LUẬN VĂN
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU LỄ TẾT, LỄ HỘI TRONG
VĂN HÓA HÀN QUỐC
Thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Để có thể hiểu được khái niệm lễ Tết, lễ hội ta nên để ý rằng: "lễ Tết" gồm hai
từ "lễ" và "Tết" ghép lại; tương tự "lễ hội" cũng được tạo thành từ hai từ "lễ" và "hội".
Như vậy, để có thể hiểu được ý nghĩa mà "lễ Tết", "lễ hội" bao hàm chúng ta nên tìm
hiểu ý nghĩa của các từ: lễ, Tết, hội.
Ba từ lễ, tết, hội đều gốc Hán, dùng để chỉ một loại hình nghi thức, cũng là một
loại hình phong tục. Trong đời sống xã hội, ba hình thức này thường xâm nhập nhau,
khiến nhiều khi chúng như đồng nghĩa. Để tiện phân biệt những giống nhau và những
khác nhau giữa chúng nên tách ra từng biểu thị một. Do là những từ gốc Hán mà khi
tìm hiểu chúng, ta không thể không trở về với sự ra đời của chúng trong xã hội Trung
Hoa.
1. Lễ: ý nghĩa sử tính của Lễ khá phức tạp; đại thể như sau:
Ở Trung Hoa, bước chuyển từ thờ thần Tô-tem, mà chủ yếu là cầu bói trước khi
hành động, sang thờ thần tổ tông nhất nguyên được diễn ra từ thời Ân và được hoàn
thành là “Lễ” ở thời Chu (thế kỷ XII trước Công nguyên). Mỗi khi cúng tế thần tổ
tông, các gia đình thuộc thị tộc Chu (nhân) cũng như ngoài thị tộc Chu (thứ nhân và
dân) đều phải nộp vật phẩm gọi là tế lễ (lễ vật). Sau khi tế lễ, lễ vật được dành riêng
cho người thuộc thị tộc Chu hưởng và cũng tùy theo thứ tự trên dưới, lớn nhỏ, thân sơ
mà phân chia nhiều ít, ngon hay kém ngon. Thứ nhân là những người không thuộc thị
tộc Chu, gồm thợ thủ công, người làm nghề tự do, nông dân tự do và nô lệ (dân)
không được hưởng sự phân chia lễ vật (lễ Ký có câu: “Lễ bất há thứ nhân, hình bất
thương đại phu” là nghĩa ấy). Ngoài nghĩa chính của lễ là hành vi cúng tế thần tổ tông,
cầu phúc, lễ dần dà được mở rộng nghĩa đến lề lối phân chia sự đóng góp và sự hưởng
thụ vật cúng tế. Và như thế, trong tính trừu suất của nó, lễ là hình thức phép tắc để
phân biệt trên dưới, sang hèn, thứ bậc lớn nhỏ, thân sơ trong xã hội khi đã phân hóa
thành đẳng cấp, tức khi chế độ công xã tan rã, nhường chỗ cho chế độ nô lệ. Càng về
xem hát, nhạt xem bơi, tả tơi xem hội” là xuất phát từ tính vô số trò vui của hội. Hội
nhiều trò vui đến mức người xem ngược xuôi hết chỗ này sang chỗ khác, tả tơi cả
người, mà thiếu sự tả tơi ấy thì không vui thú được, thì hội nhạt. Tính vô số này gắn
liền với một phương diện tâm lý học công chúng hội: mỗi người trong cuộc sống hàng
ngày đều có những dồn nén cần được giải tỏa theo cách phù hợp với mình, thì hội, với
vô số trò vui của nó, có khả năng đáp ứng sự giải tỏa căng thẳng chồng chất của mỗi
công chúng đến hội. Mỗi người đến hội được tự do lựa chọn trong gian hàng “bách
hí” cái mình ưa thích nhất, kể cả gian hàng “công chúng thanh lịch muôn vẻ” từ muôn
phương kéo đến.
Đến đây, có thể dần dà qui nạp chúng thành những khái niệm, dù theo cách
hình thái.
- Lễ là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội hay tự nhiên, hư tưởng hay có
thật, đã qua hay hiện tại, được thực hành theo nghi điển rộng lớn và theo phương thức
thẩm mỹ, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ và diễn đạt thái độ của công
chúng hành lễ.
- Tết là một hành lễ vừa tượng trưng vừa thực tại đối với thời tiết là chủ yếu,
trong một thời gian định sẵn theo chu kỳ tự nhiên, để cầu thịnh vượng, an khang và
kích thích ý chí của người sản xuất trước mỗi thời tiết chính của việc sản xuất nông
nghiệp.
- Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một
địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện xã hội hay tự nhiên, nhằm
diễn đạt sự phấn khích, hoan hỷ của công chúng dự lễ.
CHƯƠNG II: LỄ TẾT Ở HÀN QUỐC
I. TẾT NGUYÊN ĐÁN – SEOL
Đối với người Hàn Quốc, Seollal mang một ý nghĩa đặc biệt hơn nhiều so với
đơn thuần chỉ là một ngày đánh dấu cho sự khởi đầu của một năm mới. Đây không chỉ
là quãng thời gian để tưởng nhớ và tỏ lòng kính trọng với tổ tiên mà còn là thời gian
cho mọi người đoàn tụ cùng gia đình. Vì vậy, sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi bạn
nhìn thấy mọi người mặc những bộ hanbok (trang phục truyền thống) đẹp mắt, hành lễ
trước tổ tiên hoặc chơi trò chơi dân gian, ăn những món ăn truyền thống ngon lành,
Buổi sáng ngày mùng 1 Tết, sau khi cả nhà tắm rửa vệ sinh sạch sẽ, mặc quần
áo cổ truyền, uống Gui Balki, một loại rượu bổ làm cho thính giác tinh nhạy, cả nhà
tiến hành lễ Charye - nghi lễ tạ ơn tổ tiên được tổ chức ở nhà người trưởng nam. Các
thành viên trong gia đình đứng trước bàn thờ với các món ăn đã được sắp sẵn theo
đúng lễ nghi. Đồ cúng cùng với rượu gạo được bày trên mặt bàn giữa nhà. Trên đó
cũng đặt các bài vị tổ tiên viết trên giấy sớ sẽ đốt đi sau khi cúng. Nghi lễ được bắt
đầu với việc cúi chào thật thành kính tượng trưng cho lời chào hỏi linh hồn tổ tiên, và
tiếp tục với nghi lễ thờ cúng và khấn vái, cuối cùng được kết thúc bằng nghi lễ lạy tạ.
Theo truyền thống, mỗi gia đình sẽ cúng bốn đời ông bà tổ tiên. Sau nghi lễ là đến
phần ăn cỗ.
Tteokguk (canh bánh gạo) là món ăn chính trong ngày Tết Seollal và người
Hàn Quốc tin rằng ăn canh bánh gạo là thêm một năm trong tuổi của một người. Mọi
người thường hỏi nhau: "Bạn đã ăn bao nhiêu bát tteokguk rồi?" để hỏi tuổi của một
người theo cách vui vẻ.
Sau bữa ăn, những người trẻ trong gia đình sẽ thể hiện lòng kính trọng của
mình với người lớn bằng cách hành lễ Sabae, và biếu quà tặng của mình. Người lớn
trong gia đình khi đó sẽ trao lời chúc của mình cho năm mới. Trẻ em thường nhận
được sebaetdon (tiền lì xì) trong ngày Tết Seollal. Sau đó, cả gia đình sẽ cùng chơi
nhiều trò chơi dân gian, ăn uống và kể chuyện.
Trong những ngày Tết mọi người sẽ cùng gia đình hoặc bạn bè đi chúc tết hàng
xóm, người thân, họ hàng, hoặc đi du xuân đây đó. Người Hàn thường treo Bok Jori
(một cái xẻng bằng rơm dùng để hốt thóc gạo rơi vãi) trước cửa nhà với mong muốn
nhận được phúc lộc quanh năm.
Câu chúc tết phổ biến của người Hàn trong dịp đầu năm: 새해 복 많이 받으세
요. (Mong nhận được nhiều phúc lành trong năm mới)
3. Văn hóa Ẩm thực (bao gồm cả đồ ăn để thờ cúng Thần, Phật và tổ
tiên)
Bàn về văn hoá Tết Nguyên Đán Hàn Quốc không thể không nhắc đến văn hoá
ẩm thực trong mối quan hệ chặt chẽ với các nghi thức thờ cúng Thần, Phật và tổ tiên.
Đồ ăn để cúng Thần, Phật, tổ tiên được các gia đình chuẩn bị từ trước Tết, bao gồm cả
sức tham gia vào các trò chơi truyền thống được tổ chức ở các nơi công cộng như các
trò: kéo co, thả diều, bập bênh và Yut-nori (một loại trò chơi trên ván gỗ dùng gậy),
trò Tuho (ném mũi tên vào bình), Jegichagi (giống trò chơi đá cầu). Tuy nhiên, những
trò chơi này đang phải nhường chỗ dần cho các trò chơi điện tử hiện đại và do đó cũng
đang đặt ra cho các ngành văn hoá, thể thao và kể cả giáo dục đào tạo của Hàn Quốc
cần phải có giải pháp thế nào để không bị mai một dần các trò chơi truyền thống đó.
5. Đối chiếu với Tết Nguyên Đán ở Việt Nam
Nhìn chung, Tết Nguyên Đán ở Việt nam và Hàn Quốc rất giống nhau do chịu
ảnh huởng của văn hóa Trung Hoa. Tuy nhiên, xét trên khía cạnh bản sắc văn hóa
riêng của từng dân tộc thì có một số điểm khác nhau. Đó là:
- Thời gian nghỉ Tết ở Việt Nam dài hơn ở Hàn Quốc, do quan niệm, phong tục
và đời sống sinh họat của 2 nuớc khác nhau.
- Lễ vật trên bàn thờ ở Việt Nam là bánh chưng và mâm ngũ quả (ở miền Nam là
bánh tét)
- Một số phong tục trong dịp Tết Nguyên Đán chỉ có ở Việt Nam như là: tục
chơi hoa kiểng, hái lộc đầu xuân, xông đất, mua muối mua lửa đầu năm, kiêng đổ rác
3 ngày Tết, xin chữ thầy đồ,…
II. TẾT ĐOAN NGỌ - DANO
Cùng với Tết Nguyên Đán (Seol) và Tết Trung Thu (Chuseok), Tết Đoan Ngọ -
Dano là một trong ba ngày lễ lớn nhất của Hàn Quốc. Mọi người có thể nghỉ ngơi thư
giãn, ca hát, vui chơi sau một mùa vụ để chuẩn bị bước vào giai đoạn mới.
1. Thời gian
Đối với người Hàn Quốc số 5 là biểu tượng của sức mạnh, sự cường tráng, cho
sức sống và sự thông thái, đồng thời ngày 5/5 với con số 5 được lặp lại 2 lần được coi
là một điềm may. Ngày lễ Dano cũng diễn ra vào ngày 5 tháng 5 âm lịch hàng năm,
sau khi thu hoạch lúa mạch và bắt đầu cấy lúa. Đây là lúc người dân Hàn cầu nguyện
cho một mùa màng bội thu, không bị sâu bệnh phá hoại.
2. Các phong tục, tập quán trong lễ hội
Theo phong tục, trong ngày lễ Dano, phụ nữ Hàn Quốc phải gội đầu bằng nước
cây diên vĩ đun sôi. Bởi họ tin rằng loại dầu gội đầu bằng thảo mộc này sẽ làm tóc
5. Đối chiếu với Tết Đoan Ngọ ở Việt Nam
Việt Nam và Hàn Quốc là 2 quốc gia châu Á chịu ảnh huởng khá nhiều từ văn
hóa Trung Hóa. Tuy nhiên ở mỗi quốc gia cũng luôn có những bản sắc đặc thù riêng
của họ. Lễ Tết Đoan Ngọ ở Việt Nam và Hàn Quốc tuy diễn ra vào cùng một thời
điểm nhưng bên cạnh những nét văn hóa tuơng đồng do cùng xuất phát từ những quốc
gia phuơng Đông thì cũng có một số điểm khác nhau do đặc thù riêng của từng dân
tộc.
Ở Việt Nam, Tết Đoan Ngọ không chỉ đơn thuần là ngày lễ để ăn mừng sau một mùa
vụ, hay để xua đuổi sau bọ mà vào ngày 5 tháng 5 Âm lịch hằng năm còn là ngày giỗ
Quốc mẫu Âu Cơ.
“Tháng Năm ngày tết Đoan Dương
Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang”
Ngày giỗ Mẹ Âu Cơ mùng 5 tháng 5 được cử hành rất long trọng ở một số nơi trong
nước Việt Nam; tuy không lớn như giỗ Tổ Hùng Vương; nhưng cũng có nhiều người
biết đến.
Ở vùng đồng bằng Nam Bộ Việt Nam thì ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch còn được gọi
là ngày "Vía Bà", thờ Linh Sơn thánh Mẫu trên núi Bà Đen.
III. TẾT TRUNG THU – CHUSEOK
1. Thời gian
Chuseok là một trong những Lễ hội lớn và nổi tiếng nhất Hàn Quốc, đó là thời
gian gia đình, bạn bè họp mặt thưởng thức những món ăn ngon và tận hưởng phút
giây đoàn tụ, dịp để con cháu tưởng nhớ và tạ ơn tổ tiên đã phù hộ cho một năm bội
thu. Chuseok còn được biết đến với tên gọi Hangawi - có nghĩa là giữa tháng 8 hay 15
tháng 8 âm lịch. Lịch sử Hàn Quốc là một xã hội phát triển nông nghiệp, Hangawi là
ngày người dân Hàn Quốc tạ ơn tổ tiên đã ban cho họ một năm bội thu và chia sẻ sự
dư dả của mình cho bạn bè, gia đình. Dù nguồn gốc chính xác của khởi nguồn
Chuseok vẫn chưa rõ ràng nhưng Chuseok có thể xuất phát từ một tôn giáo liên quan
đến mặt trăng từ thời cổ đại. Mặt trời được xem là hiện tượng tự nhiên, nhưng mặt
trăng tròn mỗi tháng chỉ có 1 lần chiếu sáng vào đêm tối trở thành hiện tượng tâm linh
được nhiều người sùng bái. Chính vì thế, nhiều lễ hội diễn ra vào ngày trăng tròn nhất
Kim Yusin thời Silla – người có công đóng góp vào lần đầu tiên thống nhất bán đảo;
Tăng lữ Beomil – tăng lữ xuất thân tại Gangneung, nhà lãnh đạo về mặt tinh thần của
những vị tổ tiên sáng lập ra triều đại Goryeo; một nữ nhân trong lịch sử hiện thân cho
sự đau khổ do thiên tai và những gian khổ trong cuộc đời
3. Văn hóa ẩm thực
Chuseok là thời điểm của mùa màng bội thu, có vô số trái cây và lúa mới để
làm ra bánh gaọ, cơm nếp, rượu truyền thống hấp dẫn mọi người.
a. Songpyeon
Songpyeon là một trong những món ăn nhẹ được xem là đại diện của ẩm thực
xứ Hàn. Món bánh gạo này được làm từ nguyên liệu gạo hoặc bột gạo không dính
được nhào và cắt thành những miếng bánh có kích thước vừa phải sau đó cho vào
nhân vừng, đậu, đậu đỏ, hạnh nhân và các loại thực phẩm bổ dưỡng khác. Khi hấp
Seongpyeon, lớp đáy của bánh gạo là lớp thông lá kim đem lại cho bánh gạo mùi
hương thanh khiết. Vào đêm giao thừa của Chuseok, toàn thể gia đình tụ tập làm
Seongpyeon dưới ánh trăng sáng. Theo truyền thống Hàn Quốc, người làm ra chiếc
bánh Seongpyeon đẹp nhất nhà sẽ gặp ý trung nhân có ngoại hình bắt mắt, chính vì
vậy những thành viên còn độc thân trong gia đình sẽ cố gắng để làm Seongpyeon thật
đẹp trong tiếng cười đầm ấm vui vẻ.
b. Thức uống chứa cồn
Một trong những yếu tố chính của Chuseok là đồ uống có cồn, thức uống
truyền thống của Chuseok được làm bằng gạo mới vừa thu hoạch và được gọi là thức
uống Vạn Niên. Những người dân Hàn Quốc quanh năm mong chờ đến ngày Chuseok
cũng rất giàu lòng hào hiệp, họ đều thích chia sẻ thức uống ngon lành này với mọi
người, dù là người nhà, bạn bè hay du khách.
4. Trò chơi truyền thống
a. Ssireum
Xem phần Tết Nguyên Đán.
b. Ganggangsulae
Các bà mẹ và những cô con gái diện hanbok - trang phục truyền thống Hàn
Quốc - tụ tập thành vòng tròn, tay nắm tay và cùng ca hát. Điệu múa này xuất phát từ
Tết Nguyên Đán, tương đương với tết Nguyên Tiêu của Việt Nam. Ngày lễ này được
tổ chức vào ngày trăng tròn đầu tiên trong năm sau ngày lễ 설날.
- Các hoạt động trò chơi truyền thống, ý nghĩa.
+ Lễ hội lửa:
Vào ngày rằm tháng giêng, người ta thường tập trung lại và bày nhiều trò chơi
thú vị, trong số đó là trò xoay vòng lửa. Họ vừa đi vừa quay 1 cái lon được chất đầy
than hoặc củi đã đốt cháy để tạo ra những vòng lửa. việc tạo ra vòng lửa được tin rằng
sẽ xua đuổi được tà ma, và làm cho thú dữ khiếp sợ mà bỏ đi, ngoài ra họ còn tin đó là
cách để đốt đi xui rủi của năm cũ.
+ Đập các loại hạt cứng:
Hầu hết các bạn đã biết, các loại hạt có vỏ cứng không được luộc hay đun nấu
trong suốt 1 năm thì sẽ trở nên khô và cứng cáp hơn. Và việc đập vỡ các loại hạt chưa
được đun như óc chó, hạt thông, đậu phộng…được tin rằng trong suốt 1 năm bản thân
người đập cũng sẽ cứng cáp, khỏe mạnh như chúng, ngoài ra, âm thanh có được lúc
đập hạt còn có thể làm ma quỷ khiếp sợ không dám quẩn quanh xung quanh họ.
+ Vũ điệu mặt trăng:
Được gọi là “bước chân vào thánh địa của mặt trăng”, điệu múa này thường
được múa dưới trăng, xuất phát từ những lần hội họp xa xưa của dân làng, những hoạt
động tập thể…tượng trưng cho nghi lễ thanh tẩy của làng, và xua đuổi ma quỷ. Ngoài
ra còn là điệu múa mong cho 1 năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Trong
nghi lễ này, đặc biệt sử dụng loại trống có tên là 풍물 (1 trong bốn loại trống truyền
thống của Hàn Quốc khi biểu diễn 사물놀이)
Các món ăn truyền thống và ý nghĩa.
+ Cơm ngũ cốc:
Cơm ngũ cốc gồm gạo, đậu đỏ, đậu tương, hạt kê và lúa miến. ăn cơm ngũ cốc
không những đem lại nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe mà còn là ước vọng một
năm bội thu.
+진채식:
Những loại rau quả đã được làm khô trong mùa thu như cây cúc tây, bí ngô, cà
tím, củ cải khô,…đun sôi và làm thành bữa ăn được gọi là 진채식. Người ta nói rằng,
Trong các loại đèn thì đẹp nhất là đèn kéo quân. Người ta đưa vào lồng đèn kéo
quân những công cụ để có thể tạo ra hình những con vật như chó ăn, chó soi, nai…
trên giấy, và khi có gió lên thì các con vật đó di chuyển cứ như thự sự chúng đang
chạy vậy.
+ Lễ gội đầu cho đức phật nhi:
Phật Đản còn có 1 sự kiện đặc biệt nữa là lễ tắm gội cho đức phật nhi. Người ta
tin rằng khi đức phật được sinh ra thì có 9 cái đầu là đầu rồng nên lễ tắm gội cho đức
thích ca mâu ni từ đó mà xuất hiện.
Khi trời bắt đầu tối người dân xung quanh vùng, hoặc khách đến chơi sẽ tập
hợp lại thành vòng tròn và đi xung quanh 1 cái tháp được cho là khi đức phật viên tịch
thì cái tháp đó là nơi cất giữ xá lợi của đức phật. Đó được xem là cách họ tham dự lễ
tắm gội cho đức phật nhi, phần lớn họ đọc kinh mừng đức phật ra đời, đồng thời họ
cầu xin bình an, phước lành cho bản thân, gia đình.
Các món ăn:
+ 느티떡:
Mừng ngày đức phật được sinh ra thì có những món ăn đặc biệt được làm để
dâng Phật và ăn. Theo lời phật dạy thức ăn không được quá xa hoa mà chỉ cần đơn
giản, đặc biệt là không được ăn thịt, cá, hoặc sử dụng thịt cá làm thức ăn dưới mọi
hình thức. Và loại thực phẩm phổ biến nhất là 느티떡. 1 loại bánh 떡 được làm từ lá
cây Zelkova hay còn gọi là cây cử được giã nhuyễn, trộn với bột gạo.
III. 하회별신굿탈놀이 (múa mặt nạ tỉnh 경복 thành phố 안동 làng 하회)
- Nguồn gốc:
Từ giữa thế kỷ 12, múa mặt nạ đã xuất hiện ở tỉnh 경복 thành phố 안동 làng 하
회. Người làng 하회 tin rằng điệu múa này sẽ đem lại bình yên cho ngôi làng, đẩy lùi
bệnh tật, xua đuổi ma quỷ, và cứ 10 phải tổ chức 1 lần, ngược lại, làm trái đi họ sẽ bị
các vị thần nơi đây trừng phạt.
Người ta nói ban đầu mặt nạ ở làng Hahoe gồm có 12 cái, nhưng đến nay chỉ còn
lại 9 cái, 3 mặt nạ bị thất lạc, nay chỉ còn được biết dưới những cái tên Ch’onggak,
Ttoktari, và Pyolch’ae.
Bắt đầu lễ hội múa mặt nạ ở làng 하회 thường là lễ rước mặt nạ từ nơi cất giữ
Ngoài ra còn nhiều các lễ hội khác như: lễ hội đậu nành lên men Sunchang, lễ hội
văn hóa lúa gạo Incheon, lễ hội jagalchi Busan, lễ hội rượu và bánh gạo Gyeongju, lễ
hội tuyết trên núi 대백,…
CHƯƠNG 4: NHỮNG ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA LỄ TẾT, LỄ HỘI HÀN
QUỐC
Lễ Tết của Hàn Quốc dù có nhiều nghi lễ và phong tục khác nhau nhưng đều
thể hiện tính chất linh thiêng và đặc trưng văn hóa của cư dân nông nghiệp từ xa xưa.
Trong lễ Tết Hàn Quốc người thấy rõ sự tôn kính các thế hệ gia tiên, sự tôn trọng các
hình thức cúng bái theo những nguyên tắc quy định.
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, ra đời và phát triển trong
xã hội loài người.
Hàn Quốc trước đây cũng là một nước nông nghiệp, điều kiện đất đai, khí hậu,
tự nhiên thường xuyên tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Con người
luôn phải tìm cách gần gũi với thiên nhiên, chinh phục tự nhiên. Cuộc sống cộng
đồng, đặc biệt là tổ chức làng có một sự cố kết đời này qua đời khác, ko chỉ trong quá
khứ mà cả hiện tại, với những lực lượng, những giá trị vô hình quyện với hữu hình
hiện thực mà con người hướng tới. Chính vì điều đó mà lễ làng là một hoạt động sinh
hoạt tín ngưỡng truyền thống quan trọng. Nó không chỉ ở trog quá khứ mà vẫn còn tồn
tại đến ngày nay.
Người ta thường quen dung thuật ngữ gộp là lễ hội. Ở đây tách ra thành 2 hình
thức khác nhau là lễ và hội, trong phạm vi làng gọi là lễ làng và hội làng.
Lễ làng là một di sản văn hóa phong phú ở Hàn Quốc. Người Hàn Quốc hay
sung kính các thần linh. Trong sung kính này có ý nghĩa tín ngưỡng có khía cạnh tôn
giáo với nhiều hình thức khác nhau tương ứng với nhu cầu cá nhân và với đặc điểm
mỗi thần. Chẳng hạn trong gia đình thì có thần sinh nở, thần đất, thần gia súc …
thường dduwwocj khẩn cầu bới cá nhân hay cả gia đình. Thuộc phạm vi làng thì có
các vị thần hộ mệnh làng, thần phù trợ… được khẩn cầu trên một cơ sở thường xuyên
của tất cả các cư dân trong làng. Tuy nhiên trong một hoàn cảnh hoặc dịp nào đó mà
cá nhân có nhu cầu lễ thần làng thì cũng có thể thực hiện. Vị thứ của các thần cũng
khác ở Việt Nam.
khuyết trong tính cách, đại diện cho cả làng và là người trong năm trước không chịu
tang ai trong gia đình. Trong thời kì ưu tiên cao điểm của lễ, những người này phải tẩy
sạch ý nghĩ và cơ thể qua cầu khẩn và tắm nước lạnh. Lúc này cũng quy định cho sự
tẩy rửa cho cả làng. Bên cạnh đó thì cũng có rất nhiều điều kiêng lỵ cần phải tuân theo
như không được sát sinh, hya làm việc gì gây ô nhiễm, dơ bẩn. Nước dung trong nghi
lễ cũng phải được chuẩn bị kĩ càng. Những người được chọn thì phải thận trọng trong
tùng lời ăn tiếng nói của bản thân. Nếu như lễ làng phải đi qua một vùng khác, những
ai đang có bụi hoặc sát sinh thì cấm vào làng cho đến tận khi nghi lễ kết thúc. Đế
đựng thức ăn cho nghi lễ phải mới, thức ăn được chuẩn bị phải tươi ngon và thịnh
soạn. Thịt bò thường dùng trong đại lễ, thịt lợn dùng trong tiểu lễ.
Nghi lễ thường được tổ chức vào ban đêm, thường bắt đầu vào nửa đêm. Sau
phần nghi lễ thì dân làng sẽ tụ tập ca múa nhảy hát, đó là phần hội. Phần hội là một
hình thực thể hiện lòng biết ơn của họ đối với các vị thần đã phù hộ cho họ, đó như là
sự hiến dâng, món quà đền đáp các vị thần và hy vọng các vị thần sẽ tiếp tục phù hộ
cho làng. Lễ càng lớn thì hội kèm theo càng lớn. Việc tổ chức làng vì vậy cũng góp
phần vào việc tạo ra nghệ thuật diễn xướng ở Hàn Quốc.
Lễ làng là một sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống. Những nghi lễ được tiến
hành là biểu hiện của niềm tin của người dân gửi gấm vào các thần. Người dân Hàn
Quốc tin vào mọi điều , vào động vật, thiên nhiên… tất cả những gì liên quan đến
cuộc sống của họ. Vì vậy mà bên cạnh thờ thần núi, thần sông…họ còn thờ cả động
vật như chim, rồng, hổ…thậm chí thờ cả một số địa điểm, cây cối mà họ cho là linh
thiêng. Tài liệu cổ từ thời Koryeo đã viết rằng “Nhân dân không dùng thuốc mà cầu
trời khấn phật khi đau ốm”. Điều này chỉ ra rằng người dân có niềm tin tuyệt đối vào
sức mạnh của các vị thần của họ.
Lễ làng cũng là một sinh hoạt cộng đồng có ý nghĩa được mọi người sống trong
làng cùng chia sẻ. Người dân cùng gặp gỡ, chia sẻ niềm vui, tôn vinh các vị thần, ước
mong một cuộc sống tốt đẹp. Sự gắn bó quá khứ với hiện tại, niềm tin hy vọng và hoài
niệm như kết liền làm nên sức mạnh của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Lễ làng vì thế
đã đưa đến cho nhân dân tình cảm, sự gắn bó và giá trị tinh thần chung, trong đó đáng
chú ý là tinh thần gắn bó với cội nguồn, tình thân hữu. Người đi xa thì đến lễ lớn của