Trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên
Khoa Môi trường
~o0o~
TIỂU LUẬN
Môn : TRỒNG TRỌT
Chủ đề: CÂY LẠC
Sinh viên: Đàm Tuấn Anh
Giáo viên HD: PGS.TS Lê Văn Thiện
Hà Nội – 29/3/2011
Mục lục
1
CÂY LẠC
1. GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Cây lạc ở Việt Nam
Lạc là cây hoa màu có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới ( từ Trung và Nam Mỹ)
lạc thuộc cây bộ đậu đỗ , thân thảo … và hiện nay Lạc được trồng khá phổ biến ở
Việt Nam và cho năng xuất và hiệu quả kinh tế cao.Lạc thích hợp với những loại
đất có thành phần cơ giới nhẹ và thoát nước tốt , như đất cát pha , đất thị nhẹ …và
được trồng ở đồng bằng Bắc bộ ,Trung bộ ,Tây Nguyên và Nam bộ. Theo kết quả
của thống kê của tổng cục thống kê thì tổng diện tích trồng lạc của cả nước đạt
269.600 ha và tổng sản lượng đạt được là 489.300 tấn ( năm 2005) , và theo dự
kiến đến năm 2010 thì tổng diện tích sẽ lên tới 330.000 ha và tổng sản lượng ước
2
tính sẽ đạt được là 550.000- 560.000 tấn. Điều đó đã nói lên được khả năng thích
nghi và vai trò của cây lạc trong nền nông nghiệp ,và đóng góp vào thu nhập của
người nông dân nói riêng và thu nhập chung của nên kinh tế quốc dân trong cả
nước.
Ngoài việc tạo năng xuất và hiệu quả kinh tế cao thì cây lạc cũng là một loại
cây trồng có khả năng cải tạo đất rất tốt ( đó là nhờ sự cộng sinh của nhóm vi
khuẩn cộng sinh với lạc ở rễ , chúng có khả năng cố đinh đạm từ nguồn N
2
cây , và phần đây của nhân lạc có 1 đỉnh nhỏ đó chính là phôi nó sẽ phát triển
thành cây lạc.
Cây lạc có một đặc điểm cấu tạo rất nổi bật ở rễ ( và đặc điểm này phổ biến
trong các cây thuộc bộ đậu) đó là khả năng công sinh của rễ cây lạc với một nhóm
vi khuẩn cố định đạm có tên khoa học là Rhizobium vigna ( hay còn gọi là vi khuản
nốt sần) nó cộng sinh và phát triển trong rễ cây lạc và tạo nên những nốt sần trên rễ
4
cây lạc , và khi dùng dao cắt những nốt sần này ra thì ta thấy màu hồng nhạt bên
trong nốt sần đang hoạt động.
Ban đầu khi cây lạc mới mọc thì lúc đó nốt sần chưa được hình thành , nốt sần
được hình thành trong quá trình bộ rễ của cây lạc phát triển và Rhizobium xâm
nhập vào rễ thông qua những nhu mô nơi chóp rễ hoặc là những nhu mô hình thành
ở lông hút của rễ hay là những tế bào biểu bì bị thương… ( vì đó là nơi tập trung
nhiều chất dinh dưỡng và những đường đơn cần thiết cho các hoạt động khởi đầu
của chúng như sinh trưởng và sinh sản và sau là quá trình cố định đạm) . Như vậy
khi cộng sinh với cây bộ đậu thì chi vi khuẩn Rhizobium nhận năng lượng ATP và
các chất khử NADH
2
từ cây họ đậu và khử N
2
thành dạng NH
3
hoặc dạng N hữu
cơ cung cấp cho cây sử dụng , nhưng lúc nó mới xâm nhiễm vào rễ thì nó cũng cần
một lượng N cần thiết cho quá trình sinh trưởng ,phát triển tổng hợp các yếu tố cần
thiết cho quá trình khử N
2
như enzim và các yếu tố khác…Nếu trong qua trình này
mà không cung câp đủ đạm cho cây thì sẽ xảy ra hiện tượng thiếu đạm và cây kém
đậu phát triển tốt nhưng cường độ cố định nitơ lại kém.
- pH môi trường cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và chất lượng nốt sần. Có loại
chỉ hình thành nốt sần ở pH = 6.8 – 7.4 có loại có khả năng hình thành nốt sần ở
pH rộng hơn 4.6 – 7.5.
- Tính đặc hiệu là một đặc điểm quan trọng trong quan hệ cộng sinh với một hoặc
vài loài vi khuẩn nốt sần chỉ có khả năng cộng sinh với một hoặc vài loài đậu.
Cũng có một số loại vi khuẩn có khả năng hình thành nốt sần ở cây đậu không đặc
hiệu với nó nhưng số lượng nốt sần ít và có khả năng cố định nitơ kém. Tuy nhiên,
đặc tính này giúp cho vi khuẩn nốt sần có thể tồn tại ở những nơi không có cây đậu
đặc hiệu đối với nó. Tính đặc hiệu giữa vi khuẩn và cây đậu được quyết định bởi hệ
gen của chúng. Bởi vậy, người ta có thể cải biến tính đặc hiệu bằng các tác nhân
đột biến hoặc có thể dùng kỹ thuật di truyền để cải biến hệ gen quy định tính đặc
hiệu cộng sinh.
- Quá trình hình thành nốt sần được bắt đầu từ sự xâm nhập của vi khuẩn vào rễ cây.
Vi khuẩn thường xâm nhập vào rễ cây qua các lông hút hoặc vết thương ở vỏ rễ
cây. Cây đậu thường tiết ra những chất kích thích sinh trưởng của vi khuẩn nốt sần
tương ứng, đó là các hợp chất cacbonhydratm các acid amin… Muốn xâm nhiễm
tốt, mật độ của vi khuẩn trong vùng rễ phải đạt tới 104 tế bào trong 1 gam đất. Nếu
xử lý với hạt đậu thì mỗi hạt đậu loại nhỏ cần 500 – 1000 tế bào vi khuẩn, hạt đậu
loại to cần khoảng 70.000 tế bào.
7
- Khi mật độ vi khuẩn phát triển tới một mức độ nhất định nó sẽ kích thích cây đậu
tiết ra enzyme poligalactorunaza có tác dụng phân giải thành lông hút để vi khuẩn
qua đó xâm nhập vào. Đường vi khuẩn xâm nhập được tạo thành do tốc độ phát
triển của vi khuẩn (sinh trưởng đến đâu, xâm nhập đến đấy) hình thành một “dãy
xâm nhập” được bao quanh bởi một lớp nhầy do các chất của vi khuẩn tiết ra trong
quá trình phát triển. Ở giai đoạn này, phản ứng của cây đối với vi khuẩn tương tự
như đối với vật ký sinh. Bởi vậy tốc độ tiến sâu vào nhu mô của dãy xâm nhập rất
chậm do phát triển của cây (chỉ khoảng 5 – 8 µm/h). Không phải tất cả các dãy
xâm nhập đều tiến tới nhu mô rễ mà chỉ một số trong chúng. Chính vì thế để hình
- Vì lý do cây lạc là một loại cây vùng nhiệt đới nên nhiệt độ thích hợp cho lạc là
khoảng từ 22-26
o
C và tổng tích ôn / năm là khoảng 9700
o
C . Lạc thích hợp với các
loại đất có thành phần cơ giới nhẹ , và có pH từ 5,5 -7 , nhằm mục đích tạo điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn nốt sần , và đất có và đất phải tơi xốp
và thoát nước tốt nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tia củ
sau khi lạc ra hoa
* Điều kiện đất đai
- Lạc không yêu cầu khắt khe về độ phì của đất. Do đặc điểm sinh lý của lạc, đất
trồng lạc phải đảm bảo cao ráo, thoát nước nhanh khi có mưa to. Thành phần cơ
giới của đất trồng lạc tốt nhất là loại đất thịt nhẹ, cát pha, để đất luôn tơi, xốp và có
độ pH từ 5,5-7 nhằm thoả mãn 4 yêu cầu của cây lạc:
o Rễ phát triển mạnh cả về chiều sâu và chiều ngang.
o Đủ ôxy cho vi sinh vật nốt sần hoạt động cố định đạm.
o Tia quả đâm xuống đất dễ dàng.
- Dễ thu hoạch
* Nhiệt độ
- Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của
lạc. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt đời sống cây lạc là khoảng 25-30
0
C và
thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của cây. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho thời
9
kỳ nảy mầm 25-30
0
C, thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng 20-30
0
- Vụ Hè - thu: Gieo tốt nhất từ 1/6-15/6 và gieo ngay sau khi thu hoạch cây trồng vụ
Xuân càng sớm càng tốt.
- Vụ Thu - đông: Thời gian gieo từ 25/8-25/9
10
2.3.Làm đất trồng lạc
Đối với đất núi:
* Cày và xới cho tơi xốp đất, tùy điều kiện đất đai và mùa vụ mà lên líp cao hay
thấp.
* Chiều ngang líp từ 1,2 – 1,5m; chiều cao líp từ 0,3 – 0,5m.
Đối với đất đồng bằng:
* Có thể trồng không lên líp, cứ 5-10 m đào một rãnh nhằm thoát nước tốt.
- Đất được cày 2-3 lần và sâu 25-30cm, cứ mỗi lần cày là 3 lượt bừa.Đất phải nhỏ,
tơi, xốp và sạch cỏ dại
- Lên luống rộng 1,0 - 1,5 m, luống cao 25 - 30 cm, trên đất bãi thoát nước có thể
trồng theo băng, mỗi băng rộng 5-6 m rạch hàng theo chiều dọc hoặc chiều ngang
luống.
- Luống lạc:
* Không phủ nilon: Rãnh sâu 15-20cm, luống rộng 2-2,5m.
* Nếu che phủ nilon: Luống rộng 1m , rãnh giữa hai luống rộng 20cm, luống có
hình lưng rùa, mỗi luống rạch 4 hàng
- Riêng đối với đất dốc lên luống theo đường đồng mức để chống xói mòn và rửa
trôi
2.4. Xử lý giống và mật độ gieo.
Xử lý giống trước khi gieo.
- Không nên bóc vỏ ra trước, chỉ bóc ra ngay khi gieo hạt. Chọn giống có tỷ lệ nảy
mầm lớn hơn 90%.
- Lượng giống tính trên 1 ha: 220 – 250 kg quả hạt khô (ẩm độ 8-9 %) .
- Xử lý hạt giống: 2 cách
* Gieo hạt đã ngâm ủ: Ngâm hạt giống trong nước 3- 4 giờ ở nhiệt độ bình
thường. Đem ủ 10 -12 giờ. Khi rễ mầm nhú ra khỏi vỏ lụa có thể trồng và đặt rễ
- Sau khi bón lót xong dùng thuốc trừ cỏ Ronsta phun ướt đều trên ruộng, dùng cuốc
gạt nhẹ đất ở 2 mép luống về phía rãnh, phủ nilon phẳng và kín đều trên mặt luống,
vét đất ở rãnh áp nhẹ vào 2 bên mép luống để cố định nilon. Dùng dụng cụ đục lỗ
(ống bơ sữa bò được cắt hình răng cưa) đục các lỗ theo khoảng cách ở trên. Hạt
được gieo trực tiếp vào các lỗ ở độ sâu 3 – 4cm.
- Bước 1: Sau khi lên luống, rạch hàng sâu 8-10cm.
- Bước 2: Bón toàn bộ phân chuồng và phân vô cơ vào rãnh đã rạch, sau đó lấp phân
để lại độ sâu 3-4cm.
- Bước 3: Dùng thuốc diệt cỏ phun lên mặt luống.
- Bước 4: Dùng cuốc gạt nhẹ đất 2 bên mép luống đã lên sẵn về phía rãnh.
- Bước 5: Phủ nilon trên mặt luống sau đó vét đất ở rãnh ập nhẹ vào 2 bên mép
luống để cố định nilon.
- Bước 6: Sau khi phủ nilon dùng dụng cụ đục lỗ theo kích thước như trên.
- Bước 7: Hạt giống được gieo vào lỗ đã đục sẵn, mỗi lỗ 2 hạt sâu 3-4cm
2.6. Cách chăm sóc
13
Bón phân cho lạc
- Lượng phân bón
+ Liều lượng phân bón tính cho 1 ha lạc là: 8-10 tấn phân chuồng + 20-30kgN +
60-90kgP
2
0
5
+ 30-60K
2
0.
+ Khi dùng phân đơn thì bón với lượng: 2,5 - 3,0 kg urê + 20 – 25 kg supe lân +
3 - 4 kg kali clorua/sào.
+ Đối với cây lạc tốt nhất là dùng dùng phân hỗn hợp NPK loại 3:9:6 bón với
lượng : 35- 50kg/sào .
khuyến cáo.
b. Sâu khoang:
15
- Triệu chứng gây hại: Phát sinh gây hại trong suốt qúa trình sinh trưởng của lạc,
ở thời kỳ đầu vụ mật độ sâu cao, cắn khuyết đến trụi lá làm ảnh hưởng đến sinh
trưởng của lạc, sâu hại nặng ở giai đoạn lạc ra hoa bói trở đi, cắn trụi lá.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Luân canh cây trồng và vệ sinh đồng ruộng.
+ Dùng bả chua ngọt để diệt trừ.
+ Bắt diệt bằng thủ công khi mật độ thấp.
+ Khi mật độ cao dùng thuốc Ofatox 40EC, Fastac theo liều khuyến cáo.
c. Rệp hại lạc:
16
- Triệu chứng gây hại: Rệp tập trung thành đám bám vào phần lá non, đọt non
của lạc chích hút dịch cây làm lạc sinh trưởng kém, quăn queo, ra hoa đâm tia kém.
Rệp phát sinh nhiều trong điều kiện thời tiết có mưa phùn, ruộng lạc ẩm ướt, rậm
rạp.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Vệ sinh đồng ruộng và bón phân cân đối.
+ Dùng thiên địch để diệt trừ.
+ Khi rệp phát triển nhiều thì dùng Ofatox 50EC, Trebon 10EC theo liều
khuyến cáo để diệt rệp.
d. Sâu cuốn lá:
17
- Triệu chứng gây hại: Sâu cuốn lá lạc gặm ăn hết biểu bì để lại lá non màu
trắng, nếu mật độ cao làm ảnh hưởng đáng kể đến năng suất lạc.
- Biện pháp phòng trừ
+ Tổ chức bắt bằng thủ công.
+ Sử dụng thuốc hoá học như: Match 50ND, Sherpa 25 EC Theo liều khuyến
cáo.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Xử lý đất bằng vôi bột.
+ Luân canh sau 2 vụ mới trồng lạc trở lại đối với đất trồng lạc bị nhiễm bệnh
nặng.
+ Khi bị nặng dùng thuốc Rovral 50WP, Ridomil…theo liều khuyến cáo
c. Bệnh hạt lép
- Nguyên nhân
Xảy ra do quá trình chăm sóc và bón phân không cân đối ( theo các nhà khoa
học ngành đất Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã chỉ ra rằng: Với năng suất trung
bình, mỗi ha thu hoạch từ 1,5-2 tấn lạc vỏ thì nên bón 20-30 kg N, 60-90 kg P2O5
và 30-60 kg K2O. Nếu bón nhiều đạm thì cây chỉ tăng sinh khối chất xanh (thân,
lá), trong khi làm giảm năng suất. Tỷ lệ N: P2O5 thích hợp có thể thay đổi từ 1:2
20
đến 1:3, nghĩa là cứ bón 1 kg N thì phải bón 2-3 kg P2O5 tùy loại đất. Tỷ lệ N:
K2O có thể giữ ở mức 1:2 (30 kg N và 60 kg K2O).
Can xi cũng là một trong những nguyên tố quyết định năng suất mà cây lạc cần
nhiều cho việc hình thành vỏ quả (củ), hạt (nhân). Dân gian có câu “Không lân,
không vôi thì thôi trồng lạc”. Bón vôi là để cung cấp can xi nhằm làm giảm độ
chua của đất, cải tạo đất, tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn Rhizobium hoạt
động giúp cho cây sinh trưởng, phát triển tốt, tổng hợp được nhiều khí ni tơ từ khí
trời thông qua các nốt sần trên hệ rễ, tăng cường lượng đạm cho cây. Ngoài ra,
thiếu các nguyên tố vi lượng cộng với tác động thời tiết, sâu bệnh là những nguyên
nhân góp phần làm nên hiện tượng lạc lép hoặc lạc không nhân nói trên.)
- Vì đây không phải là bệnh của lạc nó chỉ xảy ra do cách chăm sóc không hợp lý nó
tương tự như hiện tượng lốp ở lúa do thừa đạm
- Biện pháp khắc phục
Để khắc phục hiện tượng trên, bạn và bà con nông dân cần chú ý làm tốt một số
điểm sau đây:
1. Ngay từ vụ này, nên cày vùi toàn bộ diện tích lạc không có nhân hoặc nhân bị
lép, kém chất lượng (kể cả trồng xen lẫn trồng thuần) kết hợp bón rải từ 400-500
thành "thủ phủ" của cây lạc. Cứ vào vụ lạc xuân hàng năm, chỉ cần đi dọc tuyến
QL1A, QL46, QL7 là có thể nhìn thấy những cánh đồng lạc bát ngát, thẳng cánh
cò bay. Do cây lạc mang lại lợi ích kinh tế lớn cho người dân nên các giống lạc địa
phương như lạc Sen, lạc Cúc năng suất thấp đã dần được thay thế bằng các loại
giống lạc mới có năng suất cao như L14, L18, MĐ7, L08, L24…
Năng suất lạc xuân ở Nghệ An đã được nâng cao dần, hiện gần chạm ngưỡng
bình quân 200kg/sào (4 tấn/ha). Cùng với việc đưa nhiều giống lạc mới và các tiến
bộ KHKT nông nghiệp vào các vùng thâm canh lạc như phủ nilon, sử dụng các loại
phân bón, thuốc BVTV phù hợp, cho đến nay nhiều mô hình trình diễn SX lạc tại
22
Nghệ An đã đạt trên 5 tấn/ha… đang góp phần đáng kể vào việc nâng cao thu nhập
cho nông dân.
Tại xã Nghi Thịnh, hiện bà con đã làm gần 350 ha lạc L14, năng suất bình quân
năm nào cũng đều đạt từ 50 đến 54 tạ/ha. Tính ra mỗi ha, với giá lạc tại địa phương
là 18.000 đến 20.000 đồng/kg thì mỗi năm người dân ở đây chỉ thu nhập được từ
80 đến 90 triệu đồng/ha. Muốn nâng cao thu nhập, để có thể làm giàu ngay trên
diện tích đất chuyên canh lạc của mình bà con luôn phải luân canh thêm bằng vừng
hè thu và lạc L14 vụ thu đông thì mới có thể đạt thu nhập khoảng 120 đến 130
triệu đồng/ha.
Có thể nói, nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới và công thức luân canh: Lạc L14
vụ xuân + vừng hè thu + lạc L14 thu đông nên người dân ở đây đã từng bước thoát
nghèo. Công thức trên đã mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, giúp Nghi Lộc
từng bước chinh phục toàn bộ diện tích đất màu (3.500 ha) chuyển sang trồng lạc.
Cây lạc mới thực sự trở thành một trong những điều kiện quan trọng giúp người
dân vùng màu thuộc các xã ven biển của huyện Nghi Lộc vươn lên làm giàu và xây
dựng nông thôn mới.
5. Kết luận và Triển vọng phát triển của cây lạc
− Hiện tại cây lạc đã và đang trở thành một cây trồng giúp nhiều bà con nông dân cải
thiện được cuộc sống và từng bước vươn lên làm giàu , bởi năng xuất và hiệu quả
kinh tế mà nó đem lại , và nó cũng là loại cây dễ trồng , dễ chăm sóc ,không tốn
Thế giới
34.856.007
24