ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐỖ TIẾN TRUNG
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
CỦA KHAI THÁC VÀ ĐỔ THẢI LẤN BIỂN TẠI MỎ
SẮT THẠCH KHÊ TỚI CÁC HỆ SINH THÁI VEN
BIỂN, ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU VÀ
SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội – Năm 2015
ii
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐỖ TIẾN TRUNG
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA KHAI
THÁC VÀ ĐỔ THẢI LẤN BIỂN TẠI MỎ SẮT THẠCH KHÊ TỚI CÁC
HỆ SINH THÁI VEN BIỂN, ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM
THIỂU VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN
Chuyên ngành: Môi trường trong Phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN YÊM
Hà Nội – Năm 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp trong chương trình đào tạo Thạc sỹ của tôi được hoàn
thành là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện và tích luỹ kiến thức tại Trung tâm
Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng với sự
hướng dẫn, dạy bảo tận tình của các giảng viên và tham khảo ý kiến quý báu của
các chuyên gia trong lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản. Nhân dịp này tôi
Đỗ Tiến Trung
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.Cơ sở lý luận 4
1.1. Một số khái niệm thuật ngữ 4
1.2. Tổng quan về tình hình khai thác, chế biến quặng sắt trên thế giới 6
1.3. Tổng quan về điều kiện khai thác, chế biến và đổ thải của một số mỏ trên
thế giới có điều kiện tương tự mỏ sắt Thạch Khê 9
1.4. Tổng quan về tình hình khai thác và chế biến quặng sắt tại Việt Nam 15
1.5. Tổng quan về tình hình khai thác quặng sắt mỏ sắt Thạch Khê và dự kiến
phương án đổ thải 19
1.6. Tổng quan về đa dạng sinh học ven biển Việt Nam 24
CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Địa điểm 29
2.2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực mỏ sắt 30
2.2.1. Đặc điểm tự nhiên 30
2.2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 36
2.3. Phương pháp luận 37
2.3.1. Tiếp cận hệ thống 37
2.3.2. Tiếp cận hệ sinh thái 38
2.3.3. Vận dụng phương pháp luận vào thực tế khu vực nghiên cứu 39
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thống kê tình hình sản xuất gang trên thế giới 7
Bảng 1.2: Thống kê tình hình sản xuất gang trên thế giới 8
Bảng 1.3: Hiện trạng phục hồi môi trường tại cồn cát ở Zululand, Nam Phi 14
Bảng 1.4: Trữ lượng và hiện trạng khai thác quặng sắt ở các mỏ đã được tìm kiếm
thăm dò 17
Bảng 1.5. Các chỉ tiêu cơ bản về biên giới và trữ lượng khai trường 19
Bảng 1.6. Khối lượng đất đá bóc đối với từng loại 22
Bảng 1.7. Các chỉ tiêu kỹ thuật của phương án đổ thải lấn biển 24
Bảng 1.8: Phân loại cỏ biển Việt Nam 26
Bảng 1.9: Hiện trạng số loài cỏ biển của một số nước trong khu vực 27
Bảng 1.10: Hiện trạng cỏ biển Việt Nam 27
Bảng 2.1. Biến trình nhiệt độ qua các năm tại Trạm Hà Tĩnh: 30
Bảng 2.2. Độ ẩm không khí một số năm tại Trạm Hà Tĩnh: 30
Bảng 2.3. Lượng mưa, bốc hơi một số năm tại Trạm Hà Tĩnh: 30
Bảng 2.4. Tốc độ gió (m/s) đo được tại Trạm Hà Tĩnh năm 2013: 30
Bảng 3.1. Vị trí các điểm khảo sát mẫu khu vực cửa sông và biển ven bờ Thạch Hà,
Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) tháng 10/2013 46
Bảng 3.4: Danh mục một số loài cá nước ngọt và nước lợ thường gặp ở vùng biển
Thạch Hà 53
Bảng 3.5: Danh mục một số loài cá biển thường gặp ở vùng Thạch Hà 54
Bảng 3.6: Chức năng, dịch vụ của các hệ sinh thái 59
Bảng 3.7: Tác dụng chắn gió và cố định cát của đai rừng 3 tuổi 60
Bảng 3.8: Phân tích SWOT 73
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Moong khai thác cạnh biển của Australia 10
Hình 1.2: Moong khai thác cạnh biển của Nga 10
Hình 1.3: Moong khai thác Diavik – Canada 15
HST
Hệ sinh thái
KHCN
Khoa học và Công nghệ
KT-CB
Khai thác – chế biến
NSNN
Ngân sách nhà nước
PHMT
Phục hồi môi trường
QLTHĐB
Quản lý tổng hợp đới bờ
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
RNM
Rừng ngập mặn
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TIC
Công ty Cổ phần sắt Thạch Khê
VINACOMIN
Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản VN
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
1
MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng với hàng trăm
chủng loại khoáng sản khác nhau. Ngành khai thác và chế biến khoáng sản đã đóng
góp một phần không nhỏ trong phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên các hoạt động
khai thác và chế biến khoáng sản được xếp vào loại các hoạt động công nghiệp có
hoặc biến mất của nhiều chức năng và dịch vụ của các hệ sinh thái, trong đó bao
gồm cả vai trò quan trọng của hệ sinh thái trong ứng phó với biến đổi khí hậu như
chống lại sự xói mòn do gió, nước biển, thu giữ khí CO
2
, dự trữ nước, nơi sống của
các loài sinh vật Mặt khác, khai thác và đổ thải lấn biển còn làm xuất hiện các hiện
tượng như biến dạng đường bờ biển, sạt lở bờ moong và bờ biển, cát bay lấn vào đất
liền hay sụt lún các trảng cát v.v. Trong quá trình khai thác và quy hoạch khai thác
đã có những đánh giá tác động cũng như đề ra giải pháp giảm thiểu tác động tới hệ
sinh thái. Tuy nhiên, phần lớn các chức năng và dịch vụ của các hệ sinh thái, nhất là
các hệ sinh thái ven biển chưa được nghiên cứu và đánh giá một cách đầy đủ. Việc
lựa chọn giữa khai thác khoáng sản hay bảo tồn, phục hồi tài nguyên đa dạng sinh
học vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng. Nghiên cứu tác động của khai thác và đổ
thải lấn biển của mỏ sắt Thạch Khê tới các hệ sinh thái là hướng đi vô cùng quan
trọng và cấp thiết nhằm bảo tồn các chức năng và dịch vụ của các hệ sinh thái và
bảo tồn cảnh quan đẹp của khu vực cũng như sử dụng hợp lý tài nguyên. Do đó tác
giả đã lựa chọn đề tài là “Bước đầu nghiên cứu, đánh giá tác động của khai thác và
đổ thải lấn biển tại mỏ sắt Thạch Khê tới các hệ sinh thái ven biển, đề xuất các giải
pháp giảm thiểu và sử dụng hợp lý tài nguyên”.
Trong đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu các tác động của khai thác và đổ
thải lấn biển tới đa dạng sinh học, bao gồm cả cảnh quan cùng các chức năng, dịch
vụ của các hệ sinh thái. Mức độ tác động và tầm quan trọng của các hệ sinh thái sẽ
được xem xét để có thể có đưa ra các giải pháp giảm thiểu và sử dụng hợp lý tài
nguyên.
Mục tiêu chung: Đánh giá tác động của khai thác và đổ thải lấn biển tới các
hệ sinh thái ven biển huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh nhằm đề xuất các giải pháp
giảm thiểu và sử dụng hợp lý tài nguyên.
Mục tiêu cụ thể:
o Đánh giá tác động của khai thác và đổ thải lấn biển tới ĐDSH (hệ sinh
thái, cảnh quan cùng các chức năng và các dịch vụ hệ sinh thái ).
Hệ sinh thái: là tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi trường vật lý mà
quần xã đó tồn tại, trong đó các sinh vật tương tác với nhau và với môi trường để
tạo nên chu trình vật chất và sự chuyển hóa năng lượng [35].
Chức năng, dịch vụ hệ sinh thái:
Chức năng của hệ sinh thái: là khả năng của các quá trình và thành phần của
tự nhiên cung cấp hàng hóa và dịch vụ làm thỏa mãn các nhu cầu của con người
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Theo định nghĩa này thì chức năng hệ sinh thái là
tập hợp của các quá trình và cấu trúc của hệ sinh thái. Các quá trình tự nhiên là kết
quả của sự tương tác phức tạp giữa các thành phần hữu sinh và vô sinh của hệ sinh
thái thông qua quá trình trao đổi vật chất và năng lượng [42].
Với 4 nhóm chức năng chính của hệ sinh thái là:
1. Chức năng điều tiết.
2. Chức năng hỗ trợ.
3. Chức năng sản xuất.
4. Chức năng cung cấp thông tin.
Dịch vụ hệ sinh thái (HST): là các lợi ích mà HST mang lại cho con người.
Các lợi ích đó chia làm các nhóm trên cơ sở các chức năng của hệ sinh thái: Dịch vụ
cung cấp như thực phẩm và nước; Dịch vụ hỗ trợ như hình thành đất và chu trình
dinh dưỡng; Dịch vụ điều tiết như: điều tiết lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn đất và
dịch bệnh; Dịch vụ du lịch và văn hóa như: giá trị du lịch, giải trí, nghiên cứu, tôn
giáo và các lợi ích phi vật chất khác [27].
Cải tạo, phục hồi môi trường: trong khai thác và chế biến khoáng sản là hoạt
động đưa môi trường, hệ sinh thái (đất, nước, không khí, cảnh quan thiên nhiên,
thảm thực vật, ) tại khu vực đã khai thác khoáng sản và các khu vực bị ảnh hưởng
do hoạt động khai thác khoáng sản về trạng thái môi trường gần với trạng thái môi
5
trường ban đầu hoặc đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn, môi trường và
phục vụ các mục đích có lợi cho con người [32].
Bảo tồn ĐDSH: là các hoạt động nhằm gìn giữ được ĐDSH về các mặt: cung
cấp các nguyên vật liệu cần thiết cho cuộc sống của con người, các giá trị về xã hội,
bảo tồn các hệ sinh thái và các nguồn tài nguyên sinh học để phát triển được bền
vững.
Biện pháp chính sách và tổ chức
Biện pháp chính sách và tổ chức bao gồm các công cụ nhằm giới hạn việc sử
dụng các nguồn tài nguyên thông qua việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất; chính
sách khuyến khích sản xuất, chính sách thuế để hướng việc sử dụng đất đai vào
công việc nào đó; điều chỉnh thời hạn sử dụng đất để đảm bảo được quyền lợi của
cộng đồng và cá nhân, nhằm tạo được cảnh quan phù hợp cho việc bảo tồn ĐDSH.
1.2. Tổng quan về tình hình khai thác, chế biến quặng sắt trên thế giới
Nguyên tố sắt (Fe) có hàm lượng trung bình trong vỏ trái đất là 4,2%, chỉ sau
oxy (O
2
), silic (Si) và nhôm (Al). Nguyên tố sắt tồn tại trong hàng trăm khoáng vật,
song cho đến nay mới chỉ thu hồi được sắt kim loại ở quy mô công nghiệp từ một số
quặng chứa sắt sau:
- Quặng magnetit, công thức hoá học là Fe
3
O
4
, tối đa có 72,4% Fe;
- Quặng hematit (hay martit, specularit), công thức hoá học là Fe
2
O
3
, tối đa
có 70% Fe;
- Hydrôxit sắt hay còn gọi là limonit gồm: gơtit công thức hoá học là
FeO.OH; hydrô Gơtit công thức hoá học là FeOOH.nH
2
O, hydrôxit hematit công
3
nH
2
O):chủ yếu là hydrôxit sắt;
- Quặng siderit;
- Quặng clorit sắt.
Hiện nay, trên thế giới quặng sắt nguyên khai được khai thác với hàm lượng
sắt (Fe) từ 17% trở lên, tuỳ theo từng loại quặng, được tuyển (làm giàu) và chế biến
theo các quy trình khác nhau để thu được hàm lượng sắt cao nhất phục vụ cho nhu
cầu sử dụng.
Theo đánh giá của tạp chí “Mining Journal” việc khai thác quặng sắt trên
Thế giới năm 2013 đã tăng lên so với năm 2011 là 7,5% đạt 1.008 triệu tấn và được
phân bổ theo các khu vực chính như sau: Bắc Mỹ và Nam Mỹ đạt 373,1 triệu tấn;
Úc và Châu Đại Dương: 188,9 triệu tấn; Châu Á (trừ Trung Quốc): 103,9 triệu tấn;
Trung Quốc 108,8 triệu tấn; Châu Phi: 50,9 triệu tấn; Tây Âu (trừ SNG): 23,9 triệu
tấn.
Quặng sắt đã được khai thác ở hơn 60 nước khác nhau , hơn 70% sản lượng
thuộc về các nước: Braxin, Úc, Trung Quốc, Nga và Ấn Độ.
Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Gang Thép Quốc tế, sản xuất gang của
thế giới năm 2012 là 606 triệu tấn tăng hơn so với năm 2011 là 31,7 triệu tấn (tăng
khoảng 5,5%), năm 2013 là 648,988 triệu tấn, tăng 7,1% so với 2012. Mức tăng
trưởng chủ yếu tập trung ở các nước Châu Á, năm 2012 tăng so với năm 2011 là
29,1 triệu tấn (5,1%) và 2013 so với 2012 là 36 triệu tấn (11%), 7 tháng đầu năm
2014 đạt 403,152 triệu tấn, tăng 7,7% so với cùng kỳ 2013. Kết quả đánh giá tình
hình sản xuất gang và thép Thế giới được nêu trong bảng 1.1 và 1.2.
Bảng 1.1: Thống kê tình hình sản xuất gang trên thế giới
Đơn vị: triệu tấn
TT
Vùng, nước
2011
87,50
53,52
Trong đó, Hoa Kỳ
42,1
40,3
38,77
23,71
8
5
Các nước Nam Mỹ
30,9
33,4
36,27
22,22
Trong đó, Braxin
27,4
29,7
32,06
19,86
6
Các nước Châu Phi
6,2
6,1
6,52
4,21
7
Tổng của các nước Châu Á:
283,7
312,8
348,96
1,12
8
Úc và Châu Đại dương
6,66
6,7
6,78
3,83
Tổng cộng: (42 nước chiếm 99%)
574,3
606
648,988
403,15
Nguồn: Trust Fund in Iron Ore Information [45]
Qua bảng 1.1 cho thấy: Trong năm 2013 và 7 tháng đầu năm 2014 mức độ
sản xuất gang tăng nhanh, trong đó Trung Quốc chiếm 17,6% và Nhật Bản chiếm
20,1%. Năm 2013 so với 2012 tăng 11%, nhưng 7 tháng đầu năm 2014 giảm 5,55%
so với cùng kỳ (do thiếu than cốc).
Bảng 1.2: Thống kê tình hình sản xuất thép trên thế giới
Đơn vị: triệu tấn
Vùng, nước
Năm
2010
Năm
2011
Năm
2012
Năm
2013
Tăng trưởng năm
2013 so với 2012
Các nước Bắc Mỹ
134,7
119,9
123,9
123,4
-0,5
-1,5
Trong đó nước Mỹ
101,8
90,1
92,4
91,4
-1
-0,4
Các nước Nam Mỹ
39,1
37,4
40,8
43,34
2,5
6,2
Trong đó Braxin
27,8
26,7
29,6
31,1
1,5
5,1
Các nước châu Phi
12,8
46,3
0,9
2
Ấn Độ
26,9
27,3
28,8
31,8
3
10,4
Đài Loan
16,8
17,2
18,2
18,9
0,7
3,8
Iran
6,6
6,9
7,3
7,9
0,6
8,2
Úc và Châu Đại dương
8,7
7,9
8,2
8,4
0,2
vàng [37].
Một số hoạt động khai thác khoáng sản ở Australia đã gây ra các tác động
trực tiếp tới môi trường. Trước hết, các vật liệu thải được sản sinh ra trong quá trình
khai thác có thể xâm nhập vào các nguồn nước gần đó hoặc ngấm vào đất gây ô
nhiễm môi trường. Thứ hai, việc loại bỏ các loại động vật và thực vật trong khu vực
mỏ gây ra các khoảng trống trong chuỗi thức ăn đối với động vật cũng như các vấn
đề liên quan đến sự sinh trưởng của các loại thực vật sau khi dừng khai thác mỏ. Để
giảm thiểu sự hủy hoại môi trường, hiện nay các công ty khai thác mỏ bắt buộc phải
thực hiện lập báo cáo tác động môi trường và phải có kế hoạch phục hồi môi trường
tại các khu vực khai thác.
10
Sau đây là ví dụ về các tác động tới môi trường và giải pháp PHMT tại mỏ
Beenup phía Đông Bắc Augusta, miền bờ biển phía Tây - Nam của miền Tây nước
Australia như trình bày dưới đây [40]:
Hình 1.1: Moong khai thác cạnh biển của Australia
Hình 1.2: Moong khai thác cạnh biển của Nga
Tác động của khai thác mỏ tới môi trường tại khu vực mỏ Beenup
Khu mỏ tian nằm cách thành phố Augusta 17 km, gần biển và ở gần nơi hợp
lưu giữa hai dòng sông Scott và Blackwood, liền kề với công viên quốc gia Scott.
Đây là khu vực có đa dạng sinh học cao.
Tại khu mỏ Beenup các tác động môi trường đáng lo ngại đó là tác động đến
công viên quốc gia Scott (nơi có đa dạng sinh học cao) và hai dòng sông Scott và
Blackwood. Các tác động đã được xác định bao gồm: suy giảm nguồn nước, tăng
bênh tật cho thực vật (cụ thể là mầm bệnh Phytophthora cinnamomi), phá hủy nơi
cư trú của các loài sinh vật hoang dã, nước thải mỏ thải vào nguồn nước mặt gây
11
xáo trộn dòng chảy và biến đổi chất lượng nước. Đi sâu hơn về các tác động như
sau:
Phá hủy nơi cư trú của các loài sinh vật, suy giảm đa dạng sinh học:
Mặc dù tác động này được xác định, tuy nhiên vẫn chưa có số liệu điều tra về
quặng từ khu mỏ tới vịnh Bunbury.
Điều tra kỹ về hệ động, thực vật trước khi khai thác và phục hồi môi trường
sau khai thác về gần như nguyên hiện trạng ban đầu; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
các loài bản địa phát triển. Như vậy phục hồi môi trường tại khu vực này thực chất
là phục hồi sinh thái.
Phục hồi môi trường tại mỏ Beennup:
Cộng đồng quan tâm nhiều tới vấn đề phục hồi môi trường tại khu vực mỏ.
Nhóm tư vấn Beenup đã mời cộng đồng tham gia trong xây dựng kế hoạch phục
hồi. Các thành viên tham gia trong quá trình phục hồi bao gồm Hội đồng Shire,
cộng đồng địa phương và công ty BHP Billiton.
Khu vực phục hồi bao gồm 336ha đất bị xáo trộn và 50ha hồ đã bị suy thoái;
một khu vực rộng lớn chứa các vật liệu khai thác từ hồ và hai hồ dùng để dự trữ đất
sét. Có nhiều giải pháp đã được đưa ra để xem xét; phục hồi cần đảm bảo duy trì
chất lượng nước sông và quản lý pirit – một khoáng sunfua tự nhiên mà khi tiếp xúc
với không khí và nước có khả năng bị oxy hóa tạo thành axit. Sau khi tham khảo ý
kiến của cộng đồng, kế hoạch phục hồi đã được phê duyệt vào cuối năm 1999. Khu
vực phục hồi sẽ bao gồm 80% diện tích là thực vật bản địa và đất ngập nước và
20% là diện tích đồng cỏ. Điều này cho phép việc giữ lại nguyên trạng các hồ sau
khi khai thác. Hơn 2,5 triệu tấn cát được vận chuyển tới từ các kho dự trữ và các nơi
khác để tiến hành bao lại bờ hồ.
Đất ngập nước trong khu vực chính là nơi cư trú thích hợp khuyến khích sự
phát triển của hệ động, thực vật. Các vùng đất ngập nước cùng với việc sử dụng
rộng rãi vôi sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong quản lý lâu dài pirit tránh sự tạo thành
của dòng thải axit. Bên cạnh đó các hồ còn giúp điều tiết các dòng chảy mặt, các
đập được xây dựng để liên kết các vùng đất ngập nước giúp thu giữ nước và chuyển
dòng chảy chính tới sông Blackwood. Các đập dâng còn là yếu tố kiểm soát mức độ
13
nước giúp giảm thiểu lũ lụt và xói mòn. Trồng nhiều lau, sậy trong khu vực để tăng
cường khả năng lọc sinh học trên đường đi của các dòng nước.
Chương trình tái phủ xanh thảm thực vật được thực hiện dựa trên việc tuyên
mặt sau đó được lưu trữ. Các hố khai thác trước đó trở thành các diện tích lưu trữ
cát thải sau khi khai thác và tuyển trọng lực. Các khoáng chất nặng được tách ra;
trên 90% lượng cát thải được trả lại sau Quá trình phục hồi hệ sinh thái phụ thuộc
nhiều vào sự thành công ban đầu và sau đó hệ sinh thái có thể phát triển tự nhiên.
Khu vực ven biển bị suy thoái đã có thể phục hồi lại thảm thực vật một cách tự
nhiên. Điều này chỉ ra rằng nếu tiếp cận trong phục hồi hệ sinh thái theo hướng này
là hoàn toàn có thể thực hiện được. Lớp đất mặt dự trữ sẽ được san gạt trên bề mặt
của lớp quặng đuôi với độ dày khoảng 10cm. Sau đó, tiến hành xây dựng hàng rào
để chắn gió (hàng rào bằng vải) bao quanh khu vực gieo hạt giống (các hạt giống
được lựa chọn có khả năng nảy mầm nhanh). Các cây giống này sau đó sẽ là lớp
bảo vệ giúp cho sự nảy mầm của các loại thực vật bản địa nảy mầm chậm hơn trước
gió và nhiệt độ. Các loài này gọi là loài tiên phong.
Bảng 1.3: Hiện trạng phục hồi môi trường tại cồn cát ở Zululand, Nam Phi
Từ 5 đến <8 năm
Từ 8 đến 11 năm
Từ 11 đến 16 năm
Loài tiên phong
Acacia karoo thân
cỏ cao từ 1,5m đến
3m; Vepris
Lanceolata;
Brachylaena
discolor; Cỏ
Panicum
maxima và
Digitaria
diversinerva.
Acacia karoo thân
gỗ cao từ 3m đến
8m tán dày bao
tại Nam Phi khẳng định rằng việc lưu giữ các loài bản địa thực hiện thông qua việc
lưu giữ lớp đất mặt là vô cùng quan trọng. Lớp đất mặt được lưu giữ sau này được
sử dụng để các hệ sinh thái có thể phát triển tự nhiên trở về nguyên hiện trạng ban
đầu trước khai thác. Tại Nam Phi, thay vì trồng vườn ươm để đẩy nhanh tốc độ
phục hồi như ở Úc; Nam Phi đã tiến hành trồng các loài cây tiên phong (nảy mầm
nhanh) để trở thành lớp bảo vệ cho các loài thực vật bản địa nảy mầm chậm hơn.
1.4. Tổng quan về tình hình khai thác và chế biến quặng sắt tại Việt Nam
Tính đến nay trong cả nước, ngành địa chất đã phát hiện và khoanh định
được trên 216 điểm lớn, nhỏ có quặng sắt. Tiềm năng quặng sắt của Việt Nam là
không nhiều, tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo có khoảng 1,2 tỷ tấn. Trong đó
tổng trữ lượng theo báo cáo kết quả tìm kiếm và thăm dò là 757,23 triệu tấn bao
gồm: trữ lượng cấp A+B+C
1
là: 563 triệu tấn; trữ lượng cấp C
2
là 194 triệu tấn.
Quặng sắt ở Việt Nam phân bố tương đối rộng, nhưng không đồng đều, chỉ
tập trung chủ yếu ở miền núi phía Bắc như: Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Bắc Kạn, Cao
Bằng, Lào Cai, Hà Giang và rải rác ở một số khu vực khác thuộc tỉnh Quảng Ninh,
Tuyên Quang, Yên Bái, Hoà Bình, Lai Châu, Sơn La, các tỉnh Trung Bộ như Nghệ
An, Thanh Hoá
16
Có 6 mỏ và khu vực chứa quặng sắt tương đối lớn và tập trung là: Thạch Khê
(Hà Tĩnh), Quý Xa (Lào Cai), Trại Cau, Tiến Bộ (Thái Nguyên), Ngườm Tráng, Nà
Lũng (Cao Bằng) có trữ lượng địa chất khoảng 850 triệu tấn và trữ lượng chắc chắn
có thể khai thác được đánh giá khoảng trên 400 triệu tấn.
Theo kết quả điều tra thăm dò nhận thấy, mỏ sắt Thạch Khê – Hà Tĩnh là mỏ
có trữ lượng lớn nhất (544 triệu tấn), tiếp đến là mỏ sắt Quý Xa – Lào Cai (120 triệu
tấn), đây là hai mỏ có thể khai thác và cung cấp lâu dài cho Khu liên hợp luyện kim
quy mô lớn.