THỰC TRẠNG LY HÔN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ LY HÔN TẠI HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA LUẬT HỌC

BÙI THỊ DUYẾN
THỰC TRẠNG LY HÔN
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ LY HÔN
TẠI HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đà Lạt, tháng 5 năm 2013
Để hoàn thành tốt được chuyên đề “ Thực trạng ly hôn và một số giải pháp
nhằm hạn chế ly hôn tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”, tác giả xin gửi lời
cảm ơn chân thành đến quý thầy cô và quý cơ quan.
Trước hết tác giả xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô
giáo trong Khoa Luật - Trường Đại học Đà Lạt, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Vân Anh
là người đã trực tiếp hướng dẫn, đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tác giả trong suốt
quá trình tác giả thực tập và nghiên cứu để hoàn thành tốt chuyên đề tốt nghiệp của
mình. Đồng thời tác giả xin chân thành cảm ơn Toà án nhân dân huyện Nho Quan,
tỉnh Ninh Bình và các chú, các bác, các anh, các chị trong Toà án đã tạo điều kiện
thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành tốt chuyên đề trong thời gian thực tập.
Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu của chuyên đề cũng như đây là lần đầu
nghiên cứu của tác giả do đó không tránh khỏi những sai sót, hạn chế của đề tài. Do
đó tác giả mong mọi sự góp ý chân thành của các thầy cô cũng như của những
người đọc chuyên đề này để đề tài nghiên cứu của tác giả được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đà lạt, ngày tháng năm 2013
Bùi Thị Duyến
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Thực trạng ly hôn và một số giải pháp nhằm hạn chế ly hôn tại
huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi
với sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tổ chức, hoàn toàn không có sự sao chép, giả
mạo của tác giả khác. Các nguồn tài liệu trích dẫn, số liệu sử dụng và nội dụng

phát triển nền kinh tế - xã hội. Số lượng gia đình văn hoá ngày một lớn.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực đó thì các vụ án ly hôn vẫn ngày một tăng
và phổ biến. Thực trạng này kéo theo những hậu quả mang tính tiêu cực
không chỉ về mặt đạo đức mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế - xã hội
của huyện.
Trước thực trạng đáng lo ngại, cũng như tác hại của vấn đề ly hôn đối với xã
hội. Tác giả thực hiện chuyên đề này, với các kiến thức được các thầy cô
giáo bộ môn Luật hôn nhân và gia đình truyền dậy, cũng như quá trình
nghiên cứu của bản thân, muốn đóng góp một phần công sức của mình vào
việc hạn chế, khắc phục tình trạng ly hôn. Để huyện Nho Quan ngày một
phát triển mạnh mẽ, xứng đáng hơn nữa với truyền thống tốt đẹp của quê
hương, giữ vững và phát triển bản sắc văn hoá để góp phần vào công cuộc
phát triển chung của đất nước.
Trong quá trình thực tập và nghiên cứu ở địa phương mình do kinh nghiệm
còn hạn chế trong việc tìm hiểu, thu thập và đánh giá thông tin một cách hệ
thống và khoa học còn nhiều hạn chế nên đề tài của em còn có những thiếu
sót là không thể tránh khỏi. Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự sửa chữa,
đóng góp, bổ sung từ phía các thầy cô giáo cũng như các bạn sinh viên, để
tác giả có một nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề này, để từ đó áp dụng vào
thực tiễn có hiệu quả hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
1. Lý do chọn đề tài
Để góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình
tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho các ứng xử của các thành viên trong gia
đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và
phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình ấm
no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Kể từ khi ra đời cho đến nay, được sự
quan tâm của Đảng, Nhà nước ta luôn chú ý đến việc xây dựng và hoàn thiện các
quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959,
1986 và năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình ngày càng hoàn thiện, đáp ứng với

Bình được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004 điều chỉnh. Tuy nhiên qua tình hình thị lý, giải quyết án tại Toà nơi thực tập,
đề tài này đi sâu nghiên cứu các cá nhân tham gia vào quan hệ Ly hôn đã được Toá
án giải quyết trong những năm gần đây.
4. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài phải dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin với phép biện chứng lịch sử và biện chứng duy vật gắn với thực tiễn
Việt Nam trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng về
Nhà nước và pháp luật.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu chuyên đề còn sử dụng phương pháp phân tích
tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp đánh giá đối chiếu kết hợp nhận xét
để làm rõ các quy định của pháp luật về ly hôn.
5. Bố cục của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của chuyên đề được trình
bày trong hai chương.
Chương I. Những vấn đề lý luận về ly hôn
1.1. Khái niệm về ly hôn
1.2. Căn cứ cho ly hôn
1.3. Quyền yêu cầu Toà án giải quyết các vụ, việc Hôn nhân và gia đình,
thẩm quyền giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình của Toà và thủ tục giải
quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình.
1.4. Thủ tục giải quyết các vụ, việc Hôn nhân và gia đình tại Toà án.
Chương II. Thực trạng ly hôn tại Toà án nhân dân và một số kiến nghị và
giải pháp nhằm hạn chế ly hôn tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
2.1. Giới thiệu chung
2.2. Tình hình ly hôn tại địa phương
2.3. Đường lối giải quyết vụ, việc hôn nhân và gia đình
2.4. Nguyên nhân ly hôn
2.5. Một số giải pháp nhằm hạn chế ly hôn
2.6. Những vấn đề còn tồn tại ở địa phương

động đến quan hệ hôn nhân trong thời điểm giải quyết ly hôn, để kết hợp đúng đắn
đường lối chính sách cụ thể của Đảng và Nhà nước đối với việc giải quyết từng loại
án kiện về ly hôn.
Hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ năm 1945
đến nay quy định vấn đề ly hôn với quan điểm vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do ly
hôn chính đáng của vợ chồng, vừa quy định giải quyết ly hôn có lý, có tình; bằng
pháp luật Nhà nước kiểm soát quyền tự do ly hôn của vợ chồng vì lợi ích gia đình
và xã hội.
Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân. Nếu kết hôn là hiện tượng bình
thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là
mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã
thực sự tan vỡ. Trong trường hợp đó, ly hôn là một việc cần thiết cho cả vợ chồng
và cho xã hội; vì nó giải phóng cho tất cả mọi người, cho cả vợ, chồng, các con
cũng như những thành viên trong gia đình thoát khỏi xung đột, mâu thuẫn bế tắc
trong cuộc sống chung. Thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ, bảo
đảm quyền tự do hôn nhân bao gồm quyền tự do kết hôn của nam, nữ và quyền tự
do ly hôn của vợ chồng. Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, quyền yêu cầu
ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật là quyền nhân thân gắn
liền với nhân thân của vợ, chồng; chỉ có vợ hoặc chồng hay cả hai vợ chồng mới có
quyền yêu cầu ly hôn; và cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét xử ly hôn là Toà án
nhân dân.
Pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính
đáng của vợ chồng, không thể cấm hoặc đặt ra những điều kiện nằm hạn chế quyền
tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành vi
có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình. Nhà nước bằng pháp
luật không thể cưỡng ép nam nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không
thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi
tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể
đạt được. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan
vỡ. Điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia

1.2. Căn cứ cho ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
1.2.1. Khái niệm
Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp
sâu sắc. Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau,
giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật (hay tục lệ ) quy định chế
độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nhà nước. Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy
định trong những điều kiện nào thì cho phép xác lập quan hệ vợ chồng, đồng thời
xác định trong những điều kiện, căn cứ nhất định mới được phép xoá bỏ (chấm dứt)
quan hệ hôn nhân. Đó chính là căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật của
Nhà nước.
Như vậy, căn cứ ly hôn là những tình tiết (điều kiện) được quy định trong
pháp luật và chỉ khi có những tình tiết (điều kiện) đó, Toà án mới xử cho ly hôn.
Ly hôn là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp. Do có quan điểm khác nhau
về việc quy định và giải quyết ly hôn, cho nên căn cứ ly hôn được quy định trong
pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa có nội dung khác về bản chất so với căn
cứ ly hôn do nhà nước phong kiến, tư sản đặt ra. Pháp luật của nhà nước, tư sản quy
định có thể cấm ly hôn (không quy định căn cứ ly hôn mà chỉ công nhận quyền vợ
chồng được sống tách biệt nhau (biệt cư) bằng chế định ly thân; hoặc hạn chế quyền
ly hôn theo thời gian xác lập quan hệ hôn nhân, theo độ tuổi của vợ chồng; và
thường quy định xét xử ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng hay của cả hai vợ
chồng (các điều kiện có tính chất hình thức, phản ánh nguyên nhân mâu thuẫn vợ
chồng, chứ không phải bản chất hôn nhân đã tan vỡ). Vấn đề xét xử ly hôn của Toà
án là một việc làm thụ động, hoàn toàn do ý chí của đương sự quyết định.
Luật hôn nhân và gia đình các nước xã hội chủ nghĩa quy định giải quyết
việc ly hôn theo đúng thực chất của vấn đề, hoàn toàn không dựa vào lỗi của vợ
chồng, trên cơ sở nhìn nhận khách quan, đánh giá đúng thực chất của quan hệ hôn
nhân đã hoàn toàn tan vỡ. Nhà nước xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền tự do ly hôn
chính đáng của vợ, chồng nhưng chỉ giải quyết cho vợ chồng ly hôn khi quan hệ
hôn nhân về thực chất đã hoàn toàn tan vỡ, mục đích của hôn nhân đã không thể đạt
được, theo quan điểm: “ Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: Cuộc hôn nhân

hôn bất bình đẳng giữa vợ chồng trong các bộ dân luật của Nhà nước thực dân
phong kiến trước đó. Điều 2 của Sắc lệnh đã quy định 5 duyên cớ ly hôn chung cho
cả vợ chồng là: Ngoại tình, một bên can án phạt giam, một bên mắc bệnh điên hoặc
một bệnh khó chữa khỏi, một bên bỏ nhà đi quá 2 năm không có duyên cớ chính
đáng, vợ chồng tính tình không hợp hoặc đối xử với nhau đến nỗi không thể sống
chung được. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm mang tính dân chủ và tiến bộ của
một nền pháp chế mới, Sắc lệnh số 159/SL quy định căn cứ ly hôn vẫn dựa trên cơ
sở “lỗi” của vợ chồng. Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 (Điều 26), Luật hôn
nhân và gia đình năm 1986 (Điều 40) và hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 (Điều 89) đã quy định căn cứ ly hôn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam không quy định những căn cứ ly hôn
riêng biệt mà quy định căn cứ ly hôn chung nhất, dựa vào bản chất của quan hệ hôn
nhân đã tan vỡ. Trong mọi trường hợp đã ly hôn, dù ly hôn do một bên vợ, chồng
yêu cầu hay hai vợ chồng thuận tình ly hôn, Toà án nhân dân đều phải tiến hành
điều tra và hoà giải nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, vợ chồng đoàn tụ hạnh phúc,
chỉ khi nào xét thấy quan hệ vợ chồng đã thực sự đến mức “ tình trạng trầm trọng,
đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” thì Toà
án mới giải quyết cho ly hôn. Đó là nội dung căn cứ ly hôn theo Luật hôn nhân gia
đình Việt Nam.
1.2.2. Nội dung căn cứ ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Khi vợ, chồng hay cả hai vợ chồng có yêu cầu ly hôn, sau khi thụ lý vụ kiện,
Toà án phải tiến hành điều tra và hoà giải, nếu hoà giải không thành và xét thấy
giữa vợ chồng đã có mâu thuẫn sâu sắc, tình cảm yêu thương giữa vợ chồng không
còn nữa, mục đích của hôn nhân không đạt được, Toà án mới giải quyết cho ly hôn.
Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
“ 1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết
định cho ly hôn.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly
hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”.

chồng hoặc người vợ hay bà con thân thích của họ, hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở,
khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có hành vi ngoại tình.
a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được,
thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như
hướng dẫn tại điểm a.1. mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hòa
giải nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly
thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau
thì có căn cứ đẻ nhận định rằng đời sống chung của vợ chồn không thể kéo dài
được”
khi thực tế quan hệ vợ chồng ở trong “ tình trạng trầm trọng, đời sống chung ko thể
kéo dài” thì thường đẫn tới hậu quả làm cho “ mục đích của hôn nhân không đạt
được”. mục đích của hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là xây dựng gia đình
no ấm, bình đẳng , tiến bộ, hạnh phúc, bền vững ( Điều 1 luật hôn nhân và gia đình
năm 2000). Tờ trình về dự luật hôn nhân và gia đình năm 1959 của chính phủ trước
quốc hội: “ mục đích của hôn nhân trong chế đọ ta là xây dựng những gia đình hạnh
phúc, dân chủ và hòa thuận, trong đó mọi người thương yêu, tương trợ, giúp đỡ
nhau cùng tiến bộ và đảm bảo cho nòi giống được lành mạnh, tương lai con cái
được tốt đẹp, cho xã hội được phát triển thịnh vượng và làm cho mọi người trong
gia đình đều phấn khởi lao đọng sản xuất, cùng nhau cải thiện đời sống và kiến thiết
tổ quốc”. Điều đó thể hiện mối liên hệ hài hòa, gắn bó giữa mặt riêng tư và mặt xã
hội trong quan hệ hôn nhân .
Mặt riêng tư trong quan hệ hôn nhân là hạnh phúc của bản thân vợ chồng trong
quan hệ hôn nhân. Hạnh phúc của vợ chồng không phải chỉ có tình yêu giữa vợ
chồng với nhau mà còn bao gồm nhiều mặt trong đời sống của vợ chồng nói riêng
và gia đình nói chung. Trong hạnh phúc vợ chồng còn có niềm vui sướng tự hào và
trách nhiệm đối với gia đình và xã hội mà họ đã làm tròn.
Lợi ích của xã hội trong hôn nhân thể hiện ở sự tồn tại vững bền của bản
thân mối quan hệ hôn nhân của mỗi cặp vợ chồng. Không chỉ vợ chồng, các con mà
cả Nhà nước và xã hội đều quan tâm tới việc xây dựng và củng cố quan hệ hôn
nhân, làm sao cho hôn nhân được bền vững, gia đình hòa thuận, hạnh phúc. Sự bền

giữa vợ chồng đã có mâu thuẫn sâu sắc, họ không còn muốn sống chung, thậm chí
không muốn nhìn mặt nhau nữa.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:
“Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn
thì tòa án giải quyết cho ly hôn” (khoản 2 Điều 78 Bộ luật dân sự năm 2005). Quy
định này đã cụ thể hóa hậu quả của việc Tòa án tuyên bố công dân bị mất tích trong
Bộ luật dân sự của Nhà nước ta. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, việc chồng
hoặc vợ bị mất tích đã làm ảnh hưởng sâu sắc tới quan hệ vợ chồng và các thành
viên trong gia đình. Cần phải giải phóng cho vợ, chồng thoát khỏi “hoàn cảnh đặc
biệt” này, khi họ có yêu cầu được ly hôn với người chồng (vợ) đã bị tòa án tuyên bố
mất tích.
Như vậy, căn cứ ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 của Nhà
nước ta được dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, có cơ sở khoa học và
thực tiễn kiểm nghiệm trong mấy chục năm qua, từ khi Nhà nước ta ban hành Luật
hôn nhân và gia đình năm 1959. Khi giải quyết ly hôn, không thể hiểu đơn thuần
“tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được” là tình yêu giữa vợ chồng không còn nữa mà điều đó nói lên một
thực trạng hôn nhân đã tan vỡ, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại được nữa, vì “sự
tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối” và ly hôn là một giải pháp tích cực để giải
phóng cho vợ chồng cũng như các thành viên khác trong gia đình khỏi cảnh “bất
bình thường” đó, bảo đảm lợi ích của vợ chồng, của gia đình và của xã hội.
1.3. Quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ, việc hôn nhân và gia đình và
thẩm quyền giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình của Tòa án; Thủ tục
giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án
1.3.1.Quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ, việc hôn nhân và gia đình
Theo quy định tại Điều 15 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì
những người sau đây có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật:
1. Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng
dân sự có quyền tự ḿnh yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án
hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 9

4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét,
yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy,
xúi giục ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tùy từng
trường hợp cụ thể Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ
chức quy định tại Điều 42 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ra quyết định
không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con
hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Tòa
án có thể xem xét rút ngắn thời hạn này.
Theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì những người sau
đây có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng:
1. Người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó theo quy định
của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện
kiểm sát yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu
cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực
hiện nghĩa vụ đó.
3. Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có
quyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án buộc
người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:
a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
b) Hội liên hiệp phụ nữ.
4. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét,
yêu cầu Toà án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải
thực hiện nghĩa vụ đó.
Theo quy định tại Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình thì những người sau
đây có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã

Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên, người chồng không có quyền yêu cầu xin
ly hôn khi vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Luật chỉ quy định
“vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”; do đó, khi người vợ đang
thuộc một trong các trường hợp này (không phân biệt người vợ có thai với ai hoặc
bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), mà người chồng có yêu cầu xin ly hôn, thì
giải quyết như sau:
Thứ nhất, Trong trường hợp chưa thụ lý vụ án thì Toà án áp dụng điểm 1
Điều 36 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trả lại đơn kiện cho người
nộp đơn.
Thứ hai, Trong trường hợp đã thụ lý vụ án thì Toà án cần giải thích cho
người nộp đơn biết là họ chưa có quyền yêu cầu xin ly hôn. Nếu người nộp đơn rút
đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án áp dụng điểm 2 Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu người nộp
đơn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ
tục chung và quyết định bác yêu cầu xin ly hôn của họ.
1.3.3. Thẩm quyền giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình của Tòa
án
1.3.3.1. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án
Theo quy định tại Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự thì những tranh chấp về
hôn nhân và gia đình sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: “1. Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
5. Tranh chấp về cấp dưỡng.
6. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định.”
1.3.3.2. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án
Theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thì những yêu cầu về

Theo khoản 1 Điều 36 của Bộ luật tố tụng dân sự thì nguyên đơn có quyền
lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình trong các trường hợp
sau đây: “a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn
có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị
đơn có tài sản giải quyết;
b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên
đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải
quyết;
c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về
tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú,
làm việc giải quyết;
d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có
thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây
thiệt hại giải quyết;
đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao
động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập
và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao
động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc
người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi người sử dụng
lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có
vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;
g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì
nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ
sở giải quyết;
i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác
nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải
quyết.”

chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp ; nếu có người vắng
mặt thì tòa án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiếp tục phiên họp.
Thủ tục tiến hành phiên họp dân sự để giải quyết việc dân sự về hôn nhân và
gia định cụ thể tại Điều 314 Bộ Luật tố tụng dân sự.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG LY HÔN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI
PHÁP NHẰM HẠN CHẾ LY HÔN TẠI HUYỆN NHO QUAN – TỈNH NINH
BÌNH
2.1. Giới thiệu chung
Nho Quan là một huyện miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Ninh Bình. Phía Bắc
giáp các huyện Yên Thủy và Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình, phía Đông giáp các huyện
Gia Viễn, Hoa Lư, phía Nam giáp thị xã Tam Điệp, phía Tây giáp huyện Thạch
Thành tỉnh Thanh Hoá. Nho Quan có diện tích tự nhiên gần 460 km² và dân số
148.514 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 17%, chủ yếu là người
dân tộc Mường với 17%. Nho Quan gồm có thị trấn Nho Quan và 26 xã. Nho Quan
là một vùng quê có truyền thồng lâu đời với nền kinh tế thuần nông, nhân dân chủ
yếu sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp, đời sống nhân dân so với mặt bằng chung
của đất nước vẫn thuộc diện khó khăn. Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật
của nhân dân trên địa bàn còn nhiều hạn chế. Tình hình an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội trên địa bàn trong những năm qua diễn biến phưc tạp, các hành vi vi
phạm pháp luật ngày càng gia tăng cả về số lượng vụ việc và tính chất phức tạp, các
tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại ngày càng gia
tăng. Đặc biệt là các vụ, việc về ly hôn ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển
kinh tế-xã hội của huyện.
2.2. Tình hình ly hôn tại địa phương
Hoà chung với nhịp phát triển của toàn xã hội cũng như của đất nước. Những
năm gần đây huyện Nho Quan đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển
kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân và nền dân trí ngày càng được nâng cao. Tuy
nhiên, huyện Nho Quan cũng phải chịu những ảnh hưởng bởi mặt trái của xã hội
trong mọi lĩnh vực. Trong đó lĩnh vực Hôn nhân và gia đình cũng phải chịu những
sức ép hết sức nặng nề. Tình trạng ly hôn trên địa bàn huyện ngày càng diễn biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status