LUẬN VĂN
ĐỀ TÀI:
Tín ngưỡng bản địa Hàn Quốc:
Thờ cúng thần linh
TPHCM
A – LÝ THUYẾT TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG:
I. Tôn giáo là gì?
“Tôn giáo (“religion”- Tiếng Anh) xuất phát từ thuật ngữ “legere” trong tiếng Latin có nghĩa là thu lượm
thêm sức mạnh siêu nhiên.”
Đã một thời, khái niệm về tôn giáo đã được các nhà nghiên cứu trong lãnh vực này đem ra bàn cãi rất
nhiều.
- Các nhà thần học cho rằng: “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”.
- Trong khi đó, một số nhà tâm lý học lại cho rằng: “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô
đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”.
- Bên cạnh đó cũng xuất hiện khái niệm được cho là dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm
tin vào cái siêu nhiên”.
- Nếu định nghĩa theo triết học hiện đại thì:
+ Theo C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái
tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”.
+ Theo Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực
lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày… ”
Như vậy, khái niệm về tôn giáo có thể phát biểu như sau: “ Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu
nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách
hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia.” Và niềm tin đó được biểu
hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa, phụ thuộc vào nội
dung từng tôn giáo. Nó được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng
cộng đồng xã hội khác nhau.
II. Tín ngưỡng là gì?
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình
an cho cá nhân và cộng đồng.
Trong thực tế ở nước ta, thuật ngữ “tín ngưỡng” dùng để chỉ niềm tin tôn giáo. Các nhà nghiên cứu đều
vào Đức Chúa, Đức Mẹ Đồng Trinh của đạo Kito, niềm tin vào Đức Phật Thích Ca của đạo Phật, niềm tin
vào thánh Ala của đạo Hồi,…
- Các hình thức tôn giáo tín ngưỡng này dù rộng hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù
cho mỗi dân tộc thì cũng đều là một thực thể biểu hiện niềm tin vào cái thiêng chung của con người.
2/ Nét khác biệt:
- So với tôn giáo, tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn .
- Không như tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ (tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ
nào đó thì có thể thành tôn giáo.)
- Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh
đường, học viện
- Tín ngưỡng chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết. Tín ngưỡng
mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian.
Về mặt lý luận không có sự phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng. Tất cả đều được gọi là tôn giáo, chỉ
có hình thái là khác nhau. Về mặt thực tiễn: mới có sự phân biệt.
B - NHỮNG YẾU TỐ VĂN HÓA BẢN ĐỊA HÌNH THÀNH YẾU TỐ TÂM LINH:
Như chúng ta đã biết, văn hoá truyền thống Hàn Quốc và văn hoá truyền thống Việt Nam có nhiều nét
tương đồng, một trong số đó là nét tương đồng trong tín ngưỡng tôn giáo.
Ngoài Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Kitô giáo là những tôn giáo phổ biến thì tín ngưỡng dân gian , một
loại tín ngưỡng xuất hiện từ thời cổ xưa mang nhiều tính đặc thù của văn hoá bản địa Hàn Quốc, cũng
thể hiện không ít những nét như vậy.
Tín ngưỡng dân gian Hàn Quốc hiện tượng tín ngưỡng dân gian đa thần có mặt ở Hàn Quốc từ thời cổ
xưa, tức tập tục cúng tế, bói toán, lên đồng. Theo các nhà nghiên cứu thì tín ngưỡng gian dân đa thần
của Hàn Quốc xuất xứ từ những tín ngưỡng Sibiri cổ xưa. Những người dân di cư từ các bộ tộc ở Sibiri
đã đem theo tín ngưỡng của họ đến bán đảo này từ thời tiền sử.
Tại đây những tín ngưỡng ấy đã trải qua quá trình phát triển và biến đổi lâu đời gắn với những hoàn
cảnh đặc thù của cuộc sống lao động và đấu tranh với thiên nhiên của những cư dân trên bán đảo Hàn
Quốc. Và trong quá trình phát triển nó cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và nhiều
tôn giáo ngoại lai khác. Vì vậy mà ngày nay tín ngưỡng dân gian Hàn Quốc vừa thể hiện những đặc thù
của văn hoá Hàn Quốc vừa mang nhiều nét phổ biến của văn hoá truyền thống phương Đông.
Người ta cho rằng mọi sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh từ mặt trời, các vì tinh tú đến núi
vượng.
a. Thần chủ
Thần chủ là vị thần có quyền lực cao nhất trong số các vị thần được thờ cúng trong nhà, biết được mọi
sự từ quá khứ đến tương lai.Thần chủ còn được gọi là Thánh chủ,có tên tiếng Hàn là 성주(成主 神)
(Seongju) hoặc 상량신(上樑神) (Sanglyangsin),성조(成造).
Khi gia đình muốn xây dựng nhà mới hoặc chuyển chỗ ở khác, họ phải đón thầy cúng đến làm lễ và mời
vị Thần chủ đến nhà mới. Người Hàn Quốc thường dâng hương tế thần đều đặn mỗi ngày giống như đối
với tục thờ cúng gia tiên.
Ở Hàn Quốc,mỗi vùng khác nhau lại thờ cúng một vị Thần chủ có hình dạng khác nhau:
+ Vùng huyện đảo Gyeonggi ( 경기도 ): người dân thờ Thần chủ dưới hình dạng những dây giấy dâu treo
trên xà nhà hay gấp hình vuông dán vào một cột trụ.
+Vùng 김방 (Gimbang) và 고양 (Goyang) : Thần ở dạng một miếng vải gai dầu treo lên xà nhà hoặc
hình quả bóng tròn đính trên một cây cột.
+ Một số vùng khác : người dân thờ thần là các bình đất đựng gạo. Vào mỗi mùa gặt người ta thay gạo
mới vào các hũ, sự thịnh vượng của gia đình được thể hiện qua việc nhà sẽ có bao nhiêu hũ và gạo.
b. Thần bếp 조왕신 ( 王神竈 ) (Jowangsin)
Thần bếp là một vị thần canh giữ nhà bếp,củi lửa.Người dân tin rằng vị thần này sẽ giúp họ làm thức ăn
được ngon hơn,cũng như giữ cho nhà bếp được an toàn,không bị cháy nổ,hỏa hoạn.
Thần bếp thường được thờ cúng dưới dạng một bát đựng nước,thường được đặt ở phía sau lò lửa hoặc
cạnh một bờ tường trong bếp.
Vào mỗi buổi sáng sớm, người phụ nữ trong gia đình sẽ múc nước giếng thay bát nước mới và cầu
mong một ngày may mắn thịnh vượng sẽ đến với cả gia đình. Vào các ngày cúng lễ, thần lửa cũng được
đặt trên bàn thờ ngang hàng với các vị thần khác. Ngày nay, mỗi khi dọn đến nhà mới, người Hàn vẫn
giữ phong tục đem những cục than lấy từ bếp nhà cũ đến bếp nhà mới. Khi tới thăm một gia đình vừa
chuyển đến nhà mới, khách sẽ đem theo quà là diêm và nến.
c. Tam thần bà
삼신 할머니 (三聖) (Samsin Halmeoni)
두꺼비 - Tukkeobi
So sánh việc thờ cúng các vị thần trong nhà giữa Hàn Quốc và Việt Nam
Ở Hàn Quốc và Việt Nam đều có các vị thần như thần bếp,thần tài,thần thổ địa Nhưng hình dạng và
cách thờ cúng ở mỗi nước thì hoàn toàn khác nhau.
a. Thần bếp :
+ Điểm tương đồng : cả Hàn Quốc và Việt Nam đều tin rằng đây chính là thần lửa, thần bếp cư trú trong
bếp của mỗi gia đình,giữ cho bếp núc,củi lửa được an toàn. Vì bếp là nơi người phụ nữ thường xuyên
làm việc, nên vị thần này cũng được gọi là bà và được các bà nội trợ thờ cúng.
+ Điểm khác biệt :
Hàn Quốc Việt Nam
Hình dạng thờ cúng :
Một bát nước sạch được đặt phía sau
bếp hoặc cạnh bờ tường.
Hình dạng thờ cúng :
Thông thường là một bàn thờ nhỏ đặt
ngay phía trên bếp nấu gồm một bát
nhang, một bình hoa, ba chiếc ly và một
khay hoặc đĩa để đặt lễ.Có nhà còn thờ
thêm hình ảnh một người đàn bà và hai
người đàn ông (Táo ông,táo bà) để
thêm trang trọng.
Nghi thức thờ cúng :
Mỗi sáng người phụ nữ của gia đình
thường thay bát nước mới để tế lễ.Vào
các ngày cúng lễ thì thần bếp được tế
lễ giống như các thần khác.
Nghi thức thờ cúng :
Hàng năm vào ngày 23 tháng 12 âm
lịch,người Việt lại cúng lễ đưa ông Táo
về trời,nghi thức tế lễ gồm có các vật
Việc tế thổ thần của người Hàn thường do
phụ nữ đảm nhiệm và được tiến hành vào
ngày lễ tết, những dịp kỷ niệm của gia đình.
Nghi thức thờ cúng :
Vào các ngày sóc, vọng, người Việt thắp
hương và khấn xin những điều liên quan mật
thiết đến cuộc sống thường nhật của họ.
c. Thần tài :
+Điểm tương đồng : Thần tài là vị thần giữ nhà và mang đến tài lộc,hạnh phúc cho những thành viên
sống trong ngôi nhà đó.
+Điểm khác biệt :
Hàn Quốc Việt Nam
Hình dạng thờ cúng :
Người Hàn Quốc thường thờ Thần tài dưới
hình dạng một con rắn (được gọi là 구렁이 –
Guleongi),hoặc có nơi là con chồn (족제비 –
Chokchebi) hoặc con cóc (두꺼비 – Tukkeobi)
trú trong ụ rơm tại sân sau, cạnh thần thổ địa
hoặc thậm chí là dưới hình dạng một món
canh sốt đậu
Hình dạng thờ cúng :
Thần tài được người Việt hình dung là một
ông già có bộ râu dài và khuôn mặt phúc hậu,
trên tay luôn cầm nén vàng.
Bàn thờ thần tài không được thiết lập trên
cao hoặc những nơi quang đãng trong nhà
như bàn thờ tổ tiên, thổ công, mà ở các xó
xỉnh, góc nhà hay hàng hiên.
Nghi thức thờ cúng :
Người Hàn chỉ thả các con vật nuôi trong ụ
dạng một ông già nhân từ với bộ râu trắng, ngồi trên một con hổ dưới cây thông. Bên cạnh đó là một cậu
bé dâng đào tiên ngụ ý sự trường thọ theo quan niệm Đạo giáo. Sơn thần không phải vị thần của một
ngọn núi cụ thể nào đó mà là thần của tất cả các ngọn núi. Người ta thờ vị thần này để mong được bội
thu mùa màng, khoẻ mạnh và sống lâu. Nhất là những người phụ nữ hiếm con thường cầu xin vị thần
này để sinh được con trai như ý muốn.
Thần nước: Hàn Quốc là một quốc gia bán đảo, nông nghiệp là một kế sinh nhai lâu đời. Chính vì vậy
mà nước là một yếu tố rất quan trọng trong đời sống của những cư dân nơi đây và được tôn thờ như
những vị thần. Có rất nhiều loại thần nước, tất cả các vị thần này đều được quan niệm bằng hình tượng
những con rồng (còn gọi là long theo âm Hán). Rồng được coi là sống trong những con suối, con sông,
dưới biển và trên trời- nơi chúng có thể kiểm soát các trận mưa. Vị Long thần (thần Rồng) vĩ đại nhất là
Long vương, hay vị vua của biển cả. Người Hàn Quốc có rất nhiều truyền thuyết về Long vương, về liên
hệ của Long vương với thế giới loài người.
Thần bảo hộ làng Jangseung
Ngýời Hàn Quốc có tập quán tôn thờ thần bảo hộ làng.
Hầu hết trýớc cổng các làng ở Hàn Quốc ðều có ðặt thờ vị
thần này. Ðây là một trong số những thần mà ðến nay,
ngýời dân Hàn vẫn tiếp tục thờ cúng và giữ nét vãn hóa
ðó.
1/ Khái niệm:
Jangseung ( 장 승 ) nghĩa là cột gỗ cao được vẽ
hoặc khắc lên đó biểu tượng của vật tổ. Tại các
ngôi làng Hàn truyền thống, Jangseung thường
được dựng ở cổng làng, được xem là những vị
thần bảo hộ cho cộng đồng dân cư của cả làng.
Thông thường Jangseung có cặp mắt to, chiếc
mũi phồng ra, răng lồi ra ngoài và đội mũ. Biểu lộ
tình cảm trên mặt Jangseung rơi vào hai đặc
điểm khác nhau. Một là vẻ mặt thần hộ mệnh hay
tokkaebi, mặt khác là hình dạng tự họa. Hai cách
thể hiện khác nhau này mang ý nghĩa cái nhìn
chiên đàn gặp Hwan ung xin được làm người. Hwan ung ban cho mỗi con hai mươi nhánh tỏi và một
nắm ngải cứu và bảo hãy ăn những thứ này, nếu có thể không nhìn mặt trời trong vòng một trăm ngày sẽ
có được hình dáng của con người. Gấu nhờ nhẫn nại chịu đựng nên trở thành một cô gái sinh đẹp là
Ung Nyo (cô gái gấu). Hổ vì không chịu được nên không biến thành người. Sau đó Ung Nyo vì muốn có
con mà trở lại gốc cây chiên đàn để cầu nguyện. gặp Hwan ung cảm động trước tấm lòng của Ung Nyo
và quyết định cưới nàng. Họ đã sinh ra người con trai và đặt tên là Dan gun (Đàn Quân). Đàn Quân lập
quốc ở lưu vực sông Daedong (Đại đông) và đặt tên nước là Choseon (Triều Tiên) - tương truyền vào
ngày 3-10-2333 trước CN”
Trong câu truyện thần thoại này có ba sự kiện quan trọng diễn ra tại cùng một địa điểm, đó là dưới gốc
cây chiên đàn. Đầu tiên là việc Hwan Ung chọn địa điểm hạ trần là nơi có gốc cây chiên đàn giải thích
cho việc trú ngụ của thần linh luôn được chọn ở những gốc cây. Tiếp theo là tình tiết gấu và hổ đến gốc
câu cầu nguyện mong thành người chứng tỏ ngay từ xa xưa, người dân đã biết dưới gốc cây chính là
nơi kết nối, dẫn lời cầu nguyện của mình đến bậc thần linh. Cuối cùng là tình tiết cô gái gấu Ung Nyo
đến xin có con với Hwan Ung dưới gốc cây này thể hiện quan niệm mọi bắt nguồn của sự sinh sôi, nảy
nở đều tụ họp tại đây. Chính qua những tình tiết này càng khẳng định, người Hàn ngay từ thuở xa xưa
đã coi cây chính là gạch nối thiêng liêng giữa trời và đất, giữa thần linh với con người. Vì vậy, việc họ lựa
chọn cây để khắc họa các vị thần Jangseung, vị thần bảo hộ dân làng, là điều hoàn toàn dễ hiểu.
Các học giả Hàn Quốc cho rằng, trước khi chịu ảnh hưởng của Nho giáo thì trong triết lí dân gian của
người Hàn đã có quan niệm sơ khai về tính hai mặt của sự vật cũng như tính đối lập giữa trời và đất, âm
và dương được thể hiện thông qua tính ngưỡng thờ tự
Jangseung, có ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa
Shaman.
2/ Cách thức tạo một Jangseung:
Hiễu rõ tầm quan trọng của việc tạo dựng một vị thần bảo hộ cho gia đình cũng như dân làng nên trong
việc làm Jangseung, người dân cũng hết sức chú ý. Các bước làm một Mộc Jangseung thường diễn ra
như sau:
Trước tiên, người đại diện dân làng và các nghệ nhân sẽ thực hiện một nghi thức cúng lễ rất thành tâm
và với suy nghĩ rất kỹ về một Jangseung thể hiện được nét cá tính riêng của làng. Sau đó, người ta lựa
chọn những cây gỗ phù hợp, chặt bỏ những phần không cần thiết, kể cả vỏ cây để chọn làm biểu tượng
thần linh. Tiếp đến, người nghệ nhân sẽ vẽ bản phác thảo bằng mực tàu lên cây, mặt thần luôn được đặt
Ngoài ra, với niềm tin rằng Jangseung là vị thần bảo hộ cho các ngôi làng nên những người rời làng ra đi
đều phải khai báo với vị thần này và người Hàn cũng tự giác làm điều này để cầu mong sự an toàn cho
suốt chuyến đi. Thậm chí, người Hàn còn tin rằng jangseung có chức năng ngăn ngừa bệnh truyền
nhiễm xâm nhập vào làng và giúp mùa màng bội thu.
Jangseung còn được xem như vị thần bảo vệ các thành phố, chùa chiền. Nhiều chùa dựng Jangseung
như một dạng hộ pháp để bảo vệ Phật pháp. Nhiều chính quyền trước đây đã cho dựng Jangseung
trước cổng thành để bảo vệ thành. Chính vì vậy, hình dáng của các Jangseung trong những ngôi chùa
thường thường giống với các vị Phật. Trong chùa, thông thường người ta thường dựng Thạch
Jangseung.
Jangseung tượng trưng cho sinh thực khí nam hoặc cả sinh thực khí nam và nữ, có thể mong ước sinh
sôi, duy trì nòi giống. Đây là một dạng tín ngưỡng thờ thần làng được hợp nhất với tín ngưỡng phồn
thực. Bất cứ ai đến đảo Jeju hiện nay cũng có thể nhận thấy sự hiện diện của harubang (vị thần bảo hộ
dân làng) dưới dạng tượng đá tạc hình ông già đội mũ. Thực tế, harubang là biến thể của sinh thực khí
nam, dấu vết còn lại là chiếc mũ (vật bất ly thân trên đầu của ông già).
Jangseung còn có vai trò như cột mốc xác định lãnh địa của làng. Thông thường, nếu người ta dựng
Jangseung ở cổng làng thì tự nhiên chỗ đó trở thành ranh giới. Sự xuất hiện cây Jangseung ở đó cũng
có ý nghĩa báo hiện nơi đó có làng xóm. Ở những làng mà ba bề là núi thì người ta dựng Jangseung ở
mặt còn lại, những làng vắng vẻ thì dựng Jangseung ở bốn phía.
5/ So sánh với Việt Nam:
Có thể nhận ra được những điểm chính trong loại hình văn hóa tín ngưỡng của tục thờ này ở Hàn tộc.
Trên cơ sở đó cho ra một số kết luận ban đầu về loại hình tục thờ Jangseung ở Hàn tộc (có so sánh với
tục thờ cây ở người Việt).
Về nguồn gốc: trước hết, việc thờ Jangseung của người Hàn xuất phát từ tín ngưỡng mộc thần của cư
dân nông nghiệp (trong đó có người Việt). Song ngay ở bản thân hiện tượng này cũng có sự khác biệt
với Việt Nam. Nếu như gặp những cây đa, cây si, cây gạo có cành lá xum xuê rậm rạp, người Việt
thường lập miếu, am hoặc có khi chỉ đặt một bát hương nhỏ ngay dưới gốc nó để thờ. Sau đó, cái cây
ấy sẽ trở thành chỗ linh thiêng (có thần linh cư ngụ) và không ai được phép quậy phá, nếu không sẽ bị
thần linh quở trách. Ngược lại, đối với người Hàn, từ cái cây ban đầu (người ta có thể chặt ở đâu đó)
qua quá trình đục đẽo, vẽ hay chạm khắc mới trở thành vị thần và được dựng lên. Như vậy, cái tự nhiên
ban đầu của cây không còn nữa. Vì là cây khô (chết) nên sự tồn tại của các mộc Jangseung không được
của người còn sống, nên cũng như Việt Nam và hầu hết các quốc gia Á Đông khác, từ xưa ở Hàn Quốc
đã hình thành một loại người được cho là có khả năng giao tiếp với thần thánh, với các linh hồn, đóng
vai trò kết nối thần thánh và con người, người sống và người chết. Những người này thực hiện những
Ở Hàn Quốc những người giữ vai trò trung gian trong tín ngưỡng dân gian tuy rất đa dạng nhưng có thể
được chia làm ba loại chính là thầy cúng, thầy tế và thầy bói.
Có hai loại thầy cúng, nữ gọi là mudang (무당 – Vu đường) và nam gọi là baksu (박수 – Pháp sư). Tuy
nhiên, ở Hàn Quốc hiện nay thầy cúng hầu hết là nữ, tức mudang. Tên gọi tôn kính dành cho thầy cúng
nữ là mansin (만신) với hàm nghĩa người có năng lực khống chế được hàng vạn linh hồn. Mudang cũng
được chia làm hai loại là mudang linh ám (Gangsin-mu - 강신무 - 降神巫) - Giáng thần vu và mudang
thừa kế (sesup-mu – 세습무 - 世襲巫) - Thế tập vu. Mudang linh ám là những người được coi là tự có
khả năng giao tiếp được với các linh hồn sau một biến cố đặc biệt nào đó, thường là sau một trận ốm gọi
là ốm linh (신병 – sinbyeong), còn mudang thừa kế là những mudang do thừa kế địa vị của người mẹ mà
có.
mudang (무당)
baksu (박수).
Các thầy cúng Hàn Quốc khi lên đồng, nhập hồn thường mặc trang phục ngược với giới tính của mình.
Mudang và baksu đều mặc bộ đồ có gắn những tua với những nhạc cụ phát ra tiếng kêu. Họ thường
dùng trống để thực hiện nghi lễ.
Thầy tế được gọi là jegwan(제관- 祭官 – Tế quan), đó là những người được chọn ra để đảm nhiệm việc
tế lễ trong các nghi lễ của làng. Thường thì người trưởng làng chọn ra ba người để thực hiện việc tế lễ
trong một nghi lễ nào đó. Người được chọn ra phải thực hiện những quy tắc đảm bảo sự thanh tịnh bản
thân cho đến hết kì lễ. Họ không được quan hệ tình dục, đặc biệt là không được giao tiếp với những
người phụ nữ đang trong kì kinh nguyệt, mới sinh con cũng như không được gần gũi thi hài người chết.
Sau khi được chọn họ phải cách li với gia đình và thực hiện các nghi lễ tẩy uế thân thể để chuẩn bị cho
buổi tế. Những nghi lễ của thầy tế vừa có yếu tố liên hệ chặt chẽ với nghi lễ của các bộ tộc Sibiri, vừa
mang nhiều yếu tố Khổng giáo.
jegwan(제관)
Ở Hàn Quốc có nhiều loại thầy bói: thầy bói may rủi được gọi là jeomjaengi (점쟁이 – Chiêm tinh) thầy địa
nói ở trên.
Chuyển nhà là việc khá trọng đại nên khi di chuyển chỗ ở, người Hàn Quốc thường chọn ngày lành
tháng tốt. Bởi thế người Hàn mới có câu khi chuyển nhà thì phải chọn “손 없는 날” (Soneobneunnal), tức
là ngày những ngày theo quan niệm của người xưa là không có ma quỷ hay thần ác hoạt động gây tổn
thất cho con người. Những ngày này thường được tính theo âm lịch. Và người ta cũng nói tuỳ vào từng
ngày mà các thế lực âm linh bị cho là đem điều xấu đến cho con người sẽ có mặt ở một trong các hướng
đông tây nam bắc. Biết được điều này để tránh đi thì sẽ thuận lợi hơn trong công việc. Theo người Hàn
Quốc thì những ngày 9, 10, 19, 20, 29, 30 âm lịch được coi là những ngày đẹp.
Hầu như trong mọi hoạt động của đời sống thường ngày, người Hàn Quốc hoặc ít hoặc nhiều vẫn còn
lưu giữ nhiều phong tục tập quán liên quan tới tín ngưỡng tâm linh. Khi mua đất, làm nhà thì phong thổ
luôn là yếu tố được xem xét trước tiên. Khi tự bắt đầu kinh doanh một công việc mới như mở công ty,
cửa hàng, quán ăn đều tiến hành làm lễ khai trương. Và dĩ nhiên ngày lành tháng tốt cũng sẽ được lựa
chọn cẩn thận. Một chiếc đầu heo to để nguyên, đã luộc chín đặt giữa bàn cùng với hoa quả bánh trái
được bày biện để cầu mong cho sự thuận lợi và thịnh vượng. Khách đến chia vui sẽ cài những tờ tiền
lên đó, chúc cho gia chủ kiếm được thật nhiều tiền.
Bàn cúng khai trương
3/ Một số lễ tế điển hình:
Tín ngưỡng dân gian Hàn Quốc có rất nhiều loại lễ, trong đó Burak-je (부락제 - Bộ lạc tế) là một trong những
lễ điển hình. Burak-je là hệ thống các lễ của làng được người ta chia ra làm hai loại chủ yếu: lễ trong gia đình
và lễ của cộng đồng. Trong mỗi loại lễ đó có sự kết hợp những yếu tố Khổng giáo nhấn mạnh vào quan hệ
huyết thống xen lẫn với tín ngưỡng đa thần bản địa.
Những lễ trong gia đình: gồm có các lễ thờ cúng ông bà tổ tiên theo nghi thức Khổng giáo. Trong các lễ
này có lễ sanogu-gut (산오구굿) và ogu-gut (오구굿) . Những lễ này được thực hiện đáp ứng theo yêu
cầu của gia đình, ví dụ như trong dịp tang ma hoặc lễ mừng tuổi trung niên. Lễ sanogu-gut dành cho
người còn đang sống còn lễ ogu-gut dành cho người chết.
ogu-gut (오구굿)
Những lễ của cộng đồng dong-ji (동지) theo kiểu Khổng giáo được tiến hành hai hoặc bốn lần trong một
năm. Một hội đồng gồm 10 jegwan được chọn ra từ những người lớn tuổi trong làng để tiến hành làm lễ. Nơi
hành lễ được bảo vệ nghiêm ngặt và đánh dấu bằng một mái che. Người ta còn đổ cát xung quanh để thể
Người Hàn Quốc hiện đại có thái độ hai mặt với tín ngưỡng dân gian. Một mặt, họ thấy loại hình tín ngưỡng
dân gian này là điều phiền toái, không phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại do bản chất mê tín dị
đoan của nó. Mặt khác, họ lại thấy tín ngưỡng dân gian là biểu hiện tính thống nhất của bán đảo Triều Tiên từ
góc độ tín ngưỡng tôn giáo và đó cũng chính là biểu hiện của tính thống nhất văn hoá. Qua tìm hiểu tín
ngưỡng dân gian của người Hàn Quốc ta thấy nó có rất nhiều nét giống với tín ngưỡng dân gian truyền
thống của người Việt Nam. Sự tương đồng về văn hoá ấy cũng là một yếu tố thuận lợi trong quá trình phát
triển quan hệ hợp tác giữa hai dân tộc Việt - Hàn./.
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Tôn giáo học. Đại học Sư phạm Thành phố Hồ chí minh - Khoa Giáo dục Chính trị.
Instructor: Lê Thanh Hà - Nguyễn Thị Thu.
2 Ngô Đức Thịnh chủ biên, Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2001.
3. Tạp chí VHNT số 324, tháng 6-2011. Tác giả: Bùi Thị Thoa (JANGSEUNG NÉT ĐẶC SẮC VĂN HÓA
HÀN QUỐC)
4. />5. naver.com
6. />7. />8. />Nam-Nhat-Ban-va-Han-Quoc-336/
9.
10. />11. />12. />