hành sáp nhập với nhau với mục tiêu tối thiểu hoá rủi ro và tránh thiệt hại
khi 1 cty tự thâm nhập thị trường.
So với đầu tư truyền thống, từ quan điểm của nước tiếp nhận đầu tư:
-Về bổ sung vốn đầu tư trong khi hình thức đầu tư truyền thống bổ ngày
một lượng vốn FDI nhất định cho đầu tư phát triển thì hình thức MA chủ yếu
chuyển sở hữu từ các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước chủ nhà cho các công ty
nước ngoài. Tuy nhiên, về dài hạn, hình thức này cũng thu hút mạnh được nguồn
vốn từ bên ngoài cho nước chủ nhà nhờ mở rộng quy mô hoạt độn của doanh
nghiệp.
-Về tạo việc làm, hình thức đầu tư truyền thống tạo ngay được việc làm
cho nước chủ nhà, trong khi hình thức M&A không những không tạo được việc
làm ngay mà còn có thể làm tang thêm tình trạng căng thẳng về việc làm (tăng
thất nghiệp) cho nước chủ nhà. Tuy nhiên về lâu dài, tình trạng này có thể được
cải thiện khi các doanh nghiệp mở rông quy mô sản xuất.
-Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đầu tư truyền thống tác động trực
tiếp dến thay dổi cơ cấu knh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới
trong khi đó M&A không có tác động trong giai đoạn ngắn hạn
-Về cạnh tranh và an ninh quốc gia, trong khi đầu tư truyền thống thúc
đẩy cạnh tranh thì M&A không tác động đáng kể đến tình trạng cạnh tranh về
mặt ngắn hạn nhưng về dài hạn có thể làm tăng canh tranh độc quyền. Mặt khác,
M&A có thể ảnh hưởng đến an ninh của nước chủ nhà nhiều hơn hình thức đư
truyền thống vởi vì tài sản của nước chủ nhà được chuyển cho người nước ngoài.
1.3.Bản chất và vai trò của FDI
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 13
Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải

Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
Thứ ba, giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động, vì khi đầu tư
sang nước khác, thì nước đó phải cần có những người hướng dẫn, hay còn gọi là
các chuyên gia trong lĩnh vực này. Đồng thời tránh được việc phải khai thác các
nguồn lực trong nước, như tài nguyên thiên nhiên hay ô nhiễm môi trường.
Thứ tư, đó là vấn đề chính trị, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lợi dụng
những kẻ hở của pháp luật, sự yếu kém về quản lý hay sự ưu đãi của Chính phủ
nước sở tại sẽ có những mục đích khác như làm gián điệp.
 Đứng trên góc độ doanh nghiệp
Mục đích của doanh nghiệp cũng như mục đích của một quốc gia thường
là lợi nhuận, lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Một khi trong nước hay các thị
trường quen thuộc bị tràn ngập những sản phẩm của họ và sản phẩm cùng loại
của đối thủ cạnh tranh thì họ phải đầu tư ra nước khác để tiêu thụ số sản phẩm
đó. Trong khi đầu tư ra nước ngoài, họ chắc chắn sẽ tìm thấy ở nước sở tại những
lợi thế so sánh so với thị trường cũ như lao động rẻ hay tài nguyên chưa bị khai
thác nhiều.
Một nguyên nhân nữa là họ có thể bán được những máy móc và công
nghệ cũ kỹ lạc hậu hay bị hao mòn vô hình do thời gian với giá cao nhưng lại là
mới đối với nước nhận đầu tư (khi nước đầu tư là nước đang phát triển).
Thêm vào đó, là sản phẩm của họ được bán tại thị trường này sẽ ngày
càng tăng uy tín và tiếng tăm cho nó và làm tăng sức cạnh tranh đối với các đối
thủ có sản phẩm cùng loại.
1.3.2.2.Đối với nước nhận đầu tư
 Thuận lợi
a. Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý (chuyển giao nguồn lực):
Đối với một nước lạc hậu, trình độ sản xuất kém, năng lực sản xuất chưa được
phát huy kèm với cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn thì việc tiếp thu được một
nguồn vốn lớn, công nghệ phù hợp để tăng năng suất và cải tiến chất lượng sản
phẩm, trình độ quản lý chặt chẽ là một điều hết sức cần thiết.

đó sức đóng góp của các ngành này vào GDP cũng đã tăng lên.
Việc có được những công ty có hiệu quả với khả năng cạnh tranh trên thị
trường thế giới có thể đưa lại một sự khai thông quan trọng, tiềm tàng cho việc
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 16
Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
chuyển giao các kỹ năng quản lý và công nghệ cho các nước chủ nhà. Điều này
có thể xảy ra ở bên trong một ngành công nghiệp riêng rẽ, trong đó có những
người cung ứng các đầu vào cho các chi nhánh nước ngoài, những người tiêu
dùng trong nước đối với các sản phẩm của chi nhánh này và những đối thủ cạnh
tranh của chúng, tất cả đều muốn lựa chọn những phương pháp kỹ thuật có hiệu
quả hơn. Nó cũng có thể diễn ra một cách rộng rãi hơn trong nội bộ nền kinh tế
thông qua sự tăng cường có kết quả công tác đào tạo và kinh nghiệm của lực
lượng lao động và thông qua sự khuyến khích có thể có đối với các ngành hỗ trợ
tài chính và kỹ thuật có khả năng dẫn tới sự hạ thấp toàn bộ chi phí công nghiệp.
d. Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước: Do có các nhà đầu tư
nước ngoài nhảy vào các thị trường vốn có các nhà đầu tư trong nước chiếm giữ
phần lớn thị phần, nhưng ưu thế này sẽ không kéo dài đối với nhà đầu tư trong
nước khi ưu thế về nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài trội hơn hẳn. Chính vì
vậy các nhà đầu tư trong nước phải đổi mới cả quá trình sản xuất của mình từ
trước từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ bằng việc cải tiến công nghệ và phương
pháp quản lý để có thể trụ vững trên thị trường đó. Đó chính là một trong những
thử thách tất yếu của nền kinh tế thị trường đối với các nhà sản xuất trong nước,
không có kẻ yếu nào có thể tồn tại nếu không tự nó làm mình mạnh lên để sống
trong cơ chế đó.
e. Tiếp cận với thị trường nước ngoài: Nếu như trước đây khi chưa có FDI,
các doanh nghiệp trong nước chỉ biết đến có thị trường trong nước, nhưng khi có
FDI thì họ được làm quen với các đối tác kinh tế mới không phải trong nước. Họ
chắc chắn sẽ nhận thấy rất nhiều nơi cần cái họ đang có, và họ cũng đang cần thì
ở nơi đối tác lại có, do vậy cần phải tăng cường hợp tác sẽ có nhiều sản phẩm

cho rằng các công ty có sự kiểm soát nước ngoài có thể sử dụng các kỹ thuật sản
xuất sử dụng nhiều tư bản là chủ yếu (mà chúng sẵn có, nhưng không thích hợp)
dẫn tới sự chuyển giao công nghệ không đầy đủ ở mức chi phí quá cao (để duy trì
ưu thế công nghệ), định ra những giá cả chuyển nhượng giao cao một cách giả
tạo (để bòn rút lợi nhuận quá mức), gây ra sự căng thẳng cho cán cân thanh toán
(bởi vì với tư cách là một bộ phận của các chi nhánh sản xuất đa quốc gia, các
doanh nghiệp đó có thể có ít khả năng hơn so với các công ty thuộc quyền kiểm
soát trong nước trong việc mở rộng xuất khẩu, và có thể phải lệ thuộc nhiều vào
hàng nhập khẩu). Bản chất thông tin của công nghệ được chuyển giao, cho nên
nó được chuyển giao trong một thị trường không hoàn hảo cao độ mà trong đó
thường khó có thể cố định giá cả một cách chính xác. Các nước đang phát triển
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 18
Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
thường xuyên ở vào vị trí thương lượng yếu hơn trong các thị trường này, đặc
biệt là khi họ thiếu lực lượng cán bộ chuyên môn để có thể giúp xác định mức
đóng góp thích hợp của hoạt động chuyển giao công nghệ cần thiết.
c. Thâm hụt cán cân thanh toán. Mặc dù việc tiếp nhận nguồn vốn FDI tạo
ra một sự thặng dư lớn về cán cân tài khoản vốn cho nước tiếp nhận đầu tư
nhưng về lâu dài việc chuyển các khoản lợi nhuận thu được về nước chủ đầu tư
sẽ tạo ra một sự thâm hụt lớn trong cán cân thương mại. Bên cạnh đó xu hướng
tăng cán cân thương mại của khối đầu tư nước ngoài đặc biệt là đối với các
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã chèn lấn các doanh nghiệp trong nước
bằng cách thực hiện các thương vụ sáp nhập và thôn tính ( M&A) các doanh
nghiệp trong nước nhằm độc quyền chiếm lợi nhuận, điều này đặc biệt nghiêm
trọng khi có sự biến động của nền kinh tế và sự thoái lui của khối này sẽ gây ra
một sự mất cân bằng lớn trong cán cân thương mại dẫn tới sự mất cân bằng trong
cán cân thanh toán.
d. Bán rẻ nguồn tài nguyên. Sự thiếu hụt về nguồn vốn cũng như yếu kém về
khoa học công nghệ buộc nước nhận FDI phải chấp nhận các điều khoản thua

lợi nhuận sẽ dẫn tới những tác động tiêu cực mà chủ yếu là tình trạng “ chuyển
giá” làm mất đi các khoản thuế lớn đối với nước tiếp nhận đầu tư gầy thiệt hại
lớn về nguồn thu của nhà nước.
g. Tăng khoảng cách giàu nghèo. Cải cách kinh tế ở các nước phát triển và
đang phát triển được thế giới nhìn nhận rộng rãi như một thành công lớn. GDP
bình quân đầu người đã tăng với tốc độ khá cao trong vài thập kỷ lại đây, góp
phần làm giảm mạnh tỷ lệ đói nghèo xuống hơn một nửa trong thời gian này .Tuy
vậy, cải cách bằng ngồn FDI tuy góp phần đưa các vùng kém phát triển vươn lên
một tầm mới nhưng sự vươn lên của nó lại không bằng các vùng, ngành vốn đã
có thế mạnh và điều này dẫn đến một kết quả tất yếu là khoảng cách giàu nghèo
đang ngày càng tăng, tuy với tốc độ và mức độ chưa đến mức báo động. Sự có
mặt của các doanh nghiệp FDI với vô số việc làm mới, rất nhiều khoản thu nhập
được tạo ra cho người dân địa phương, tuy nhiên sự có mặt của các doanh nghiệp
FDI này không phải được phân bố một cách đều đặn cho các vùng theo địa lý mà
nó chỉ tập trung vào các vùng có thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên hay sự phát
triển của cơ sở hạ tầng các vùng mà vốn có của nó đã phát triển hơn những vùng
sâu, xa nghèo tài nguyên còn lại. Chính điều này đang ngày càng tạo thêm một
khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng.
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 20
Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
1.4.Bài học kinh nghiệm
1.4.1. Kinh nghiệm ĐTRNN của các doanh nghiệp Trung Quốc
Thâm nhập sâu hơn thị trường các nước đang phát triển
Năm 2009, Trung Quốc đã vượt Mỹ để trở thành đối tác thương mại lớn
nhất của Brazil. Mối quan hệ kinh tế ngày càng chặt chẽ của họ trong thập kỷ qua
đã trở thành một biểu tượng của sự dịch chuyển kinh tế toàn cầu. Các ngân hàng
Trung Quốc đã cho Công ty Dầu mỏ Petrobras vay 10 tỷ USD; cho Công ty Khai
khoáng Vale vay 1,23 tỷ USD. Trong năm 2009, tổng giá trị đầu tư của Trung
Quốc vào Brazil chỉ đạt 92 triệu USD song ước tính năm 2010 có thể vượt 10 tỷ

nước ngoài
1.4.2. Kinh nghiệm thành công
Công ty phân bón Năm Sao
i. Định hướng phát triển đúng đắn
Thực tế, để có được những thành công nhất định, trong quá trình đầu tư
ban đầu Năm sao đã gặp phải một trở ngại rất lớn khi tại thị trường Campuchia
bởi nhiều phong tục tập quán tại Campuchia. Thậm chí, nhiều địa phương tại
Campuchia chính quyền nghiêm cấm việc bán hoặc phân phối phân bón bởi họ
vẫn còn quan niệm rằng dùng phân bón sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đất…
Cùng thời điểm này, tại thị trường Campuchia có đến hàng chục nhà cung
ứng và khai thác thị trường nên nó đã chuyển từ độc quyền sang cạnh tranh.
Nhưng có một điểm đã gây ra không ít khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài
đến với Campuchia là các cơ chế chính sách, môi trường đầu tư đều thiếu tính
minh bạch. Những điều này đã có thời kỳ tại VN thị trường phân bón đã vấp phải
nhưng với kinh nghiệm gần 20 năm trong ngành phân bón tại VN nên Năm Sao
tập trung mạnh vào 2 mảng chính là phải nhanh chóng có được nhà máy để đưa
ra được sản phẩm được sản xuất tại đất Campuchia và tạo dựng thương hiệu để
gây dựng niềm tin ngay từ trong lòng khách hàng.
ii. Nghiên cứu ngành – nghiên cứu văn hóa tại nước đầu tư
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 22
Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
Ngay từ khi có ý định đầu tư nhà máy vào thị trường Campuchia, Tập
đoàn quốc tế Năm Sao đã vấp ngay phải hàng loạt câu hỏi: Tại sao lại đầu tư ra
nước ngoài khi mà chính trong nước còn rất nhiều việc phải làm ? Nhất là đối với
thị trường Campuchia từ trước tới nay đều được cho là có độ rủi ro rất cao (?).
Quan trọng hơn nữa là đối với thị trường phân bón trong nước vẫn còn là một
“sân chơi” rộng mở đối với thương hiệu Phân bón Năm Sao và các DN ngành
phân bón.
Một trong những câu trả lời đầu tiên được chứng minh qua bước nghiên

cho khách hàng của Năm Sao; về con người cũng như bước phát triển Tập đoàn
quốc tế Năm Sao đã nhanh chóng tạo ra một đội ngũ CBCNV linh hoạt, luôn
hoạt động trong áp lực cao, với độ tuổi còn rất trẻ nhưng đã rất giàu kinh nghiệm
và rất dễ thích ứng trong các môi trường đầu tư, kinh doanh mới.
Công ty viễn thông Viettel
Tháng 5/2006, Viettel bắt đầu cung cấp dịch vụ tại Campuchia với dịch vụ
VoIP, sau đó là dịch vụ internet, tiếp theo đó Viettel triển khai mạng di động. Khi
Viettel bắt đầu thâm nhập vào thị trường Capuchia thì đã phải đối mặt với các
doanh nghiệp viễn thông đang hoạt động tại Campuchia có nhiều kinh nghiệm và
tiềm lực tài chính mạnh, chủ yếu là liên doanh với nước ngoài như Thuỵ Điển,
Thái Lan, NaUy.
Viettel đã đẩy nhanh tập trung vào xây dựng hạ tầng mạng lưới và xây
dựng riêng một đường truyền về Việt Nam, trong khi các doanh nghiệp viễn
thông khác tại Campuchia không có đường truyền riêng như vậy. Đến ngày
19/2/2009, Viettel chính thức khai trương mạng Metfone thuộc công ty Viettel
Cambodia ( Công ty 100% vốn của Viettel đầu tư), chỉ sau 3 tháng đi vào hoạt
động mạng lưới Metfone đã triển khai rộng khắp Campuchia, dung lượng lớn với
hơn 1000 trạm phát sóng BTS tương đương hớn 40% tổng số trạm phát sóng của
cả nước Campuchia, phủ sóng cả nước, với một mạng cáp quang lớn nhất
Camphuchia với chiều dài 5000km phủ khắp các quốc lộ, tỉnh thành.
Sự thích ứng nhanh của Viettel khi đầu tư ra nước ngoài còn thể hiện ở
chỗ Metfone xây dựng gói cước đa dạng với mệnh giá thấp và dịch vụ gia tăng
phong phú đã đem đến cho người dân Camphuchia nhiều sự lựa chọn. Hiện nay
Metfone là mạng có giá cước tốt nhất, giúp người dân Campuchia tiết kiêm 25%
Đề án: ĐTRNN của Việt Nam và những giải pháp 24
Đề án nghiên cứu: Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải
pháp
chi phí nhờ cách tính cước theo từng giây cho tất cả các hướng gọi, kể cả liên
mạng và quốc tế. Sau 3 tháng cung cấp thử nghiệm Metfone đã có 500.000 thuê
bao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status