LUẬN VĂN
ĐỀ TÀI:
VĂN HÓA ĂN CỦA NGƯỜI
HÀN QUỐC
Thành phố Hồ Chí Minh
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến khẩu vị và văn hoá ăn của người Hàn Quốc
1.1. Yếu tố tự nhiên
- Vị trí địa lý và khí hậu
Ở Hàn Quốc xuất hiện nhiều sản vật quý hiếm tạo nên nhiều món ăn độc đáo, Phát triển hài hòa cùng với
cả thiên nhiên, xã hội và điều kiện môi trường
Với khí hậu mát mẻ quanh năm, đặc trưng của một đất nước vùng ôn đới, ở Hàn quốc người ta nuôi trồng
và sản xuất được rất nhiều loại thực phẩm theo mùa – chẳng hạn như các loại hạt, các loại đậu, rau củ quả
và hải sản. Cũng bởi vậy người Hàn nổi tiếng với rất nhiều món ăn từ các thực phẩm kể trên, với cách chế
biến và bảo quản đặc biệt như các loại nước chấm, kimchi, hải sản muối.
Với đặc điểm địa hình là núi và đồng bằng,biển cả chiếm phần lớn bề mặt bao quanh ba phía, đất nước
Hàn Quốc có một nguồn tài nguyên dồi dào về thủy hải sản, nông nghiệp với các kĩ thuật trồng trọt lúa
phát triển từ rất lâu đời.Vì thế mà những món ăn Hàn Quốc thường rất phong phú về nguyên liệu được lấy
từ thiên nhiên và do con người tạo ra, rất đầy đủ dinh dưỡng, thanh đạm nhưng không kém phần cao
sang,làm cho người ăn cảm nhận được tất cả các mùi vị của tự nhiên
1.2. Yếu tố con người
1.2.1. Tôn giáo
Nguồn gốc ẩm thực Hàn Quốc, đặc biệt là ẩm thực trong nhà chùa đều bắt nguồn từ sự tích của phật
Buddha. Nguyên lý chế biến các loại thực phẩm của Hàn Quốc là đảm bảo chất lượng nguyên thủy
của thực phẩm càng cao càng tốt, để tăng cường độ thơm, ngon, tự nhiên, tạo sự ngon miệng.Một
bằng chứng cụ thể chính là món sushi của Hàn,các nguyên liệu đều lấy từ thiên nhiên,chế biến làm
sao cho vẫn giữ được hương vị và màu sắc nguyên thủy của nguyên liệu. các phương pháp chế biến
này cũng rất đa dạng và phong phú , tùy thuộc theo phong tục , tập quán của từng vùng, miền nhưng
tựu chung vẫn hướng tới ba tiêu chí chính: thứ nhất là sạch sẽ hóa học hay thuốc trừ sâu. Hai là nhẹ
nhàng, nhẹ nhàng ở đây nói về hương vị, Ba là chú ý đến lời Phật Buddha dạy, có nghĩa là không nên
sắp quá nhiều, đủ dùng cho một bữa, hạn chế đồ thừa và lượng dưỡng chất vượt quá so với nhu cầu
cần thiết.
làm bằng củ cải và không dùng cải thảo, và kim chi oisobaegi (오이소배기) làm từ dưa chuột. Kim chi
kkaennip (깻잎) làm bằng lá kkaennip (en:perilla - một loại cây tương tự tía tô) muối trong xì dầu, ớt,
tỏi, hành và các gia vị khác. Bảo tàng về kim chi ở Seoul đã ghi nhận 187 loại kim chi từ xưa đến nay.
Nếu không có cải thảo hoặc cảm thấy loại cải thảo Triều Tiên có mùi quá hăng, người ta có thể làm kim
chi từ bắp cải thường, nhưng ít khi. Mùi vị của kim chi làm theo kiểu này có xu hướng nhẹ hơn và ít cay.
Sức khỏe và dinh dưỡng: Kim chi là món ăn kèm tinh túy luôn có mặt trên bàn ăn của người Hàn Quốc.
Tạp chí Sức khỏe của Mỹ đã từng gọi kim chi là một trong năm thực phẩm có lợi cho sức khỏe nhất của
thế giới, với khẳng định rằng món ăn này giàu vitamin, giúp tiêu hóa tốt và thậm chí còn có thể có tác
dụng phòng bệnh ung thư.
Ở Đông Á, đôi khi người ta cho rằng số ca bệnh SARS ở Hàn Quốc không cao là do thói quen ăn nhiều
kim chi, tuy rằng chưa ai xác lập được mối liên hệ rõ ràng giữa việc ăn kim chi và sức đề kháng đối
với SARS. Có một số bằng chứng cho thấy rằng kim chi có thể được dùng để chữa bệnh cúm cho gia
cầm. Các nhà khoa học tại Đại học Quốc gia Seoul nói rằng họ đã cho 13 con gà bị cúm ăn chất chiết từ
kim chi - và một tuần sau, 11 con bắt đầu khỏi bệnh.
Chính vì những tác dụng này mà kim chi ngày càng được ưa chuộng không những chỉ ở quê hương Hàn
Quốc mà đã vượt biên giới đi ra các nước trên thế giới. và Hàn Quốc đã được gắn với mỹ danh xứ sở kim
chi. Tuy không được làm từ những nguyên liệu đắt tiền nhưng kim chi xứng danh là món ăn truyền thống
tinh túy nhất của đất nước Hàn. Người Hàn Quốc thường nói rằng “Một bữa ăn không thể Kim Chi”.
I.1.2. Soondubu jjiggae ( Súp Đậu phụ hầm )
Món đậu phụ hầm với hải sản, hành tây, trứng và hạt tiêu tạo nên vị
nóng ấm.
Khi những cơn gió Siberia mang những luồng không khí lạnh tới Hàn Quốc cũng là lúc những món ăn ấm
nóng cùng vị cay đặc trưng trở thành lựa chọn số một để sưởi ấm “dạ dày” của người dân xứ sở Kim chi.
Soondubu jjigae là món hầm cay và đặc của Hàn Quốc. Được mệnh danh là một trong những món ăn
đường phố cay nhất. Soondubu jjigae đặc biệt phổ biến vào mùa lạnh và được coi như một món ăn làm
ấm người.
Thành phần: Súp được nấu từ đậu phụ, hải sản (tôm hoặc ngao, sò, hến) hoặc thịt, nấm, kim chi, rau,
hành và rất nhiều ớt. Người ăn thường đập quả trứng sống cho vào khi món hầm đang sôi.
Sức khỏe và dinh dưỡng: Món này mềm mại, dễ tiêu hóa, ngon và bổ dưỡng nên được người dân Hàn
Nhắc tới Hàn Quốc người ta sẽ nhắc tới món kim chi, rượu Soju và tất nhiên không thể thiếu được món
mì lạnh hấp dẫn. Với mùi vị độc đáo, riêng biệt, món ăn này đã làm nên nét đặc trưng trong văn hóa ẩm
thực của nước Hàn.
Từ lâu, mì lạnh xứ Hàn luôn là món ăn bán chạy nhất trong những ngày hè oi bức. Đúng như tên gọi, mì
lạnh mang lại cho người thưởng thức cảm giác mát mẻ dễ chịu. Không phải ngẫu nhiên người dân xứ Hàn
lại yêu thích món ăn này đến thế. Vị dai của từng sợi mì cùng với chút chua chua, ngòn ngọt và vị cay
nồng đã mang lại bát mì lạnh hấp dẫn với thực khách.
Thành phần: Nguyên liệu chế biến món mì lạnh thường có: mì, thịt bò, xương bò, hành tây, gừng, tỏi, lê,
giấm… Những bát mì mát lạnh có sợi cuộn tròn ở giữa bên trên là những miếng thịt bò thái mỏng và quả
trứng. Cùng với đó là lát dưa leo, cải trắng thái dài. Tùy vào khẩu vị ăn từng người để chọn nguyên liệu
phù hợp nhất.
Sức khỏe và dinh dưỡng: Đây là món bổ dưỡng, có tác dụng làm mát cơ thể vào những
ngày hè nóng bức nên nhận được hầu hết sự ưa chuộng của người Hàn Quốc cũng như
những du khách nước ngoài.
2. Đặc điểm văn hóa “ăn” của Hàn Quốc
2.1. Cách sắp đặt bàn ăn của người Hàn Quốc
Khi nhắc tới bữa ăn của người Hàn, hẳn bạn không thể không trầm trồ trước sự ‘hoành tráng’ với cả chục
món ăn được bày biện cẩn thận, không kể là bữa sáng hay bữa tối.
Bên cạnh việc nấu những món ăn và bổ dưỡng thì sự hiểu biết về việc sắp xếp bàn ăn là điều cốt yếu cho
việc tạo không khí thích hợp cho một bữa ăn. Nét đặc trưng nổi bật của cách bày trí bàn ăn Hàn Quốc là
tất cả chén đĩa đều được dọn ra cùng lúc . Các món ăn đòi hỏi phải được đặt gọn gàng theo vòng tròn
đồng tâm hay để song song theo hàng dọc và coi trọng tính thẩm mỹ. Màu sắc của món ăn cũng được thay
đổi xen lẫn và kết hợp hài hòa với nhau.
Theo cách truyền thống, số lượng của các món ăn trong bữa được dọn ra từ 3 cho các tầng lớp thấp hơn
và tới 12 cho các gia đình quý tộc . Cách bày biện bàn ăn có thể sắp xếp tùy thuộc vào có hay không món
mì hay thịt được dọn ăn . Các quy tắc trang trọng về việc sắp xếp bàn ăn vẫn tiếp tục phát triển, thể hiện
sự chú trọng của con người tới việc dọn thức ăn và bàn ăn . So sánh với Trung Quốc và Nhật Bản, thìa
được sử dụng nhiều hơn ở Hàn Quốc, đặc biệt là khi các món soup được dọn .
Người Hàn Quốc theo truyền thống (hiện nay nhiều người vẫn theo cách thức này) ngồi xếp bằng tròn
trên các miếng đệm quanh bàn ăn thấp. Một số nhà hàng truyền thống còn cung cấp ghế sàn với chỗ dựa
Khi ăn phải để muỗng ngửa lên như vậy
Trong trường hợp úp xuống nghĩa là nhà có tang
-Không cầm thìa và đũa trên 1 tay. Khi sử dụng đũa, đặt thìa xuống bàn ăn.
- Không gác hay đặt đũa hoặc thìa lên trên bát.
- Khi nhai không để phát ra tiếng.
- Chú ý không để đũa và thìa va vào bát gây nên tiếng động.
- Không dùng đũa và thìa để đảo cơm và thức ăn. Không lựa ra các thức ăn
mình không ăn và chớ nên giũ các gia vị tẩm ướp vào món ăn để gắp thức ăn.
- Khi ăn, không nên để thức ăn còn thừa lại trên đũa, thìa.
- Sau khi ăn xong, để đũa và thìa ngay ngắn vào vị trí ban đầu.
Những lưu ý khi Khi dùng bữa với người lớn
- Khi dùng bữa với người lớn, để họ ngồi phía trong, cách xa cửa ra vào.
- Giữ tư thế ngồi ngay ngắn trước mặt người lớn.
- Đợi người lớn cầm đũa lên trước sau đó mới cầm đũa lên. Nên giữ tốc độ ăn bằng người lớn.
- Sau khi người lớn đã dùng bữa xong và đứng lên, nên đứng lên cùng.
3. So sánh văn hóa “ăn” của Hàn Quốc và Việt Nam
Văn hoá có sức mạnh gắn kết con người, cộng đồng. Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều điểm tương đồng
về văn hóa. Nhiều người cho rằng, sở dĩ Việt Nam và Hàn Quốc có thể tăng cường và thắt chặt quan hệ
với nhau chính là do những điểm tương đồng về văn hóa ấy. Một trong những nét tương đồng dễ nhận
thấy đó chính là ẩm thực. Đối với cả người Hàn Quốc và Việt Nam, ẩm thực luôn đóng một vai trò quan
trọng trong nền văn hóa truyền thống lâu đời và đặc sắc. Ẩm thực không chỉ dừng lại ở các món ăn mà
kéo theo nó là nghệ thuật chế biến món ăn, nghệ thuật thưởng thức, tác phong ăn uống, tất cả đều thể hiện
cách ứng xử của con người trong tự nhiên (chọn nguyên liệu, cách chế biến) và trong xã hội (tác phong
khi ăn uống, thái độ với mọi người xung quanh khi ăn…).
2.1. Điểm tương đồng
2.1.1. Tính biện chứng và linh hoạt trong nghệ thuật ẩm thực
- Tính biện chứng
Người Việt Nam và người Hàn Quốc có tập tục ăn uống theo mùa, theo khí hậu. Người Hàn Quốc rất
thích món mộc tồn. Theo quan niệm của họ, thịt chó có tác dụng giải nhiệt trong mùa hè và giúp cơ thể
tăng sức đề kháng với các loại bệnh dịch. Thịt chó thường được chế biến thành một món xúp có tên gọi là
2.1.2. Tính tổng hợp trong nghệ thuật ẩm thực
- Cách chế biến
Hầu hết các món ăn Việt Nam và Hàn Quốc đều là sản phẩm của sự pha chế tổng hợp: rau này với
rau khác, rau với các loại gia vị, rau với cá tôm, thịt. Dù là các món bình dân, đơn giản hay các món cầu
kì đều được tạo nên từ rất nhiều nguyên liệu. Chúng tổng hợp lại, bổ sung lẫn nhau để cho chúng ta có
những món ăn có đủ ngũ chất: bột - nước - khoáng - đạm – béo, nó không những có giá trị dinh dưỡng
cao mà còn tạo nên một hương vị vừa độc đáo ngon miệng, vừa nồng nàn khó quên của đủ ngũ vị: chua -
cay - ngọt - mặn - đắng, lại vừa có vẻ đẹp hài hoà của đủ ngũ sắc: trắng - xanh - vàng - đỏ - đen.
- Phong cách ăn
Mâm cơm của Việt Nam dọn ra bao giờ cũng có đồng thời nhiều món: cơm, canh, rau, dưa, cá, thịt,
xào, nấu, luộc, kho… Suốt bữa ăn là cả một quá trình tổng hợp các món ăn. Bất kì bát cơm nào, miếng
cơm nào cũng đã là kết quả tổng hợp rồi: trong một miếng cơm có thế đã có đủ cả cơm - canh - rau - thịt.
Điều này khác hẳn cách ăn lần lượt đưa ra lần lượt theo lối phân tích của người phương Tây.
Cách ăn tổng hợp của người Việt Nam và Hàn Quốc tác động vào đủ mọi giác quan: mũi ngửi mùi
thơm ngào ngạt từ những món ăn vừa bưng lên, mắt nhìn màu sắc hài hoà của bàn ăn, lưởi nếm vị ngon
của đồ ăn. Cái ngon của bữa ăn Việt Nam và Hàn Quốc là tổng hợp cái ngon của mọi yếu tố.
2.1.3. Tính cộng đồng và tính mực thước trong nghệ thuật ẩm thực
- Tính cộng đồng
Bữa ăn của người Hàn Quốc và người Việt Nam là bữa ăn chung cho nên các thành viên trong bữa
ăn phải liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào nhau (khác hẳn với phương Tây, ai có suất người ấy, mọi
người hoàn toàn độc lập với nhau). Vì vậy mà trong lúc ăn uống, người Việt Nam và Hàn Quốc rất thích
chuyện trò (khác với người phương Tây, tránh nói chuyện trong bữa ăn.
-Tính mực thước
Tính cộng đồng đòi hỏi ở con người một thứ văn hoá cao trong ăn uống. Vì mọi người đều phụ
thuộc lẫn nhau nên phải ý tứ khi ngồi và mực thước khi ăn.
Bữa ăn tại nhà là thời điểm tụ tập cả gia đình. Theo truyền thống Hàn Quốc, người lớn tuổi nhất trong nhà
cầm đũa bắt đầu bữa ăn thì những người khác mới lần lượt làm theo. Khi ăn phải ngồi ngay ngắn, nhai từ
tốn, kín đáo và không nhấc bát lên khỏi bàn.
Còn với người Việt Nam, khi ăn cơm khách, một mặt phải ăn cho ngon miệng để tỏ lòng biết ơn và tôn
trọng chủ nhà, nhưng mặt khác, lại phải để chừa một ít trong các đĩa đồ ăn để tỏ rằng mình không chết
lãng phí hơn người Hàn. Người Việt Nam thường hôm nào cũng đi chợ, mua những đồ tươi sống để nấu
và không thích những thức ăn để lâu trong tủ lạnh. Và một số người Việt còn có cả thói quen ăn sáng ở
ngoài nữa.
Sau khi ăn xong, cả người Hàn và người Việt thường có thói quen ăn hoa quả, gọi là tráng miệng. Sau đó,
người Hàn thường uống một loại nước quế, hoặc cà phê còn người Việt mình lại hay uống trà.
Phong cách ăn của người Hàn Quốc rất phong phú, đa dạng, với nhiều món ăn mang nhiều hương vị đậm
đà mà rất thanh đạm mang một nét đặc trưng riêng của xứ sở kim chi, văn hóa ăn của người Hàn Quốc
cũng ảnh hưởng không ít đến sở thích ăn uống của người Việt Nam./.