MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….1
PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN………………………2
1.1. Khái niệm rủi ro và rủi ro kinh doanh………………………………..2
1.2. Rủi ro kiểm toán………………………………………………………...2
1.2.1. Định nghĩa rủi ro kiểm toán……… ……………………………..2
1.2.2. Các thành phần của rủi ro kiểm toán……………………………3
1.2.2.1. Rủi ro tiềm tàng…………………………..………………3
1.2.2.2. Rủi ro kiểm soát………….……………………………….4
1.2.2.3. Rủi ro phát hiện……………………..…………………….5
1.2.3. Mô hình rủi ro kiểm toán………………………………………...6
1.2.4. Mức rủi ro kiểm toán mong muốn……………………………….8
1.2.5. Mối liên hệ giữa các loại rủi ro…………………………………..8
1.3. Đánh giá rủi ro kiểm toán…..………………………………………...10
1.3.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc đánh giá rủi ro kiểm toán……..10
1.3.2. Đánh giá rủi ro tiềm tàng……………………………………….11
1.3.3. Đánh giá rủi ro kiểm soát……………………………………….15
1.3.4. Xác định rủi ro phát hiện……………………………………….21
PHẦN 2: GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO KIỂM TOÁN…………………22
2.1. Giải pháp giảm thiểu rủi ro kiểm soát……………………………….22
2.1.1. Cơ sở xây dựng…………………………………………………..22
2.1.2. Các giải pháp…………………………………………………….22
2.2. Giải pháp giảm thiểu rủi ro phát hiện……………………………….28
2.2.1. Cơ sở xây dựng…………………………………………………..28
2.2.2. Các giải pháp…………………………………………………….28
2.3. Thực hiện giải pháp giảm thiểu rủi ro kiểm toán…………………...34
KẾT LUẬN……………………………………………………………………...36
Đề án môn học kiểm toán GVHD: Th.s Tạ Thu Trang
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………37
LỜI MỞ ĐẦU
Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng, rủi ro kiểm
những thay đổi trong tình trạng này doanh nghiệp có thế sẽ bị sút giảm lợi nhuận
hoặc thậm chí là phá sản. Rủi ro kinh doanh có thể chia làm 2 loại cơ bản: bên ngoài
và nội tại. Rủi ro kinh doanh nội tại phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động
của doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp có một loại rủi ro nội tại riêng, phụ thuộc vào
các chính sách, chiến lược và hoạt động của nó. Các doanh nghiệp cũng có kiểu rủi
ro bên ngoài riêng, phụ thuộc vào các yếu tố môi trường kinh doanh cụ thể của mỗi
doanh nghiệp. Các yếu tố bên ngoài đó có thể là chi phí tiền vay, mức thuế xuất
nhập khẩu, các chính sách chính trị, chính sách tiền tệ và cả chu kỳ kinh doanh của
từng ngành nghề, …
1.2. Rủi ro kiểm toán
1.2.1. Định nghĩa rủi ro kiểm toán
Theo chuẩn mực số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ trong hệ
thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam thì:
“Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý
3
Đỗ Dương Tùng Kiểm toán 47A
Đề án môn học kiểm toán GVHD: Th.s Tạ Thu Trang
kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có
những sai sót trọng yếu.”
Như vậy rủi ro kiểm toán là khả năng mà báo cáo tài chính còn chứa đựng những
sai phạm trọng yếu trong khi kiểm toán viên lại nhận xét rằng chúng được trình
bày trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu.
Rủi ro kiểm toán luôn luôn có thể tồn tại ngay cả khi cuôc kiểm toán đã
được lập kế hoạch chu đáo và thực hiện một cách thận trọng. Rủi ro này sẽ tăng
thêm nếu việc lập kế hoạch kiểm toán không tốt và thực hiện kiểm toán thiếu
thận trọng.
Rủi ro kiểm toán xuất phát từ các sai lệch tiềm ẩn trong báo cáo tài chính
đã vượt qua hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị và không bị các thử nghiệm cơ
bản của kiểm toán viên phát hiện. Trên thực tế rủi ro này thường xảy ra do các
giới hạn về quản lý dẫn tới các gian lận và sai sót hoặc giới hạn về kiểm toán mà
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400:
Rủi ro kiểm soát: là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp
vụ,từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ
thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát
hiện và sửa chữa kịp thời.
Hoặc trong Lý thuyết kiểm toán - Alvin Arens - NXB Thống kê 2000 có định
nghĩa:
Rủi ro kiểm soát: đại diện cho sự đánh giá về cơ cấu kiểm soát nội bộ
của khách hàng có hiệu quả đối với việc ngăn ngừa hoặc phát hiện sai sót.
Còn theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 400 thì:
5
Đỗ Dương Tùng Kiểm toán 47A
Đề án môn học kiểm toán GVHD: Th.s Tạ Thu Trang
Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra mà được đánh giá trọng yếu khi tính
riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp không
ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời.
Như vậy, các quan điểm về rủi ro kiểm soát đều thống nhất đi đến một quan
điểm chung mà nội dung của nó là : “Rủi ro kiểm soát chính là khả năng hệ thống
kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán không phát hiện,
ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu”.
Rủi ro kiểm soát là một loại rủi ro tồn tại khách quan bên trong doanh
nghiệp không phụ thuộc vào việc có tiến hành công việc kiểm toán hay không.
Kiểm toán viên không tạo ra rủi ro kiểm soát và cũng không kiểm soát chúng,
mục đích của kiểm toán viên là đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và đưa ra một
mức rủi ro kiểm soát dự kiến.
Rủi ro kiểm soát sinh ra khi hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động không
có hiệu quả, thậm chí cả khi nó hoạt động có hiệu quả thì rủi ro kiểm soát vẫn tồn
tại. Bản thân hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống bao gồm kế hoạch tổ
chức và tất cả các phương pháp, biện pháp phối hợp được thừa nhận dùng trong
kinh doanh để bảo vệ tài sản của tổ chức, kiểm tra sự chính xác và độ tin cậy của
kiểm soát nội bộ của đơn vị (rủi ro kiểm soát) và không bị các thử nghiệm kiểm
toán của kiểm toán viên phát hiện (rủi ro phát hiện). Do đó rủi ro kiểm toán là
tổng hợp của ba loại rủi ro: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện.
Để phục vụ cho quá trình đánh giá rủi ro kiểm toán, các nhà chuyên môn thường
sử dụng mô hình sau để biểu diễn mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và các bộ
phận cấu thành:
AR = IR
×
CR
×
DR
Trong đó:
7
Đỗ Dương Tùng Kiểm toán 47A
Đề án môn học kiểm toán GVHD: Th.s Tạ Thu Trang
- AR (Audit risk): Rủi ro kiểm toán
- IR (Inherent risk): Rủi ro tiềm tàng
- CR (Control risk): Rủi ro kiểm soát
- DR (Detective risk): Rủi ro phát hiện
Mô hình này được kiểm toán viên sử dụng để đánh giá tính hợp lý của kế
hoạch kiểm toán. Kiểm toán viên có thể sử dụng mô hình này để điều chỉnh rủi ro
phát hiện dựa trên các loại rủi ro khác đã được đánh giá nhằm đạt được rủi ro
kiểm toán ở mức thấp mà kiểm toán viên kì vọng.
Tuy nhiên mô hình trên ít khi được sử dụng vì rủi ro kiểm toán thường
được kiểm toán viên xác định trước và khó thay đổi trong một cuộc kiểm
toán. Do vậy, kiểm toán viên mong muốn xác định rủi ro phát hiện (DR) để
lập kế hoạch kiểm toán hơn là điều chỉnh rủi ro phát hiện theo rủi ro kiểm
toán (AR). Mặt khác, rủi ro tiềm tàng (IR) và rủi ro kiểm soát (CR) luôn có
tính chất cố hữu, kiểm toán viên chỉ có thể đánh giá chứ không thể tác động
vào chúng. Vì vậy, mô hình rủi ro kiểm toán ở trên không thể hiện tính chất
DAR
DR
×
=
Trong một cuộc kiểm toán, rủi ro không bao giờ được loại trừ một cách
hoàn toàn. Vì vậy, khái niệm rủi ro kiểm toán mong muốn thể hiện mức độ kỳ
vọng của kiểm toán viên đối với một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Rủi ro
kiểm toán mong muốn được xác định một cách chủ quan theo kinh nghiệm và óc
xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên. Khi kiểm toán viên cho rằng rủi ro
kiểm toán mong muốn bằng 0 có nghĩa là kiểm toán viên tin tưởng báo cáo tài
chính của khách hàng không tồn tại bất cứ sai phạm trọng yếu nào. Đây là trường
hợp lý tưởng cho mọi cuộc kiểm toán nhưng không bao giờ xảy ra vì kiểm toán
viên chỉ có thể kết luận báo cáo tài chính đã được trình bày trung thực, hợp lý xét
trên các khía cạnh trọng yếu. Ngược lại, khi rủi ro kiểm toán ở mức 1 hay 100%,
kiểm toán viên cho rằng báo cáo tài chính của khách hàng đã bị làm sai lệch
nghiêm trọng trên nhiều khía cạnh trọng yếu. Vì vậy, biên độ giao động của rủi
ro kiểm toán mong muốn biến đổi từ 0 đến 1 hay từ 0% đến 100%.
Việc đưa ra mức rủi ro kiểm toán mong muốn mang tính chủ quan của kiểm
toán viên và nó phụ thuộc nhiều vào chi phí của cuộc kiểm toán. Tuy nhiên, mức
rủi ro kiểm toán mong muốn mà kiểm toán viên đưa ra phải đủ thấp để những
người quan tâm có thể sử dụng báo cáo tài chính đã kiểm toán của khách hàng
làm cơ sở ra quyết định, hạn chế các loại rủi ro trong kinh doanh.
1.2.5. Mối liên hệ giữa các loại rủi ro
Quá trình nghiên cứu về các loại rủi ro đã chỉ ra mối quan hệ qua lại chặt
chẽ giữa chúng. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát khác rủi ro phát hiện và rủi
ro kiểm toán ở chỗ: chúng tồn tại độc lập, khách quan với các thông tin tài chính,
9
Đỗ Dương Tùng Kiểm toán 47A
Đề án môn học kiểm toán GVHD: Th.s Tạ Thu Trang
Đề án môn học kiểm toán GVHD: Th.s Tạ Thu Trang
- Mỗi loại rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều được chia thành 3 mức: Cao,
trung bình và thấp.
- Vùng tô đậm thể hiện mức độ rủi ro phát hiện.
- Loại rủi ro phát hiện được chia thành 5 mức: Cao nhất, cao, trung bình, thấp
và thấp nhất.
Mức độ rủi ro phát hiện tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát. Ví dụ: khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá là cao thì rủi ro
phát hiện có thể được đánh giá ở mức độ thấp để giảm rủi ro kiểm toán xuống
thấp đến mức có thể chấp nhận được. Ngược lại, khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát được đánh giá là thấp thì có thể chấp nhận mức độ rủi ro phát hiện cao
hơn nhưng vẫn đảm bảo giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể chấp
nhận được.
Từ bảng trên ta có thể lấy hai ví dụ cụ thể để thấy rõ mối quan hệ giữa các loại
rủi ro: Trường hợp mức độ rủi ro tiềm tàng được kiểm toán viên đánh giá là cao
và mức độ rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá là thấp thì mức độ rủi
ro phát hiện có thể đánh giá là trung bình nhằm giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp
đến mức có thể chấp nhận được. Ngược lại, nếu mức độ rủi ro tiềm tàng là thấp
và rủi ro kiểm soát được đánh giá là trung bình thì có thể xác định mức độ rủi ro
phát hiện là cao nhưng vẫn đảm bảo rủi ro kiểm toán là thấp có thể chấp nhận
được.
1.3. Đánh giá rủi ro kiểm toán
1.3.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc đánh giá rủi ro kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 400, mục 08 thì:
Đánh giá rủi ro kiểm toán là việc kiểm toán viên và công ty kiểm toán xác định
mức độ rủi ro kiểm toán có thể xảy ra là cao hay thấp, bao gồm đánh giá rủi ro
11
Đỗ Dương Tùng Kiểm toán 47A
Đề án môn học kiểm toán GVHD: Th.s Tạ Thu Trang
tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện. Rủi ro kiểm toán được xác định
Khi đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện báo cáo tài chính, kiểm toán viên
thường dựa vào một số yếu tố ảnh hưởng sau:
• Đặc điểm của Ban Giám đốc:
Nếu các quyết định về kinh tế, tài chính trong đơn vị bị độc quyền bởi một cá
nhân trong Ban Giám đốc thì sẽ dễ xảy ra các sai phạm trọng yếu hơn trường hợp
các quyết định này được soát xét và phê duyệt bởi một hội đồng thành viên Ban
Giám đốc.Ngoài ra, sự thiếu liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám
rất dễ dẫn đến việc chỉ đạo, điều hành các hoạt động gian lận, mang tính chất trục
lợi cho cá nhân hoặc sai chế độ, quy định pháp luật...Vì thế dễ có khả năng tồn tại
sai phạm đối với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Hơn nữa khi có sự thay đổi
thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán kiểm toán viên cũng cần
xem xét đến trường hợp có nhiều người trung thực, không chấp nhận những gian
lận xảy ra trong doanh nghiệp nên tự nguyện xin từ chức dẫn tới việc thay thế
nhân sự trong Ban Giám đốc. Khi đó, rủi ro tiềm tàng sẽ được đánh giá cao hơn.
• Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các
nhân viên kế toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của
họ. Kế toán trưởng là người chịu trách nhiệm chính về công tác kế toán của đơn
vị. Trình độ của họ sẽ có ảnh hưởng tới công tác kế toán của đơn vị, sự ghi chép
và kiểm tra kế toán và tính chính xác của thông tin tài chính được ghi chép và
trình bày trên báo cáo tài chính. Nếu có sự thay đổi nhân sự của các vị trí này thì
những người mới có thể chưa có kinh nghiệm nên dễ dẫn tới sai sót. Trong
trường hợp này, kiểm toán viên nên đánh giá rủi ro tiềm tàng ở mức cao hơn.
• Những áp lực bất thường đối với Ban Giám đốc, đối với kế toán
trưởng, nhất là những hoàn cảnh thúc đẩy họ phải trình bày báo cáo tài chính không
trung thực. Chằng hạn, doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn về mặt tài
chính và cần kêu gọi thêm vốn góp của các cổ đông để bổ sung vốn thì doanh nghiệp
13
Đỗ Dương Tùng Kiểm toán 47A
Đề án môn học kiểm toán GVHD: Th.s Tạ Thu Trang
rất dễ gian lận trong việc khai các chỉ tiêu tài chính để làm bức tranh tài chính của
Trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ
Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ
phụ thuộc vào các yếu tố: Mức rủi ro tiềm tàng đã đánh giá đối với toàn bộ báo
cáo tài chính, tính chất của khoản mục, các nhân tố tác động tới rủi ro tiềm tàng
trên số dư tài khoản và loại nghiệp vụ trên cơ sở hiểu biết của kiểm toán viên,
bao gồm các nhân tố sau:
• Bản chất kinh doanh của khách hàng: Rủi ro tiềm tàng bị tăng lên
bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh mà nó có thể tạo nên những khó
khăn cho kiểm toán do tồn tại những khoản không chắc chắn hoặc khả năng tồn
tại một cách tiềm tàng những gian lận hoặc sai sót trên báo cáo tài chính. Chẳng
hạn, khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng thường có nhiều rủi ro
trong việc quản lý tiền mặt và các phương tiện thanh toán, do đó việc kiểm toán
vốn bằng tiền sẽ khó khăn hơn các doanh nghiệp sản xuất thông thường; Hoặc
đối với các đơn vị kinh doanh thương mại thì việc kiểm toán doanh thu sẽ gặp
nhiều khó khăn hơn ...
• Kết quả các lần kiểm toán trước. Đối với tài khoản được phát hiện
có sai phạm trong các lần kiểm toán của năm trước, rủi ro tiềm tàng được xác
định ở mức cao. Lý do là nhiều loại sai phạm có tính chất hệ thống và các đơn vị
thường chưa kịp tiến hành các biện pháp sửa chữa nên sai phạm đã xảy ra trong
năm trước vẫn có thể tiếp tục xảy ra trong năm sau.
• Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên, đặc biệt là các nghiệp
vụ phức tạp đòi hỏi ý kiến chuyên gia như mất trộm, kiện tụng hoặc các nghiệp
vụ phức tạp gần thời điểm kết thúc niên độ. Các nghiệp vụ này có khả năng được
vào sổ sai nhiều hơn là các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày do đơn vị thiếu kinh
nghiệm trong hạch toán các loại nghiệp vụ đó. Do đó rủi ro tiềm tàng đối với các
tài khoản chứa nghiệp vụ này thường được đánh giá cao.
15
Đỗ Dương Tùng Kiểm toán 47A