Nghiên cứu khoa học DUNG HỢP TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN Ở CHÙA PHẬT TÍCH - Pdf 13

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VIỆT NAM HỌC VÀ TIẾNG VIỆT
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
DUNG HỢP TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG
DÂN GIAN Ở CHÙA PHẬT TÍCH
Hà nội, 2013
Giảng viên hướng dẫn: TS. Lê Thị Thanh Tâm
Sinh viên thực hiện : Đào Thị Thơm
Khóa : K56 - Việt Nam học
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do nghiên cứu 1
2. Mục êu nghiên cứu 2
3. Phạm vi nghiên cứu 2
4. Lịch sử nghiên cứu 2
5. Phương pháp nghiên cứu 4
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CHÙA PHẬT TÍCH 5
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của chùa Phật Tích 5
1.2. Giá trị văn hóa của chùa Phật Tích 8
1.2.1. Giá trị giáo dục của chùa Phật Tích 8
1.2.2. Giá trị nghệ thuật của chùa Phật Tích 9
1.2.3. Giá trị du lịch của chùa Phật Tích 10
CHƯƠNG II: DUNG HỢP TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN QUA PHƯƠNG DIỆN KIẾN TRÚC VÀ
ĐIÊU KHẮC 11
2.1. Kiến trúc ngôi chùa Phật Tích 11
2.2. Tượng phật A Di Đà 14
2.3. Tượng Hộ Pháp (Bát bộ kim cương) 15
2.4. Tượng Người Chim 15
2.5. Chân cột chạm dàn nhạc 16

cũng như nghiên cứu những nét văn hóa độc đáo của chùa Phật Tích sẽ là một
trong những đóng góp cho việc đi sâu vào tìm hiểu đời sống tâm linh của người
dân vùng Kinh Bắc nói riêng cũng như của người Việt Nam nói chung trong tiến
trình dung hợp giữa tín ngưỡng bản địa với các nền văn hóa lớn.
Từ quá trình khảo sát và qua những hiểu biết trên, chúng tôi đã chọn
nghiên cứu đề tài: “Dung hợp tôn giáo và tín ngưỡng dân gian ở chùa Phật
Tích” nhằm có cái nhìn tổng quát hơn về vị trí, vai trò, giá trị của chùa Phật
Tích đối với nền văn hóa dân tộc.
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đi sâu vào làm rõ quá trình dung hợp tôn giáo mà chủ yếu là Phật giáo
và tín ngưỡng dân gian ở chùa Phật Tích trên cả hai phương diện tín ngưỡng hóa
Phật giáo và Phật giáo hóa tín ngưỡng dân gian.
- Thông qua việc nghiên cứu quá trình dung hợp tôn giáo và tín ngưỡng
dân gian của người Việt cổ để khẳng định tầm quan trọng và giá trị của chùa
Phật Tích. Hơn thế nữa, còn tạo cơ sở lý luận cho việc quy hoạch và thực hiện
những chính sách bảo tồn và phát huy những giá trị của chùa Phật Tích cũng
như các ngôi chùa Việt cổ.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu chùa Phật Tích qua các triều đại và niên đại lịch sử.
- Nghiên cứu và tìm hiểu quá trình dung hợp tôn giáo và tín ngưỡng dân
gian của người Việt cổ qua mô hình chùa Phật Tích từ các phương diện: Kiến
trúc, điêu khắc, truyền thuyết và lễ hội.
4. Lịch sử nghiên cứu
Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy có khá nhiều tác giả và nhiều nghiên cứu
quan tâm đến vấn đề dung hợp giữa tôn giáo với tín ngưỡng bản địa, song những
nghiên cứu đó có những cách tiếp cận khác nhau như: lịch sử văn học, mỹ thuật
học hay văn hóa học, và hầu như là tập trung tiếp cận ở phạm vi vĩ mô, chỉ tập
trung nghiên cứu tôn giáo hoặc tín ngưỡng một cách riêng biệt. Bài “Phật giáo
với sáng tạo nghệ thuật ở chùa Phật Tích” trong cuốn sách“Mỹ thuật Lý – Trần,

những giá trị văn hóa của chùa Phật Tích, là di sản phong phú, đồng thời còn
khẳng định vai trò của các thiền sư cũng như của chùa Phật Tích đối với nền
Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là dòng Thiền Lâm Tế nói riêng trong lịch sử Phật
giáo Việt Nam. Với chủ đề như vậy, chùa Phật Tích được các nhà khoa học, các
nhà nghiên cứu tiếp cận dưới góc nhìn của lịch sử học, từ đó đi nghiên cứu
những giá trị văn hóa của ngôi chùa.
Thông qua quá trình đọc và tìm hiểu, đề tài chúng tôi đã kế thừa những
kết quả nói trên, đồng thời củng cố thêm những lý luận về vấn đề tôn giáo, tín
3
ngưỡng cũng như quá trình dung hợp tôn giáo với tín ngưỡng dân gian ở chùa
Phật Tích.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu được thu thập ở nhiều nguồn như:
internet, sách, báo, tạp chí….
- Phương pháp nghiên cứu khảo sát thực địa tại khu vực nghiên cứu và
tiến hành phỏng vấn đối tượng có liên quan như: Trụ trì chùa, các sư trong chùa,
người dân xung quanh khu vực chùa.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vì đề tài liên quan đến yếu tố tôn
giáo, triết học, văn hóa, văn học… nên người viết cố gắng áp dụng nhiều cách tư
duy, lý luận khác nhau để làm sáng tỏ vấn đề.
4
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CHÙA PHẬT TÍCH
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của chùa Phật Tích
Chùa Phật Tích hiệu là Vạn Phúc tự, nằm ở phía Nam núi Phật Tích (hay
còn gọi là núi Lạn Kha) thuộc thôn Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh
Bắc Ninh. Chùa Phật Tích nằm ở địa bàn diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Phật giáo Ấn
Độ và tín ngưỡng dân gian Việt cổ, cùng với chùa Dâu đã hình thành nên trung
tâm Phật giáo Luy Lâu được nhận định là trung tâm Phật giáo có trước cả trung
tâm Phật giáo Lạc Dương và Bành Thành của Trung Quốc. Theo cuốn sách
“Phật giáo với văn hóa Việt Nam của tác giả Nguyễn Đăng Duy”có đưa ra

song song với quá trình tín ngưỡng hóa Phật giáo để Phật giáo Việt Nam mang
màu sắc riêng của văn hóa Việt Nam.
Phật Tích nằm ở địa bàn diễn ra sự dung hợp của Phật giáo và Tín
ngưỡng. Dựa theo nhiều tài liệu, thì có thể cho rằng, chùa Phật Tích là một trong
những ngôi chùa phát tích của đạo Phật ở Việt Nam, là cái nôi của Phật giáo
Việt Nam. Trong “lịch sử Phật giáo Việt Nam” cũng ghi lại rằng: Vào thế kỉ V
và VI, khu vực núi Tiên Du là một trung tâm Phật học lớn, là nơi tập trung và
giảng đạo của nhiều thiền sư như Đạt Ma Đề Bà, Tì Ni Đa Lưu Chi….
Chùa Phật Tích được xây dựng năm Đinh Dậu 1057 dưới thời vua Lý
Thánh Tông. Theo văn bia đá “Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi” năm Chính Hòa thứ
bảy dưới thời vua Lê Hy Tông (1686) được đặt ở sân chùa có khắc: “Năm Long
Thụy Thái Bình thứ tư (1057), vua thứ 3 nhà Lý là Lý Thánh Tông đã cho xây
dựng ngôi chùa hiệu Vạn Phúc Tự, cất lên cây tháp quý cao ngàn trượng, lại
dựng pho tượng mình vàng cao 6 thước, cấp cho hơn trăm thửa ruộng xây chùa
chẵn trăm tòa. Trên đỉnh núi mở ra tòa nhà đá, cấp trong điện tự nhiên sáng
như ngọc lưu ly, điện ấy đã rộng là to, sáng sủa lại lớn. Trên bậc thềm đằng
trước có bày mười con thú, phía sau có Ao rồng, gác cao vẽ chim Phượng và
sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, lầu rộng và tay rồng với tới tận trời cao,
cung Quảng vẽ hoa nhị hồng…”. Không những vậy, trong quá trình tu sửa, tôn
tạo ngôi chùa năm 2008, khi khai quật móng tháp, các nhà khảo cổ học đã tìm
thấy những viên gạch nung có khắc “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ
niên tạo”. Từ những công trình khai quật như vậy, đã xác định rõ hơn về niên
6
đại của ngôi chùa. Chính vì thế, Chùa Phật Tích là một công trình kiến trúc và
điêu khắc độc đáo mang đậm nét của thời Lý. Phật giáo dưới thời Lý được coi
trọng nên vì vậy mà chùa Phật Tích được xem như là một trong những ngôi chùa
có vị trí và vai trò quan trọng, có tính chất quốc gia, vừa là nơi lễ phật của vua
quan, vừa là hành cung cho các vua nghỉ ngơi, tĩnh tâm. Năm 1071, trong một
lần về Chùa thưởng ngoạn, vua Lý Thánh Tông đã tự tay viết chữ Phật dài một
trượng sáu thước và sai khắc dựng để ở chùa Phật Tích. Trải qua 8 đời vua thời

Trị triều Nguyễn cũng cho trùng tu lại Chùa.
Sang thế kỷ thứ XX, thời Pháp thuộc, chùa Phật Tích bị phá hủy hoàn
toàn năm 1947; những công trình kiến trúc, điêu khắc đều bị hư hỏng bởi đạn
pháo của quân xâm lược. Tuy nhiên, chùa vẫn lưu giữ được một số cổ vật có giá
trị mang tầm cỡ quốc gia. Sau khi hòa bình lập lại cho đến nay, thì chùa Phật
Tích vẫn được khôi phục và tôn tạo dần. Năm 1959 và năm 1986 chùa được
dựng lên khá đơn giản để làm nơi giữ gìn pho tượng A Di Đà nghìn năm tuổi.
Năm 1962, chùa Phật Tích được xếp hạng là một trong những di tích lịch sử văn
hóa đặc biệt cấp quốc gia, và thường xuyên được tu bổ, tôn tạo và giữ gìn. Vì
vậy, ở những giai đoạn sau, chùa Phật Tích được tiến hành trùng tu một số gian
nhà như tòa Tam Bảo, nhà Tổ, và nhà Mẫu…. Đến năm 2008, trong quá trình tu
bổ, chùa đã phát lộ được móng tháp, được xác định là xây dựng dưới thời Lý,
trước công trình khảo cổ như vậy, chùa được xếp vào dự án, tu sửa với quy mô
lớn và là một trong những công trình kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long.
1.2. Giá trị văn hóa của chùa Phật Tích
Cùng với những thăng trầm của lịch sử dân tộc, cùng với sự phát triển
hưng thịnh cũng như những giai đoạn suy tàn của Phật giáo, chùa Phật Tích đã
để lại những giá trị văn hóa phản ánh rõ nét những hoạt động đời sống tâm linh
của người dân vùng Kinh Bắc nói riêng và của người Việt nói chung, những giá
trị ấy phản ánh phần nào hành trình dung hợp tôn giáo với tín ngưỡng dân gian
của người Việt cổ.
1.2.1. Giá trị giáo dục của chùa Phật Tích
Phật giáo từ Ấn Độ truyền bá vào Việt Nam với giáo lí và đạo đức của
một tôn giáo chính thống đã dung hợp với đời sống văn hóa, chính trị, tín
8
ngưỡng và đạo đức truyền thống của người Việt để hình thành một hệ tư tưởng
từ bi, hỉ xả, cứu khổ cứu nạn. Chính vì vậy, những ngôi chùa được xây dựng lên
nhằm mục đích hướng thiện, cầu cho quốc thái dân an. Chùa Phật Tích cũng
vậy, ngay từ khi được xây dựng lên, chùa đã giữ một vai trò quan trọng, đó là
nơi mà các nhà sư giảng đạo, thuyết pháp cho các bậc vua quan hoặc cho tu sĩ.

Tiếp theo là nền móng tháp được phát hiện cùng với nhiều cổ vật khác
như: Đầu rồng, chim thần, tượng nữ thần mình chim Kinnari có phần giống với
nghệ thuật Chămpa.
Ngoài ra, khoảng hơn 30 ngôi tháp thờ các vị tổ sư đã trụ trì ở chùa Phật
Tích, được xác định là có niên đại dưới thời Lê – Trịnh khoảng thế kỉ 17-18.
Những cổ vật được tìm thấy ở chùa Phật Tích mang giá trị vô cùng quan trọng,
không những để xác định niên đại của ngôi chùa, mà còn xác định được phong
cách nghệ thuật được sử dụng trong những điêu khắc đá ở chùa.
1.2.3. Giá trị du lịch của chùa Phật Tích
Với lịch sử tồn tại hàng nghìn năm, hệ thống cổ vật đầy giá trị và cùng với
các hoạt động nghệ thuật diễn xướng, các trò chơi dân gian như: Cờ người, hát
quan họ, hát chầu văn được tổ chức vào dịp lễ hội (ngày mùng 4 tháng giêng),
chùa Phật Tích dần được biết đến là một đại danh lam Phật giáo có khả năng
phát triển du lịch, thu hút khách thập phương về chiêm bái, lễ Phật cũng như
nghỉ ngơi tĩnh tâm.
Chùa Phật Tích còn là nơi mà các giới chuyên ngành khoa học xã hội đến
để tìm hiểu và nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng, mỹ thuật, cũng như các hướng
nghiên cứu khác.
10
CHƯƠNG II: DUNG HỢP TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
QUA PHƯƠNG DIỆN KIẾN TRÚC VÀ ĐIÊU KHẮC
Chùa Phật Tích là một trong những ngôi chùa tháp còn giữ được nhiều cổ
vật có đặc điểm kiến trúc, điêu khắc độc đáo của thời Lý. Đó là những sáng tác
mỹ thuật Phật giáo. Tuy nhiên, những sáng tác mỹ thuật này không hoàn toàn
mang màu sắc của Phật giáo Ấn Độ mà ngược lại nó là sự tổng hòa chắt lọc của
những yếu tố văn hóa ngoại lai khác với yếu tố văn hóa bản địa, nó thể hiện sức
sáng tạo nghệ thuật của con người Việt Nam lúc bấy giờ một cách độc đáo và
khéo léo. Nó thể hiện ngay ở những điêu khắc tượng tròn, ở cách bài trí của một
ngôi chùa hoặc ở những hoa văn chạm trổ vô cùng điêu luyện, sống động. Một
cái gì đó mang dáng dấp của hồn người Việt. Dưới đây là một số công trình kiến

trong 4 di hài tượng táng thiền sư ở Việt Nam. Ngay khi truyền bá vào Việt Nam
(tại Luy Lâu), Phật giáo đã dung hợp với tín ngưỡng nguyên thủy của người
Việt cổ. Với truyền thống canh tác nông nghiệp, người Việt từ xưa đã hướng tới
tín ngưỡng thờ các hiện tượng tự nhiên. Phật giáo với giáo lý, đạo đức của mình
đã bám rễ vào tín ngưỡng dân gian này để phát triển. Vì vậy, tín ngưỡng Mẹ
(thông qua câu chuyện nhà sư Khâu Đà La và nàng Man Nương) được nảy sinh.
Dần dần, tín ngưỡng thờ Mẫu, Nữ thần cũng tác động vào trong chùa, chùa Phật
Tích có 7 gian thờ Mẫu, việc đưa Mẫu lên tôn thờ làm cho các sinh hoạt tâm
linh của nhân dân khu vực này trở nên nhộn nhịp hơn.
Là một ngôi chùa phản ánh khá đầy đủ các hình thái tín ngưỡng dân gian
của người Việt theo hướng kiến trúc “nội công ngoại quốc”, các ban thờ trong
chùa được bày trí theo lối “tiền Phật hậu Thần”, đã chứng tỏ tín ngưỡng đa thần
cũng đã được hỗn dung với yếu tố Phật giáo. Nó thể hiện bằng việc thờ trời
(Thiên lôi), thờ đất (Thổ địa), các vua Lý, Trần cũng được thờ tự ở chùa. Ngoài
ra, chùa còn thờ những người có công trong việc tu bổ, tôn tạo chùa như: Thờ bà
chúa Trần Thị Ngọc Am ngay bên cạnh Tam Bảo chính điện.
12
13
CÁC
VỊ
LA
HÁN
CÁC
VỊ
LA
HÁN
VUA

BÁT BỘ
KIM

ĐỨC
THÁN
HIỀN
ÔNG
ÁC
ÔNG
THIỆN
ĐỨC
ÔNG
THẬP
DIỆN
DIÊM
VƯƠNG
BÁT BỘ
KIM
CƯƠNG
THÁNH
TĂNG
LỐI VÀO
Sơ đồ vị trí các tượng thờ trong chùa Phật Tích (năm 2008)
2.2. Tượng phật A Di Đà
Tượng phật đá A Di Đà có thể được coi là một minh chứng lịch sử “thành
- trụ - hoại - không” của chùa Phật Tích. Với niên đại khoảng 1000 năm tuổi, khi
chùa bị phá hủy trong kháng chiến chống pháp thì pho tượng cũng bị bắn phá
gãy đầu, thân tượng với nham nhở những vết đạn. Dân làng xung quanh đã cất
giữ đầu pho tượng khi chùa được xây dựng lại sau ngày giải phóng thì đầu
tượng được đưa về chùa để chắp sửa hoàn chỉnh.
Tượng đá phật A Di Đà gồm 2 phần: phần tượng được tạc riêng 1 khối đá,
ở thế ngồi tĩnh tọa kiết già, mình tượng cao 1,87m ngồi tọa trên một tòa sen;
phần bệ đá với những chạm chổ điêu luyện, cùng với phần tượng thì tổng thể

Pháp ở chùa Phật Tích lại có vẻ đẹp của một con người mạnh mẽ, kết hợp với vẻ
đẹp của trí tuệ. Tượng được tạc ở thế chống kiếm (mang dáng động), mặc giáp
phục theo kiểu quan võ, trên áo giáp chạm nổi những bông hoa nhỏ với nếp áp
tuôn chảy, dáng tượng rướn về phía trước, dáng áo bay về phía sau như có sự
chuyển động. Tượng Hộ Pháp cũng lấy vẻ đẹp của con người, đó là vẻ đẹp
cường tráng của thanh niên.
2.4. Tượng Người Chim
Đây là những pho tượng tròn, cỡ trung bình, là sự kết hợp giữa cái đẹp
của con người và vẻ đẹp của chim để tạo nên một nhân vật huyền thoại Kinnari
trong thần thoại Ấn Độ.
Tượng người chim đậu trên đế vương dùng để trang trí mặt ngoài của
tháp. Phần người của tượng được thể hiện với khuôn mặt đầy đặn, hiền từ, lông
mày cong thanh mảnh, hai gò má bầu bĩnh, ngực nở, hai tay đang vỗ trên mặt,
chiếc trống cơm đeo trước ngực, từ hai nách mọc ra đôi cánh chim xòe rộng
đuôi dài hất ngược lên, hai chân cứng khỏe với móng cong sắc, ở phần thân
được tạc những bông hoa nhỏ.
Nhìn toàn diện thì tượng người chim là hình ảnh của thần nhạc công với
việc đeo chiếc trống cơm nhạc cụ trong âm nhạc Phật giáo.Ttượng đã phản ánh
được sinh hoạt của người dân vùng Kinh Bắc. Hơn nữa nó còn phản ánh ước mơ
thoát khỏi trần tục của con người.
15
2.5. Chân cột chạm dàn nhạc
Các bệ đá được tìm thấy ở chùa Phật Tích đều cùng một kiểu dáng gồm 2
phần: phần trên mặt tròn đặt trên khối hộp vuông. Mặt trong được điêu khắc
theo hình mẫu của hoa sen nở tung với những cánh sen cong úp. Điều đặc biệt là
ở mỗi cánh sen đều có một đôi rồng chầu uốn mình mềm mại, không vảy, đó là
đặc trưng của rồng thời Lý. Ở giữa là vòng sáng nhọn bốc lên từ đóa sen tượng
trưng cho sự thịnh vượng nơi đất Phật. Hai bên vòng sáng là chạm trổ đối xứng
hình những con người với những nhạc cụ vừa múa vừa tấu nhạc (mỗi bên gồm 5
nhạc công) với trống cơm, đàn tranh, đàn tì bà, đàn thập lục, tiêu, sáo… Nhạc

trưng cho kẻ chở phật pháp đến với chúng sinh, tê giác tượng trưng cho sức
mạnh từ bi”
2.7. Vườn tháp sau chùa
Phía sau ngôi chùa là khoảng hơn 30 ngọn tháp, bao gồm 9 tháp được làm
bằng đá và hơn 20 tháp gạch xếp theo thứ tự. Các ngọn tháp này được xây dựng
ở đời Trần, chủ yếu là 3 tầng, riêng tháp Phổ Quang dựng năm cảnh trị thứ 2
(1664), tháp Viên Dung (1679) cao 4 tầng, có kiến trúc thể hiện đất vuông, trời
tròn, âm và dương.
Kiến trúc của tháp theo kiểu nhỏ dần, dưới to trên nhỏ. Tháp có hình
vuông 4 cạnh bằng nhau. Tầng giữa thường là cao hơn tầng 1 và tầng 3, đỉnh của
tháp được tạc theo kiểu lăng trụ, 4 mặt có cửa và chỉ có 1 cửa chính thật để
thông vào trong. Bên trong tháp đều tạc 1 pho tượng đá của các vị hòa thượng
đắc đạo. Trước cửa tháp đều ghi rõ niên đại và tên bằng chữ Hán.
Nhìn chung, Phật giáo dưới thời Trần vẫn được phát triển mạnh mẽ,
những ngôi tháp ở chùa Phật Tích là minh chứng rõ ràng, tuy nhiên mật độ tập
trung những ngôi tháp này không lớn, nhưng phần nào thể hiện được sự ưa
chuộng của nhân dân ta với Phật giáo. Nó còn phục vụ cho quá trình nghiên cứu
lịch sử của Phật giáo ở nước ta.
2.8. Một số công trình kiến trúc điêu khắc khác
Bên cạnh những công trình điêu khắc như trên, thì còn phải kể đến những
công trình khác như Ao rồng, hay móng tháp được khai quật với khối lượng
gạch và chân móng đồ sộ….
17
Trước hết, Ao rồng, được đào ở cấp nền thứ 3 cùng vườn tháp, Ao rồng
có chiều dài 7m, rộng 5m, sâu 2,5m, 4 mặt đều được kè bằng đá tảng, vuông góc
với nhau ở tấm bia “Vạn Phúc đại thiền tự bi” có khắc: “… phía sau có ao rồng,
gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, lầu rộng và tay
rồng với tới tận trời sao, cung Quảng vẽ hoa nhị hồng…” từ Ao rồng có thể
hình dung được những yếu tố tín ngưỡng được hoa nhập trong 1 quần thể khu
vực chùa đó là những yếu tố: thủy, mộc, thổ… những hiện tượng của tự nhiên

và lưu truyền từ đời này qua đời khác. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam và tôn
giáo chủ yếu dựa trên niềm tin, sự tôn sùng nên khi di chuyển vào trong văn học
dân gian thì sẽ được hình tượng hóa qua những diện mạo, mô típ khác nhau.
Hoặc thông qua sáng tác văn học dân gian để phát triển thành lễ hội, tín ngưỡng
dân gian hỗn dung với Phật giáo để phát triển thành lễ hội chùa vừa mang sắc
thái của nhà Phật, vừa có yếu tố dân gian trong đó được thể hiện qua các trò chơi
như: Cờ người, hát văn gắn với tín ngưỡng hầu đồng, hát quan họ trên thuyền
thể hiện tín ngưỡng thờ đất, nước, trời.
3.1. Truyền thuyết “Từ Thức gặp tiên”
Do nằm ở vị trí đắc địa của ngôi chùa, từ lâu trong dân gian đã lưu truyền
nhiều truyện cổ tích, huyền thoại. Trong đó, có truyền thuyết về mối tình giữa
tiên như Giáng Hương với viên quan Tri huyện Từ Thức (truyền thuyết này có
từ thời nhà Đường (thế kỷ VII) ở Trung Hoa được dân gian ta tiếp thu) như sau:
Trong một lần dạo chơi ở trần thế của tiên nữ Giáng Hương qua chùa Phật
Tích, thấy dưới chùa mở hội cùng với cảnh đẹp vốn có của chùa, nàng dừng lại
và vãn cảnh chùa chẳng may làm gẫy (nhiều tài liệu cho rằng hái trộm hoa) hoa
mẫu đơn, nên bị các sư nhà chùa bắt giữ. Từ Thức khi đó là quan tri huyện, cũng
đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp tiên nữ Giáng Hương bị bắt trói bèn cởi áo xin tha
19
cho tiên nữ, chiếc áo trở thành vật đính ước. Khi tiên nữ đi rồi, Từ Thức ngày
đêm tưởng nhớ, chàng bỏ quan đi tìm, sau khi du ngoạn các danh lam thắng
cảnh đến động núi ở cửa biển Thần Phù thì gặp lại tiên nữ Giáng Hương nhưng
vì chàng là người cõi trần, nàng là tiên cõi trời nên hai người không thể ở bên
nhau lâu, Từ Thức phải trở về cõi trần.
Từ câu chuyện kể dân gian trên, có thể thấy được những yếu tố văn hóa
cùng lúc xuất hiện. Trước hết đó là sự xuất hiện của lớp tín ngưỡng dân gian
thông qua lễ hội hoa mẫu đơn, vậy lớp văn hóa thứ hai là sự xuất hiện của yếu tố
Phật giáo là tiên nữ. Một số nghiên cứu cho thấy yếu tố tiên và Bụt ít nhiều có
mối liên hệ với nguồn gốc Phật giáo. Mặc dù tiên có thể là tên gọi những nhân
vật thuộc về thế giới Đạo giáo, song với cách nói cách hiểu truyền thống của

rút quẻ đầu năm thường được tổ chức trong nhà thờ Mẫu.
Ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch hàng năm cũng trở thành ngày lễ hội trong
chùa, đây là ngày giỗ sư tổ Chuyết Chuyết Hòa Thượng, có điều đặc biệt là ngày
giỗ được tổ chức vào ngày đản sinh chứ không phải là ngày viên tịch. Yếu tố thờ
cúng tổ tiên cũng được phản ánh qua những nghi lễ của nhà Phật, một nghi lễ
trang trọng trong ngày giỗ sư tổ đó là lễ tắm Phật được thực hiện nhằm cầu cho
quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, sức khỏe và hạnh phúc.
21
KẾT LUẬN
Là cái nôi của nền Phật giáo Việt Nam, chùa Phật Tích đã cùng với chùa
Dâu hình thành nên trung tâm Phật giáo mang màu sắc văn hóa Việt Nam. Với
sự tồn tại và phát triển của mình, chùa Phật Tích đã phần nào minh chứng cho
quá trình phát triển của Phật giáo Việt Nam.
Ở mỗi một triều đại, chùa Phật Tích mang những vai trò khác nhau nhưng
hội tụ lại, chùa được xem là một trung tâm văn hóa lớn, là đại danh lam của đất
nước. Không những vậy, chùa Phật Tích còn thể hiện rõ nét những hoạt động
tâm linh mang tính chất tinh thần của không chỉ người dân kinh Bắc nói riêng
mà còn của cả người dân Việt Nam nói chung, đồng thời những giá trị của chùa
còn phản ánh quá trình hỗn dung giữa những nền văn hóa lớn với những yếu tố
tín ngưỡng bản địa. Sự dung hợp đó được biểu hiện ở những phương diện như:
kiến trúc, điêu khắc, văn học dân gian và lễ hội.
Đối với kiến trúc điêu khắc, đó là sự kết hợp của những hình ảnh đời
thường với hình ảnh của nhà Phật, nó thể hiện ra ở những pho tượng được điêu
khắc tỉ mỉ, mang màu sắc những sáng tạo nghệ thuật Phật giáo, mà ngược lại nó
sáng tạo không dập khuôn của con người, cũng như văn hóa Việt Nam, mà nổi
bật nhất đó là pho tượng A Di Đà vừa mang yếu tố của Phật giáo, nhưng được
thể hiện bằng hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam.
Bên cạnh, quá trình dung hợp còn được thể hiện ở sự kết hợp giữa truyền
thuyết và lễ hội qua những nghi lễ của nhà Phật với những hoạt động sinh hoạt
dân gian như: các trò chơi dân gian (cờ người, đánh đu….), các loại hình nghệ

14. Trần Ngọc Thêm (1996). Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. NXB TP. Hồ
Chí Minh.
15. Trần Ngọc Thêm (2005). Cơ sở văn hóa Việt Nam. NXB Văn hóa thông tin.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status